Đề Xuất 12/2022 # Giới Thiệu Khái Quát Thị Xã Hà Tiên / 2023 # Top 17 Like | Tuvanduhocsing.com

Đề Xuất 12/2022 # Giới Thiệu Khái Quát Thị Xã Hà Tiên / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giới Thiệu Khái Quát Thị Xã Hà Tiên / 2023 mới nhất trên website Tuvanduhocsing.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thị xã Hà Tiên thuộc Tỉnh Kiên Giang, được thành lập theo Nghị định 47/1998/NĐ-CP ngày 08/7/1998 của Chính phủ, trên cơ sở tách ra từ huyện Hà Tiên cũ.

Thị xã Hà Tiên nằm về hướng Tây – Bắc của tỉnh Kiên Giang. Phía Bắc giáp Campuchia, phía Đông giáp huyện Giang Thành, phía Nam giáp huyện Kiên Lương, phía Tây giáp huyện đảo Phú Quốc và vịnh Thái Lan, có đường biên giới trên đất liền dài 13,7 km, đường bờ biển dài 26 km. Thị xã Hà Tiên là một dải đất có vị trí nằm nơi cửa sông, ven biển, có nhiều dạng địa hình như: vũng, vịnh, đồng bằng, đồi núi, sông rạch, hang động, hải đảo… Thị xã có 09 di tích được công nhận trong đó có 05 di tích cấp Quốc gia và 04 di tích cấp Tỉnh. Là trọng điểm về du lịch của tỉnh Kiên Giang và vùng Tây Nam bộ.

Thị xã Hà Tiên có 03 dân tộc chính là Kinh – Khmer – Hoa. Đây là vùng đất có bản sắc văn hóa rất đặc thù và đa dạng, được hình thành cách đây hơn 300 năm, gắn liền với tên tuổi dòng họ Mạc. Khi Mạc Cửu đến khai phá và quy phục Chúa Nguyễn ở Đàng trong vào năm Mậu Tý – 1708 và được Chúa Nguyễn Phúc Chu sắc phong làm Tổng binh Trấn Hà Tiên, tước Cửu Ngọc Hầu và người kế vị là Mạc Thiên Tích – con trai trưởng của Mạc Cửu, đã xây dựng Hà Tiên thành một vùng đất trù phú, phố thị sầm uất, giao thương với nhiều nước, đời sống người dân ấm no, an lạc. Hơn thế nữa, Mạc Thiên Tích còn thành lập và làm Chủ soái Tao đàn Chiêu Anh Các quy tụ nhiều học sĩ, thi nhân đến làm thơ, xướng họa. Đây là Tao đàn được các nhà nghiên cứu lịch sử văn học đánh giá là Tao đàn lớn thứ hai, sau Tao đàn Nhị thập bát tú của Vua Lê Thánh Tông lúc bấy giờ.  

Hình ảnh: Hà Tiên xưa

Đã từ lâu, Hà Tiên luôn là một địa chỉ thân thuộc đối với ai yêu lịch sử – văn hóa, đất nước và con người Nam Bộ. Hà Tiên – miền biên thùy tận cùng phía Tây Nam của tổ quốc, tuy địa dư không lớn lắm, nhưng được thiên nhiên ưu ái ban tặng nhiều cảnh quan tươi đẹp và thơ mộng đã đi vào thơ ca, tiêu biểu là tác phẩm Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên Tích: 

“ Mười cảnh Hà Tiên rất hữu tình,

Non non nước nước gẫm nên xinh.

Đông Hồ, Lộc Trĩ luôn dòng chảy,

Nam Phố, Lư Khê một mạch xanh.

Tiêu Tự, Giang Thành, chuông trống ỏi,

Châu Nham, Kim Dự cá chim quanh.

Bình San, Thạch Động là rường cột,

Sừng sựng muôn năm cũng để dành ”.

Và một trong những người con ưu tú của mảnh đất Hà Tiên – nhà thơ Đông Hồ đã miêu tả nét đẹp của thiên nhiên Hà Tiên: “Ở đây kỳ thú thay có như hầu đủ hết ! Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng Sơn, một ít đảo đá chơi vơi giữa biển của Hạ Long. Có một ít núi đá vôi của Ninh Bình, một ít thạch thất sơn môn của Hương Tích. Có một ít Tây Hồ, một ít Hương Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc Ninh, một ít lăng tẩm của Phú Xuân. Có một ít Đồ Sơn, Cửa Tùng ; một ít Nha Trang, Long Hải”…Tất cả đã tạo nên một Hà Tiên xinh đẹp, yên bình, có sức thu hút, hấp dẫn du khách gần xa. Hàng năm, Hà Tiên đón gần 2 triệu lượt du khách đến tham quan, hành hương chiêm bái các chùa chiền và nghỉ dưỡng.

