Đề Xuất 11/2022 # Giới Thiệu Về Thành Phố Hà Giang Từ A Đến Z / 2023 # Top 17 Like | Tuvanduhocsing.com

Đề Xuất 11/2022 # Giới Thiệu Về Thành Phố Hà Giang Từ A Đến Z / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giới Thiệu Về Thành Phố Hà Giang Từ A Đến Z / 2023 mới nhất trên website Tuvanduhocsing.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tỉnh Hà Giang có 11 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 thành phố (Hà Giang) và 10 huyện (Bắc Mê, Bắc Quang, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Mèo Vạc, Quản Bạ, Quang Bình, Vị Xuyên, Xín Mần, Yên Minh).

Vị trí địa lý

Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang phía Bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Điều kiện tự nhiên

Nằm trong khu vực địa bàn vùng núi cao phía bắc lãnh thổ Việt Nam, Hà Giang là một quần thể núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở, có độ cao trung bình từ 800 m đến 1.200 m so với mực nước biển. Đây là vùng tập trung nhiều ngọn núi cao.

Theo thống kê mới đây, trên dải đất Hà Giang rộng chưa tới 8.000 km2 mà có tới 49 ngọn núi cao từ 500 m – 2.500 m (10 ngọn cao 500 – 1.000 m, 24 ngọn cao 1000 – 1500 m, 10 ngọn cao 1.500 – 2.000 m và 5 ngọn cao từ 2.000 – 2.500 m). Tuy vậy, địa hình Hà Giang về cơ bản, có thể phân thành 3 vùng sau:

– Vùng cao phía bắc còn gọi là cao nguyên Đồng Văn, gồm các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với 90% diện tích là núi đá vôi, đặc trưng cho địa hình karst. ở đây có những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, nhiều vách núi dựng đứng. Ngày 03/10/2010 cao nguyên đá Đồng văn đã gia nhập mạng lưới Công viên địa chất (CVĐC) toàn cầu với tên gọi: CVĐC Cao nguyên đá Đồng Văn.

– Vùng núi thấp bao gồm địa bàn các huyện, thị còn lại, kéo dài từ Bắc Mê, thị xã Hà Giang, qua Vị Xuyên đến Bắc Quang. Khu vực này có những dải rừng già xen kẽ những thung lũng tương đối bằng phẳng nằm dọc theo sông, suối.

Các sông lớn ở Hà Giang thuộc hệ thống sông Hồng. ở đây có mật độ sông – suối tương đối dày. Hầu hết các sông có độ nông sâu không đều độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác, ít thuận lợi cho giao thông thuỷ.

Sông Lô là một sông lớn ở Hà Giang, bắt nguồn từ Lưu Lung (Vân , Trung Quốc), chảy qua biên giới Việt – Trung (khu vực Thanh Thuỷ), qua thị xã Hà Giang, Bắc Quang về Tuyên Quang. Đây là nguồn cung cấp nước chính cho vùng trung tâm tỉnh.

Sông Chảy bắt nguồn từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn Lĩnh và sườn đông bắc đỉnh Kiều Liên Ti, mật độ các dòng nhánh cao (1,1km/km 2 ), hệ số tập trung nước đạt 2,0km/km 2 . Mặc dù chỉ đoạn đầu nguồn thuộc địa phận tỉnh nhưng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho khu vực phía tây của Hà Giang.

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ hơn như sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏ cung cấp nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư.

Về khí hậu, thành phố Hà Giang nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu Hà Giang về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn, song cũng có những đặc điểm riêng, mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc, nhưng ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc…

Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,6 độ C – 23,9 độ C, biên độ nhiệt trong năm có sự dao động trên 100C và trong ngày cũng từ 6 – 7 độ C. Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 40 độ C (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,2 độ C (tháng l).

Lịch sử hình thành thành phố Hà Giang

Vào thời Hùng Vương, mảnh đất Hà Giang đã là một trong 15 bộ của quốc gia Lạc Việt. Thời Thục Phán An Dương Vương lập nước Âu Lạc, Hà Giang thuộc bộ lạc Tây Vu. Trong thời kỳ đô hộ của phong kiến phương Bắc kéo dài nghìn năm, khu vực Hà Giang vẫn nằm trong địa phận huyện Tây Vu thuộc quận Giao Chỉ.