Hình ảnh: Đông Hồ toàn cảnh

Ngoài ra, Hà Tiên còn là cửa ngõ đường biển đến một số nước trong khu vực như Campuchia, Thái Lan, Maylaysia,…Thị xã Hà Tiên đang triển khai thực hiện các chính sách ưu đãi khu kinh tế cửa khẩu, có cửa khẩu Quốc tế nằm tiếp giáp với Campuchia cả trên đất liền và trên biển, cách tỉnh Campốt 60km và cảng Kép 20km (của Vương quốc Campuchia); rất thuận lợi trong việc phát triển kinh tế biên mậu với Campuchia, hoặc quan hệ với Thái Lan qua đường thuỷ, đường bộ (theo tuyến đường xuyên Á); khoảng cách từ Hà Tiên đến đảo Phú Quốc dài 45km, đến khu công nghiệp Ba Hòn – Hòn Chông (huyện Kiên Lương) dài 20km, cách thành phố Rạch Giá và thị xã Châu Đốc tỉnh An Giang khoảng 90km, cách Thành Phố Hồ Chí Minh khoảng 340km. Từ đó có thể khẳng định: vị trí địa lý của Hà Tiên rất thuận lợi cho phát triển kinh tế nội địa liên huyện, liên vùng và xuất nhập khẩu với các nước trong khu vực. 

          Về hành chính, thị xã Hà Tiên có diện tích tự nhiên là 10.048,83 ha (đất nông nghiệp 7.475,96 ha, chiếm tỷ lệ 74,40%; đất phi nông nghiệp 2.370,59 ha, chiếm tỷ lệ 23,59%; nhóm đất chưa sử dụng 202,29 ha, chiếm 2,01%, chủ yếu đất bãi bồi có mặt nước ven biển, núi đá không có rừng cây). Thị xã Hà Tiên được chia thành 04 phường là Tô Châu, Pháo Đài, Đông Hồ, Bình San và 03 xã là Mỹ Đức, Thuận Yên và Tiên Hải (riêng xã đảo Tiên Hải bao gồm 14 đảo, còn gọi là quần đảo Hải Tặc). Dân số toàn thị xã có 49.011 ngườì, cùng với 3 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer sinh sống từ rất lâu đời, trong đó dân tộc Kinh chiếm 84,8% tương đương 41.561 người, dân tộc Khmer chiếm 12,05% tương đương với 5.906 người, dân tộc Hoa chiếm 12,96% tương đương 6.352 người, dân tộc khác chiếm 0,19% dân số tương đương 93 người. 

          Về khí hậu: Thị xã Hà Tiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia thành 02 mùa rõ rệt là mùa mưa và mưa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.

Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 27oC – 27,5oC; nhiệt độ bình quân cao nhất 31,1oC, nhiệt độ bình quân thấp nhất 24,4oC;  chênh lệch nhiệt độ trung bình các tháng không quá 3oC.

Mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.100 mm/năm, số ngày mưa 26 – 170 ngày.

Nắng: Số giờ nắng trung bình hàng năm xấp xỉ 2400 giờ; mùa khô trung bình 7 giờ nắng/ngày, mùa mưa trung bình 6,4 giờ nắng/ngày.

Gió: Có 2 hướng chính là gió mùa Đông Bắc mang theo thời tiết se lạnh; gió mùa Tây Nam mang theo thời tiết nóng, ẩm và mưa giông.

Bão: Ít xảy ra bão ảnh hưởng trực tiếp.

Độ ẩm: Độ ẩm trung bình hàng năm từ 80- 82%.

          Về thủy văn:

Biên độ triều cường đạt 1,1m; biến thiên từ 0,5 đến 1m 

Biên độ triều kém từ 0,2 đến 0,5m.

          Trong những năm qua, kinh tế – xã hội thị xã Hà Tiên phát triển khá ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm trên 18%, GDP bình quân đầu người đạt 64.059 triệu đồng/năm (tương đương 2.912 USD). Tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế là: Thương mại – dịch vụ – du lịch chiếm 65,02%, công nghiệp – xây dựng chiếm 18,06%, nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 16,93%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hiện còn 1,00%, tỷ lệ hộ nghèo còn 6,04% (theo tiêu chí mới). Hộ sử dụng nước sạch đạt 96% và hộ sử dụng điện đạt 98% so tổng số hộ. Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm và ổn định.

Hiện nay, Thị xã Hà Tiên đang trong quá trình đẩy mạnh phát triển và chỉnh trang đô thị, nhưng nhìn chung vẫn còn giữ được nhiều nét hoang sơ; hệ thống đền, chùa, lăng tẩm vẫn mang nét cổ kính. Người Hà Tiên vốn có bản chất hiền lành, chất phác, tôn trọng nghĩa tình và mến khách, trong sinh hoạt hàng ngày vẫn còn giữ được nét ôn hòa, từ tốn. Tất cả những điều đó đã tạo cho Hà Tiên một khung cảnh thanh bình, thơ mộng. Đây là những giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của đất nước – con người Hà Tiên, đã bao đời người dân nơi đây luôn trân trọng, giữ gìn và phát huy, làm nền tảng phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững. 

Hình ảnh: Toàn cảnh Thị xã Hà Tiên

Gần 15 năm, kể từ khi thị xã Hà Tiên được thành lập đến nay, là một chặng đường tương đối dài, nhưng so với yêu cầu xây dựng và phát triển để Hà Tiên trở thành một đô thị hiện đại, văn minh thì mới chỉ là những bước đi ban đầu. Tuy vậy, những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân Hà Tiên phấn đấu đạt được đến hôm nay thật đáng tự hào. Đây là tiền đề vô cùng quan trọng, là nguồn cổ vũ động viên rất lớn để Đảng bộ và nhân dân Hà Tiên tiếp tục phát huy và xây dựng Thị xã trở thành Thành phố văn hóa du lịch Xanh – Sạch – Đẹp, với những nét đặc trưng riêng biệt, xứng đáng với công sức và mong muốn của các bậc tiền nhân, bao thế hệ lãnh đạo đã gầy dựng, để lại cho thế hệ hôm nay và mai sau./.