Từ năm 1075 (đời nhà Lý). Miền đất Hà Giang lúc đó thuộc về châu Bình Nguyên. Vào đầu đời Trần, khu vực Hà Giang, Tuyên Quang lúc đó gọi là châu Tuyên Quang thuộc lộ Quốc Oai. Năm 1397 đổi thành trấn Tuyên Quang.

Địa danh Hà Giang lần đầu tiên được nhắc đến trong bài minh khắc trên chuông chùa Sùng Khánh (xã Đạo Đức, Vị Xuyên), được đúc nhân dịp trùng tu chùa vào đầu thời Vua Lê Dụ Tông, năm Ất Dậu 1707.

Năm Minh Mệnh thứ 16 (năm 1835), nhà Nguyễn bỏ châu Bảo Lạc, chia làm hai huyện: Vĩnh Điện (khoảng Bắc Mê, Yên Minh và một phần Quản Bạ ngày nay và huyện Để Định (khoảng huyện Bảo Lạc, Cao Bằng và một phần Đồng Văn, Mèo Vạc ngày nay). Lấy sông Lô phân giới để chia châu Vị Xuyên thành hai đơn vị hành chính mới: Khu vực phía hữu ngạn sông Lô được gọi là huyện Vĩnh Tuy, còn phía tả ngạn sông Lô là huyện Vị Xuyên.

Năm Thiệu Trị thứ tư (năm 1844), nhà Vua lại phê chuẩn cho các huyện châu thuộc tỉnh hạt biên giới phía Bắc, Tây Bắc, trong đó có Hà Giang, “vẫn theo như cũ đặt chức thổ quan”. Đến đời Tự Đức thì chế độ “thổ quan” bị bãi bỏ trên phạm vi cả nước.

Năm 1858, sau khi đánh chiếm hầu hết các tỉnh Nam Kỳ, Bắc Kỳ, năm 1887, thực dân Pháp đánh chiếm Hà Giang và thay đổi chế độ cai trị bằng cách thiết lập các đạo quan binh. Ngày 20/8/1891, tỉnh Hà Giang được thành lập, bao gồm phủ Tương Yên và huyện Vĩnh Tuy (tỉnh Tuyên Quang).

Năm 1893, trong dịp cải tổ trong các quân khu, Hà Giang trở thành trung tâm của một quân khu và cùng với Tuyên Quang hợp thành Đạo quan binh thứ ba (quân khu 3). Ngày 17/9/1895, Toàn quyền Đông Dương ra Quyết định số 1432 chia khu quân sự thứ ba thành ba tỉnh: Tuyên Quang, Bắc Quang và Hà Giang. Trong đó, Hà Giang bao gồm huyện Vị Xuyên (trừ tổng Phú Loan và Bằng Hành), cộng thêm các tổng Phương Độ và Tương Yên.

Ngày 28/4/1904, Toàn quyền Đông Dương lại ra quyết định sáp nhập tỉnh Bắc Quang và tỉnh Hà Giang thành Đạo quan binh Hà Giang. Đến thời điểm này, Đạo quan binh thứ ba Hà Giang đã được xác định ranh giới rõ ràng và tương đối ổn định.

Trước cách mạng tháng tám năm 1945, Hà Giang có 4 châu và 0 1 thị xã (Bắc Quang, Vị Xuyên, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, thị xã Hà Giang).

Ngày 23/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh giải tán Khu Lao – Hà – Yên, sáp nhập tỉnh Hà Giang vào Khu tự trị Việt Bắc. Đầu tháng 4/1976, tỉnh Hà Tuyên được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang.

Ngày 12/8/1991, tại kỳ họp thứ 9, khoá VIII, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định chia tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Tỉnh Hà Giang được tái lập gồm 10 đơn vị hành chính là thị xã Hà Giang và 9 huyện, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Hà Giang.