Giới Thiệu Khái Quát Huyện Nam Giang / 2023

Giới thiệu khái quát huyện Nam Giang

– Nam Giang là một huyện miền núi vùng cao của tỉnh Quảng  Nam. Tổng diện tích tự nhiên: 1.842,88 Km2, có đường Biên giới chung với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào dài 70 Km.                 

– Tổng diện tích tự nhiên của huyện chia theo tình hình sử dụng đất : 184.288,66 ha. Trong đó:

1. Diện tích đất nông nghiệp: 153.526,4 ha, phân ra:

+ Đất sản xuất nông nghiệp:  5.263,05 ha

+ Đất lâm nghiệp:                     184.232,3 ha

+ Đất nuôi trồng thủy sản:       23,44 ha

2. Đất phi nông nghiệp:           4.261,06 ha

3. Đất chưa sử dụng:               26.354,99 ha

– Huyện có 11 xã và 01 Thị trấn với tổng dân số 24.469 người, gồm các dân tộc anh em, trong đó, được chia theo hộ gia đình:

+ Cơ tu: 3.215 hộ

+ Gié- Triêng: 1.131 hộ

+ Kinh: 1.076 hộ

+ Dân tộc khác: 108 hộ

– Do điều kiện của một huyện miền núi vùng cao nên địa hình của huyện có nhiều núi non hiểm trở, nhiều sông suối chia cắt, giao thông đi lại còn khó khăn.

– Đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.

– An ninh Quốc phòng của huyện trong những năm qua được giữ vững, tuyến biên giới Việt- Lào được củng cố tăng cường (Hiện có 03 Đồn Biên phòng đóng quân trên vùng Biên giới của huyện đó là các Đồn Biên phòng 653, 657, 661)

– Sự nghiệp Y tế- giáo dục phát triển khá. Hầu hết các xã trong huyện đều đã có Trạm y tế xã (12 trạm), với tổng số 137 cán bộ, trong đó nữ có 86 người. Ngành y có 68 người, dược có 07 người.

Về giáo dục: Có 28 cơ sở công lập, trong đó có 02 Trường THPT: THPT Nam Giang và THPT Nguyễn Văn Trỗi

– Giá trị sản xuất Nông- lâm nghiệp của huyện năm 2012 đạt 190.650,373 triệu đồng

– Giá trị sản xuất Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp của huyện năm 2012 đạt 28.614,1

– Thực hiện thu ngân sách trên địa bàn huyện năm 2012 là 439.714,986 triệu đồng. Chi ngân sách năm 2012 là 306.324,59 triệu đồng.

– Tài nguyên khoáng sản:

+ Có vàng sa khoáng hiện đang được các cơ quan thẩm quyền cho một số đơn vị triển khai thăm dò

+ Trữ lượng đá vôi ở Thạnh Mỹ khá lớn, nhà máy xi măng Thạnh Mỹ đang xây dựng và sắp đưa vào sử dụng

+ Do địa hình của huyện có nhiều sông suối, có tiềm năng lớn về thủy điện. Hiện nay, các công trình thủy điện đang được xây dựng và vận hành như: Thủy điện Sông Bung 2, Sông Bung 4, Sông Bung 5, Sông Bung 6.

+ Có khu du lịch sinh thái thác Grăng, hiện đang trong quá trình đầu tư xây dựng để khai thác du lịch

– Huyện được Chính phủ cho mở cửa khẩu biên giới với nước bạn Lào. Hiện nay việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở vùng cửa khẩu đã được hai Quốc gia đầu tư xây dựng.

Giới thiệu về tiềm năng phát triển du lịch Nam Giang

Huyện Nam Giang là huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam. Cách thành phố Đà Nẵng gần 70 km về phía Tây Nam, cách tỉnh lỵ Tam kỳ 120 km về phía Tây Bắc, cách cửa khẩu Đắc Ốc – Đắc Tà Ọc 70 km về phía Đông. Có chung đường biên giới hơn 70 km với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Toàn huyện có 12 xã, thị trấn với 63 thôn. Dân số toàn huyện có trên 23.000 người.

    Theo quốc lộ 14B, cách Đà Nẵng 60km về phía Tây, du khách sẽ ngược về Nam Giang, nơi đây là địa bàn sinh sống của đồng bào các dân tộc, Cơ Tu, Ve, Tà riềng…. phong cảnh hữu tình trải suốt chiều dài 60 km, một bên là núi một bên là dòng sông Vu Gia huyền thoại, ở hạ lưu trước khi phân 2 nhánh, 1 nhánh đổ vào sông yên, một đổ vào sông thu bồn, sông vu gia đã làm ta gợi nhớ đến câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Thanh Quế “trước nhà em sông Vu Gia, sau nhà em cũng lại là dòng sông, hay nước sông con đổ vào sông cái – anh trai Thu Bồn em gái Hà Nha – chiều nay hò hẹn đôi ta, mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Không khí u hoài của núi rừng có thể sẽ khiến du khách mang một chút băn khoăn nhưng chỉ là một thoáng thôi bởi những đồi thơm đẹp mê hồn đâu đó trên đường xe chạy, những vườn keo thẳng tắp, xanh rì sẽ đưa tâm trí du khách theo tầm mắt.chỉ cách đô thị lớn nhất miền trung hơn 1 giờ xe chay, Nam Giang là vùng đất của những chiến công hiển hách của lịch sử, những địa danh, Thạnh mỹ, Bến Giằng, làng Rô đã làm nên một tên tuổi huyện giằng nổi tiếng trong thi ca.