Ngày 01/12/2003, Chính phủ ra nghị định số 146/NĐ-CP về việc thành lập huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang. Ngày 27/9/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP về việc thành lập thành phố Hà Giang thuộc tỉnh Hà Giang.

Các dân tộc thiểu số sống tại địa bàn Hà Giang

– Dân tộc Hoa (Hán) – Dân tộc La Chí – Dân tộc Lô Lô – Dân tộc Mông – Dân tộc Cờ Lao – Dân tộc Pà Thẻn – Dân tộc Dao – Dân tộc Phù Lá

Giới Thiệu Về Thành Phố Cao Hùng, Đài Loan / 2023

Thời gian đăng: 15/02/2019 09:31

Cao Hùng tọa lạc ở phía Nam Đài Loan là một trong hai thành phố trực thuộc trung ương của Trung Hoa Dân Quốc. Thành phố có 11 quận, mỗi quận có một văn phòng quận quản lý công việc hàng ngày giữa chính quyền thành phố và công dân của mình.

Các khu vực hành chính

Cao Hùng hiện có 38 khu. Mỗi khu lại được chia thành các lý, và được chia tiếp thành các lân. Chính phủ Trung ương Đài Loan công nhận hệ thống bính âm Hán ngữ làm chuẩn để phiên âm Latinh tương tự như tại Trung Quốc đại lục, còn chính quyền Cao Hùng, vốn do đảng Dân Tiến nắm quyền, lấy phương pháp bính âm thông dụng làm chuẩn phiên âm.

Dân số Cao Hùng

Cao Hùng là thành phố lớn thứ 2 tại Đài Loan với số dân 1,51 triệu người

Khí hậu Cao Hùng

Cao Hùng mang khí hậu nhiệt đới, mùa hè thời tiết nóng, ẩm, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, mùa đông kéo dài từ tháng 10 đến tháng 12. Mùa đông thời tiết khá ôn hòa và ngắn, mùa mưa thường dài, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10.

Vào mùa hè nhiệt độ trung bình khoảng 27-33 độ C. Đến mùa thu, thời tiết mát mẻ, nắng nhẹ. Đây là mùa gió Đông Nam hoạt động gây mưa kèm theo dông nhẹ. Còn vào mùa đông, thời tiết Cao Hùng rét với nhiệt độ trung bình khoảng 10-15 độ C. Lúc này, khí hậy ở đây chịu sự ảnh hưởng của gió Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc di chuyển sang và kèm theo mưa phùn rải rác. Hết đông sang xuân, thời tiết Cao Hùng trở nên ấm áp hơn và không còn cảm giác khô lạnh nữa

Cao Hùng là trung tâm chế tạo, lọc dầu và vận tải lớn của Đài Loan. Không giống như Đài Bắc, các đường phố của Cao Hùng rộng rãi và giao thông thông suốt hơn. Tuy nhiên, ô nhiễm không khí của các khu vực xung quanh Cao Hùng thì khá tệ do các ngành công nghiệp nặng gây ra. Cảng Cao Hùng là cảng chính của Đài Loan mà phần lớn dầu mỏ của Đài Loan được nhập khẩu.

Cao Hùng có một khu chế xuất sản xuất nhôm, gỗ, và giấy, phân đạm, xi-măng, kim loại, máy móc và tàu biển. Cảng Cao Hùng là một trong 4 cảng lớn nhất thế giới và Cao Hùng là trung tâm ngành công nghiệp đóng tàu của Đài Loan và cũng là căn cứ hải quân lớn của Trung Hoa Dân Quốc.

1. Đại học quốc lập Trung Sơn ( National Sun Yat-sen University – NSYSU)

Trường Đại học quốc lập Trung Sơn được thành lập vào năm 1980, được đặt theo tên cùa Chủ tịch Sun Yat-sen, cha đẻ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Khuôn viên trường NSYSU tọa lạc trên 69 hecta diện tích đối diện với vịnh Hsitzu, một trong những vùng thắng cảnh đẹp nhất của Đài Loan.