Ngược dòng sông Cái lên trung tâm hành chính bến Giằng, nơi 2 con sông Bến Mỹ, Sông Thanh, một trong một đục gặp nhau mà nghe chan chứa tâm sự trong lòng, có truyền thuyết kể rằng, trên đường xuôi Nam, Huyền Trân công chúa đến vùng thượng đạo Quảng Nam. Khi đến một bến sông nước trong vắt, xót cho phận mình, Huyền Trân công chúa nhỏ giọt nước mắt. Kỳ lạ thay, giọt nước mắt ấy lắng xuống đáy sông, kết tinh thành một viên ngọc màu đỏ, mỗi đêm ngọc nổi một lần, chiếu sáng cả dòng sông. Để rồi bến sông, nơi công chúa nhỏ giọt nước mắt ấy được gọi là bến Giằng, nay thuộc huyện vùng cao Nam Giang, huyện giáp giới với tỉnh bạn Lào.

    Quả thật, đến Nam Giang, không chỉ nghe truyền thuyết về Bến Giằng, người ta còn có thể nghe nhiều câu chuyện lý thú và hấp dẫn. Đặc biệt, được tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ thú và hùng vĩ của vùng cao Nam Giang, với khung cảnh hoang sơ, những khu rừng nguyên sinh, trùng trùng điệp điệp những ngọn núi cao chót vót, những vực thẳm sâu hun hút, những vách đá cheo leo, hiểm trở, không kém phần ngoạn mục như bức tranh kỳ vĩ làm say hồn du khách. Xuất phát từ Bến Giằng, theo con đường ngoằn ngoèo, như con rắn trườn dần lên vách núi. Nhiều đoạn vô cùng ngoạn mục: một bên đường dựa vào vách núi, khoét theo vách núi, bên kia là vực sâu thăm thẳm. Núi cao, vực sâu, những khu rừng nhấp nhô khi thì bên trái, khi sang bên phải, với các thảm thực vật đa sắc màu, góp phần tạo nên phong cảnh đẹp lạ lùng và cũng thật hiếm có của mảnh đất Nam Giang. Khi đã thấm mệt với cuộc hành trình, du khách có thể nghỉ lại một Gươi bất kỳ nào đó để thưởng thức Rượu Tà vạt, đây là thứ nước được lấy từ buồng của cây tà vạt, một loại cây có hình thức giống như cây dừa nhưng to hơn, lá dài hơn, rồi hòa cùng ít vỏ cây chuồn, thành một thứ rượu mà khi uống không bao giờ đau đầu.

     Một năm được mùa; cái rẫy lên xanh tốt. Cây bắp trái to như đầu gối. Cây lúa hạt oằn cả thân. Thấm thoắt, hạt lúa ngả sang màu vàng chóe, trái bắp sắp khô vỏ thì có lũ khỉ lén lút vào tuốt lúa, bẻ bắp để ăn. Cụ già giữ rẫy tiếc của, tiếc công sức mình, giận lũ khỉ, kiên trì rình rập ngày đêm. Ở cạnh rẫy, có cây tà vạt. Trước khi vào bẻ bắp, tuốt lúa, lũ khỉ thường đu mình qua buồng tà vạt để vào rẫy. Tức mình, cụ già liền chặt phứt đi nhằm làm cho chúng không thể qua lối này nữa. Khi vừa chặt xong, có những giọt nước từ trong ấy chảy ra. Tò mò, cụ dùng tay hứng rồi nhấm thử. Chất nước ngòn ngọt, mát lạnh khiến cụ cảm thấy khỏe khoắn lạ lùng. Thế là, cụ tìm đốt lồ ô ra hứng cho kỳ hết. Những ngày sau đó, cụ lặn lội tận rừng sâu tìm các loại vỏ cây hòa vào thứ nước ấy. Cuối cùng, lúc thử vỏ cây chuồn, nước sủi bọt, lên men, có mùi vị không khác gì một loại rượu nhẹ. Và, nhờ sự khám phá tình cờ của cụ, rượu tà vạt dần dần được dân bản ưa chuộng và nhanh chóng trở thành thứ nước giải khát phổ biến giữa chốn núi rừng heo hút trong những ngày hè oi bức, nếu khách du lịch thích thổ cẩm thì chỉ cần quá bộ lên làng dệt zơ ra để thấy những người phụ nữ cơ tu đang dệt những chiếc túi, những bao gối, khăn thổ cẩm… trên đường đến làng du lịch Tà Bhing du khách sẽ được trải nghiệm cảm giác trên những chiếc cầu treo đung đưa, hòa mình vào tiếng rì rào của thác nước, rì rào của gió đưa là rừng đạt ngàn trường sơn hùng vĩ.

    Lên non tắm thác, về làng xem… tay”, đó hẳn là sự trải nghiệm thú vị của những ai đã từng  rong ruổi trên đường Hồ Chí Minh huyền thoại, qua bến Giằng và ngược lên thác Grăng, huyện Nam Giang hay tiếp tục lang thang qua các địa danh như làng Rô, đèo Lò Xo cho đến Khâm Đức (Phước Sơn). Mỗi địa danh đi qua ngoài sự trải nghiệm thú vị khi được chiêm ngưỡng phong cảnh núi non hùng vĩ, nhiều tầng thác đẹp như huyền thoại du khách còn được say sưa ngắm nghía bàn tay thoăn thoắt của những phụ nữ Cơtu bên khung dệt, bên những sợi đan lát trong các làng nghề truyền thống.

     Và nếu chỉ muốn khám phá một địa chỉ du lịch có tên Nam Giang, bạn chỉ mất khoảng 30 phút từ Đại Lộc trên quốc lộ 14B là dừng chân ở làng Rô, nơi che chở nuôi nấng cố nhà thơ Tố Hữu cùng nhiều chí sĩ cách mạng trong những lần băng rừng vượt ngục. Rồi dừng chân ở bến Giằng để lắng nghe khúc giao thủy của dòng sông Bung từng một thời là địa điểm gắn với các chiến công oai hùng. Là mạch nguồn của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sông Thanh. Những điều thú vị bỗng chốc ùa đến với bạn khi được tận mắt chiêm nghiệm những điều đã từng biết, đọc qua ở đâu đó hoặc với cảnh núi non hùng vĩ của núi rừng Trường Sơn bắt đầu từ ngã ba sông Bung.

      Từ đây bạn có thể ngược trên quốc lộ 14D như dải lụa mềm vắt lưng chừng núi. Một ngã ba có biển hướng dẫn, rẽ qua rẫy lúa, nương bắp, lúc ngang dọc qua suối là con đường dẫn đến thác Grăng. Đây là đoạn đường để lại dấu ấn nhiều nhất nơi du khách trong hành trình chinh phục “tam thác Grăng” bởi phải qua nhiều đoạn dốc, đường hẹp, ghềnh đá hiểm trở. Nhưng, bạn sẽ không dễ bỏ cuộc khi trên đường vào Grăng đã được kiến tạo sẵn những bộ ván dã chiến bằng thân cây, nhiều chiếc võng rừng bằng rễ cây tự nhiên làm những trạm nghỉ chân tiếp sức cho du khách. Tất cả khó khăn sẽ tan biến khi bạn đang đứng trước thác Grăng tung bọt trắng xóa, bồng bềnh trong cõi âm u Trường Sơn. Đẹp nhất ở Grăng có lẽ là thác 3 với độ cao hơn 30 mét, tung bụi nước mịt mù, xõa trắng trên những vách đá bám rêu.

     Nam Giang không những đẹp mà giá trị hơn nữa chính là việc bảo tồn văn hóa truyền thống cồng chiêng, Du khách hẳn sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi tận mắt nhìn thấy những em bé mới chỉ học lớp 5 lớp 6 mà đánh chiêng điêu luyện. Đôi tay mềm mại gõ từng nhịp tấu lên bản nhạc chiêng đón khách khiến ai cũng phải mê mẩn

     Trước kia, người dân ở đây chỉ biểu diễn cồng chiêng những khi có sự kiện đặc biệt nào đó nhưng hiện nay, ngoài những lễ hội đặc biệt của họ, biểu diễn cồng chiêng cho du khách xem là dịp để giao lưu, trao dồi, cố kết cộng đồng ngày thêm bền chặt, trao truyền cho thế hệ kế tiếp, chứ không hề thương mại hóa, làm qua loa chiếu lệ”. Những nghệ nhân của làng chào đón du khách qua bài đầu tiên với âm thanh thật trong trẻo, rộn rã như tiếng suối chảy, tiếng chim hót trong rừng thẳm.Thỉnh thoảng họ lại đồng loạt cất tiếng hú bi hùng, họ đang gọi mời Thần linh về tham dự lễ hội cùng với họ. Sau một lúc ngỡ ngàng lặng đi vì xúc động, nếu thích thú du khách có thể cùng hòa vào vòng xoay theo nhịp cồng, tiếng chiêng, những tiếng cồng chiêng trầm hùng, tiếng đinh tút réo rắt ngân nga đem lại cho người xem nhiều cảm xúc khó tả. Mỗi giai điệu như đưa người xem quay về với những câu chuyện tình yêu lứa đôi, các hoạt động sinh hoạt, sản xuất, săn bắn, chống kẻ thù, thú dữ; những lễ hội mừng lúa mới, mừng làng mới của đồng bào dân tộc sống trên dãy trường sơn hùng vĩ từ bao đời. cùng với sưu tầm truyện cổ, văn hóa ẩm thực cồng chiêng  cũng là nét văn hóa truyền thống mà huyện đang gìn giữ và phát triển.

      Đến  Nam Giang không những được ngắm cảnh thiên nhiên kỳ diệu, ngoạn mục của miền tây đất Quảng, được tận mắt nhìn thấy cột mốc biên giới của Tổ quốc với nhiều cảm xúc dạt dào…, mà còn được thưởng thức hương vị tuyệt vời của rượu tà vạt giữa khung cảnh núi rừng, trên độ cao gần nghìn mét của đại ngàn Trường Sơn.

      Nam Giang không chỉ hùng vĩ mà còn mang vẻ đẹp vừa hoang sơ, vừa lạ lùng, có sức cuốn hút lạ kỳ. Nếu được đầu tư đúng mức, quảng bá bài bản, có chiều sâu, Nam Giang sẽ là địa điểm du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm rất hấp dẫn với du khách gần xa…

Giới Thiệu Khái Quát Về Tỉnh Bắc Giang / 2023

1. Vị trí địa lý Bắc Giang nằm cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị 110 km về phía Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100 km về phía Đông. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh.

Tỉnh có đặc điểm địa hình của cả miền núi lẫn trung du. Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền núi là chia cắt mạnh, phức tạp, chênh lệch về độ cao lớn. Nhiều vùng đất đai còn tốt, đặc biệt ở khu vực còn rừng tự nhiên. Vùng đồi núi thấp có thể trồng được nhiều cây ăn quả, cây công nghiệp như vải thiều, cam, chanh, na, hồng, đậu tương, chè…; chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, thuỷ sản. Đặc điểm này thể hiện chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế, chiếm 72% diện tích toàn tỉnh.

Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền trung du là đất gò, đồi xen lẫn đồng bằng rộng, hẹp tuỳ theo từng khu vực. Vùng trung du có khả năng trồng nhiều loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, cá và nhiều loại thuỷ sản khác. Vùng trung du thể hiện chủ yếu ở các huyện Tân Yên, Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Dũng, Lạng Giang và thị xã Bắc Giang, chiếm 28% diện tích toàn tỉnh.

Khí hậu được chia làm hai mùa rõ rệt, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, thịnh hành gió đông nam, mùa đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, thịnh hành gió đông bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 22 – 23°C, độ ẩm dao động từ 73 – 75% vào mùa đông và từ 85 – 87% vào mùa hè. Lượng mưa hàng năm đủ đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất và đời sống. Nắng trung bình hàng năm từ 1.500 – 1.700 giờ, thuận lợi cho phát triển cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới.

II. Tài nguyên thiên nhiên

Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên; gồm 123 nghìn ha đất nông nghiệp, 110 nghìn ha đất lâm nghiệp, 66,5 nghìn ha đất đô thị, đất chuyên dụng và đất ở, còn lại là các loại đất khác. Nhìn chung, tỉnh Bắc Giang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản. Quốc lộ 1A mới hoàn thành tạo ra quỹ đất lớn có nhiều lợi thế cho phát triển công nghiệp – dịch vụ. Đất nông nghiệp của tỉnh ngoài thâm canh lúa còn thích hợp để phát triển rau, củ, quả cung cấp cho Thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận. Tỉnh Bắc Giang đã có kế hoạch chuyển hàng chục nghìn ha trồng lúa sang phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao. Hơn 55 nghìn ha đất đồi núi chưa sử dụng là một tiềm năng lớn cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư liên doanh, liên kết trồng rừng, chế biến lâm sản và nuôi trồng thuỷ sản.

2. Tài nguyên rừng

Bắc Giang có 110 nghìn ha rừng, trong đó có gần 64 nghìn ha rừng tự nhiên và hơn 46 nghìn ha rừng trồng. Trữ lượng gỗ có khoảng 3,5 triệu m³, tre nứa khoảng gần 500 triệu cây. Ngoài tác dụng tán che, cung cấp gỗ, củi, dược liệu, nguồn sinh thuỷ, rừng Bắc Giang còn có nhiều sông, suối, hồ đập, cây rừng nguyên sinh phong phú tạo cảnh quan môi sinh đẹp và hấp dẫn.

3. Tài nguyên khoáng sản Trên địa bàn tỉnh tuy không có nhiều mỏ khoáng sản lớn nhưng lại có một số là nguồn nguyên liệu quan trọng để phát triển công nghiệp của tỉnh như: mỏ than đá ở Yên Thế, Lục Ngạn, Sơn Động, có trữ lượng hơn 10 triệu tấn; quặng sắt ước khoảng 0,5 triệu tấn ở Yên Thế, gần 100 nghìn tấn quặng đồng ở Lục Ngạn, Sơn Động; 3 triệu tấn cao lanh ở Yên Dũng; 100 m³ sét làm gạch chịu lửa ở Tân Yên, Việt Yên; sỏi, cuội kết ở Hiệp Hoà, Lục Nam.

III. Tiềm năng kinh tế

1. Những lĩnh vực kinh tế lợi thế

Bắc Giang là một tỉnh miền núi nhưng có cả vùng trung du, đồng bằng xen kẽ. Lợi thế kinh tế của tỉnh là nông, lâm nghiệp, thương mại, dịch vụ, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp. Nông, lâm nghiệp đang có sự chuyển dịch cơ cấu một cách tích cực. Tiến bộ khoa học kỹ thuật không ngừng được ứng dụng, nhất là việc đưa giống mới, phương pháp canh tác mới. Tốc độ tăng tỷ trọng nông sản hàng hoá mỗi năm đều tăng. Những cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được phát triển, mở rộng ngày một nhanh hơn. Chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp cùng với nuôi trồng thuỷ sản tiếp tục có những bước phát triển rất khả quan. Dịch vụ nông nghiệp không ngừng phát triển đến tận các thôn bản, xóm làng vùng cao, hẻo lánh. Thương mại dịch vụ phát triển nhanh trong nền kinh tế thị trường, nhiều chợ nông thôn đã được khôi phục, mở rộng hoặc nhanh chóng hình thành. Các thị trấn, thị tứ ngày càng sầm uất thêm.

Công nghiệp là ngành kinh tế có nhiều tiềm năng của tỉnh. Khu công nghiệp Đình Trám rộng hơn 100 ha đã được các nhà đầu tư vào gần kín, ngoài ra còn gần 10 cụm công nghiệp tại các huyện, thị xã đã và đang đi vào hoạt động hoặc đang thiết kế quy hoạch hoàn chỉnh. Từ khi tỉnh có văn bản khuyến khích ưu đãi đầu tư trên địa bàn, sau một năm đã có 114 nhà đầu tư đăng ký với tổng số vốn hơn 1.187 tỷ đồng, trong đó 57 dự án đầu tư đã được chấp thuận. Các làng nghề truyền thống ngày càng được khôi phục và phát triển như: mây tre đan Tăng Tiến, tơ tằm Song Mai, bún Đa Mai, rượu làng Vân, mì Chũ, bánh đa Kế…

2. Tiềm năng du lịch

Bắc Giang là tỉnh miền núi nhưng địa lý lãnh thổ không những có nhiều vùng núi cao, mà còn có nhiều vùng đất trung du trải rộng xen kẽ với các vùng đồng bằng phì nhiêu. Rừng nguyên sinh còn khá nhiều, đặc biệt là trên 7.000 ha rừng tại Khe Rỗ (xã An Lạc, huyện Sơn Động), cách thị trấn An Châu hơn 10 km, với hơn 200 loài thực vật, 250 loài dược liệu, 40 loài thú, 70 loài chim, 20 loài bò sát và đặc biệt là 7 loài quý hiếm. Ngoài ra, Bắc Giang còn có rừng nguyên sinh Tây Yên Tử đang được bảo tồn với diện tích tự nhiên gần 15.000 ha gồm nhiều chủng loại cây hỗn giao phong phú, động vật rừng quý hiếm.

Cùng với rừng núi, tỉnh còn có hệ thống sông, suối xen kẽ nổi tiếng trong vùng như: hồ Cấm Sơn (Lục Ngạn) rộng gần 3.000 ha, các hồ Khuôn Thần, làng Thum, Lòng Thuyền (Lục Ngạn), suối Nứa (Lục Nam), sông Sỏi (Yên Thế)…, mỗi hồ rộng hàng trăm ha với dáng vẻ đặc trưng riêng về sinh thái của mình. Có hồ chứa hoặc đang triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng dịch vụ nhưng vẫn thu hút hàng vạn du khách tới thăm. Suối Mỡ (Lục Nam) là một thắng cảnh có di tích văn hoá hấp dẫn, đang tiếp tục xây dựng thêm các cơ sở dịch vụ…

Ở Bắc Giang còn có vùng trồng vải thiều rộng lớn không chỉ có giá trị kinh tế cao, mà còn hấp dẫn nhiều du khách. Các chủ trang trại đã kết hợp phát triển kinh tế vườn đồi với du lịch sinh thái. Rất nhiều trang trại có chủng loại cây ăn quả phong phú cùng các loại đặc sản hấp dẫn. Tiếng hát quan họ có từ lâu đời ở nhiều huyện vẫn duy trì và phát huy ở Bắc Giang, đặc biệt tiếng hát Soong Hao nổi tiếng của đồng bào các dân tộc thiểu số luôn giữ vai trò chính trong những ngày lễ hội. Hơn 100 di tích lịch sử văn hoá lớn đang được bảo tồn như chùa Vĩnh Nghiêm, đình cổ Lỗ Hạnh, đình Phù Lão và chùa Tiên Lục với cây dạ hương nghìn năm tuổi, thành cổ Xương Giang, thành đất nhà Mạc, đồn Phồn Xương của nghĩa quân Đề Thám, an toàn khu Hoàng Vân… Các lễ hội cổ truyền vẫn được gìn giữ và ngày càng phát huy, mở rộng thêm.

Giới Thiệu Về Hà Tiên / 2023

Điều kiện và tự nhiên

Điều kiện tự nhiên: Thị xã Hà Tiên được thành lập vào ngày 01/9/1998, được chia thành 7 đơn vị hành chính, gồm 4 phường và 3 xã. Hà Tiên là một trong 14 huyện, thị và thành phố của tỉnh Kiên Giang, là một thị xã vừa có đất liền vừa có hải đảo và đồi núi nên thu hút rất nhiều khách tham quan. Đường biên giới Việt Nam – Campuchia ôm sát thị xã về phía bắc.

Địa giới hành chính thị xã Hà Tiên : Phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia; phía Tây và Tây Nam giáp Vịnh Thái Lan; phía Đông và Đông Nam giáp huyện Kiên Lương tỉnh Kiên Giang.

Khí hậu : Thị xã Hà Tiên nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa có nền nhiệt cao và ổn định, một năm chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.

Thổ nhưỡng : Tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Tiên là 8.142,72 ha. Bao gồm: đất nông nghiệp 5.969,11 ha (chiếm 73,31%); đất phi nông nghiệp 1.941,68 ha (chiếm 23,85%); đất chưa sử dụng 231,93 ha (chiếm 2,85%).

Tài nguyên thiên nhiên : Tài nguyên khoáng sản của thị xã Hà Tiên không nhiều, trên địa bàn thị xã có một số núi đá đáng kể về số lượng. Ngoài ra, còn có một số nguồn khoáng sản đá quý như: đá xây dựng, sỏi đỏ,… Dân cư : Hiện nay dân số toàn thị xã là 42.940 người, tổng số hộ là 7.454 hộ bao gồm 03 dân tộc cùng sinh sống là Kinh, Hoa và Khmer.

Về mặt văn hóa

– Về văn hóa trong giao tiếp, ứng xử : Con người Hà Tiên nhiều phẩm chất tốt đẹp, ngoài tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, còn biểu hiện đậm nét ở đức tính thật thà, chất phác, tôn trọng nghĩa tình và lòng mến khách.

– Về văn hóa lễ hội : Trước hết là lễ hội rằm tháng giêng, đây là tết nguyên tiêu của dân tộc, các địa phương trong cả nước đều tổ chức, riêng ở Hà Tiên đó còn là sự ra đời của Tao Đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tích thành lập năm 1736. Mặt khác theo truyền thống của địa phương rằm tháng giêng còn là ngày hái lộc đầu năm, rằm tháng Giêng thực sự là một ngày hội lớn của người dân Hà Tiên.

Thứ hai là Tết Thanh minh. Tết Thanh minh ở Hà Tiên cũng được tổ chức vào tháng ba âm lịch theo truyền thống chung của dân tộc, nhưng việc tổ chức thì lại có một số điểm rất riêng cả về không gian và thời gian. Ở các địa phương khác chỉ tổ chức vào một ngày duy nhất trong tháng ba hoặc tháng hai theo lịch, nhưng ở Hà Tiên coi ngày đó chỉ là ngày chính, còn việc tổ chức lễ tết được diễn ra trong một tháng. Không gian tổ chức lễ cúng cũng khác hơn các địa phương khác, ngoài việc con cháu thắp hương tưởng niệm ông bà, cha mẹ tại bàn thờ gia tiên, mâm cổ còn được đưa lên cúng tại mộ. Sau khi cúng xong, dọn ra gia đình, bạn bè cùng ngồi ăn uống trước mộ, để cho người quá cố cảm thấy vui vẻ, gần gũi với gia đình như khi còn sống. Vừa ăn uống vừa nhắc lại kỷ niệm, những tấm gương về đạo đức của người quá cố khi còn sống để giáo dục con cháu. Đây là một nét đẹp truyền thống của người dân Hà Tiên đến nay vẫn còn lưu giữ. Ngoài các lễ hội nói trên, Hà Tiên còn có các lễ hội đặc trưng khác như: Lễ hội Kỳ Yên, Lễ hội giỗ Đức khai trấn Quốc công Mạc Cửu, lễ hội tôn giáo tháng 7 âm lịch…

Tín ngưỡng tôn giáo : Thị xã Hà Tiên có các tôn giáo chính gồm: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, trong đó Phật giáo chiếm đa số. Thực hiện chủ trương của Đảng về chính sách khối đại đoàn kết dân tộc, trong những năm qua thị xã Hà Tiên luôn quan tâm công tác tôn giáo.

Danh lam thắng cảnh : Trên đất Kiên Giang nơi nào cũng có vẻ đẹp của thiên nhiên. Tuy nhiên, thắng cảnh Hà Tiên có những dáng nét riêng. Nói đến Hà Tiên, người ta thường nghĩ đến “thập cảnh” trong thơ Mạc Thiên Tứ: Kim Dữ lan đào, Đông Hồ ấn nguyệt, Bình San điệp thúy, Châu Nham lạc lộ, Tiêu Tự thần chung, Lộc Trĩ thôn cư, Nam Phố trừng ba, Giang Thành dạ cổ, Thạch Động thôn vân, Lư Khê ngư bạc. Ngày nay du khách tham quan gần xa đã từng biết Hà Tiên qua những danh lam thắng cảnh như: Thạch Động, hang Đá Dựng, bãi tắm Mũi Nai, khu vực núi Bình San, chùa tam Bảo, chùa Phù Dung, Đông Hồ, dừa 4 ngọn…

Di tích lịch sử : Tính đến nay, trên địa bàn thị xã Hà Tiên đã có 08 di tích được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, có 5 di tích cấp quốc gia là: Di tích lịch sử Nhà tù Hà Tiên, di tích thắng cảnh Thạch Động, Mũi Nai, Bình San, Đá Dựng và 03 di tích cấp tỉnh là: Di tích chứng tích chiến tranh chùa Xà Xía, di tích lịch sử văn hóa chùa Phù Dung, chùa Tam Bảo.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giới Thiệu Khái Quát Thị Xã Hà Tiên / 2023 trên website Tuvanduhocsing.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!