Với những nỗ lực cống hiến của đội ngũ giảng viên, nhân viên và học sinh, trường NSYSU đã nhanh chóng phát triển trở thành một trong những trường Đại học hàng đầu của Đài Loan. Trường bao gồm 6 khoa, với 18 chương trình đào tạo hệ Cử nhân, 35 chương trình đào tạo hệ Thạc sĩ và 25 chương trình đào tạo hệ Tiến sĩ. Có khoảng 10.000 sinh viên nhập học và đội ngũ nhân viên gồm khoảng 450 người

2. Đại học sư phạm quốc lập Cao Hùng (National Kaohsiung Normal University – NKNU)

Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Cao Hùng, tiền thân là trường Cao đẳng Sư phạm Nữ tỉnh Cao Hùng được thành lập vào năm 1954 nhằm giáo dục đào tạo giáo viên tiểu học, trung học

Vào ngày 01/08/1989, trường Cao đẳng được đổi tên thành trường Đại học sư phạm quốc gia Cao Hùng. Khuôn viên Helping của trường nằm tại quận Lingya là một khu vực tập trung nhiều trung tâm văn hóa và trí tuệ của cả nước, có diện tích 13 ha. Năm 2004, trường được công nhận là trường có đóng góp lớn cho sự nghiệp giáo dục của Bộ giáo dục Đào tạo Đài Loan. Năm 2012, trường được trao tặng danh hiệu là trường có công lớn trong sự nghiệp “theo đuổi giáo dục toàn diện”, được xếp hạng là một trong những trường Đại học tốt nhất trên toàn quốc.

Trường hiện có 5 Trường Cao Đẳng trực thuộc đào tạo các ngành học khác nhau gồm:

– Trường Cao đẳng Nhân Văn – Trường Cao đẳng Giáo dục – Trường Cao đẳng Công nghệ. – Trường Cao đẳng nghệ thuật – Trường Cao đẳng khoa học

3. Đại học Y Cao Hùng (Kaohsiung Medical University – KMU)

Đại học Y Cao Hùng được chính thức thành lập vào năm 1954. Ngoài việc là Trường Đại học Y tư thục đầu tiên, Trường còn trở thành một cái nôi quan trọng đối với các bác sĩ tay nghề cao và các chuyên gia y khoa.

Học viện Y Cao Hùng nhận được sự cho phép của Bộ giáo dục chính thức đổi tên thành Đại học Y Cao Hùng vào 8/1999. Kể từ đó, Trường bao gồm 6 học viện: học viện Y, học viện Nha khoa, học viện Dược, học viện Điều dưỡng, học viện Khoa học y tế và học viện Khoa học đời sống.

Mục tiêu giáo dục của trường: Đại học Y Cao Hùng đảm nhiệm trách nhiệm đào tạo các sinh viên y khoa có đầy đủ kiến thức, kỹ năng, năng lực và trở nên cần thiết cho ngành y tế trên toàn Thế giới bằng cách hoàn thành lý tưởng của Hiệu trưởng Hsin-Su Yu “Giảng dạy xuất sắc, Nghiên cứu đổi mới, Chăm lo xã hội và Chủ nghĩa nhân văn cao”.

Tòa nhà Tuntex 85 tầng là biểu tượng kinh tế của Cao Hùng và cũng là điểm tham quan hấp dẫn dành cho du khách. Từ nhà ga tàu điện ngầm R9, bạn có thể bắt taxi qua tòa nhà 85 tầng gần ngay đó. Tại tầng 85 của tòa nhà, du khách có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh khu đô thị nhộn nhịp và vẻ đẹp của thành phốCao Hùng. Vé lên tầng 85 chỉ khoảng 150 NT, đây thực sự là một trải nghiệm tuyệt vời không thể bỏ qua.

Đây là một bảo tàng nằm trong Quận Diêm Thành, Cao Hùng. Tòa nhà được đặc trưng bởi phong cách kiến ​​trúc Hoàng gia Nhật Bản và ánh sáng màu xanh lá cây, màu sắc thường thấy của các căn cứ quân sự.

Nó có tổng đối xứng song phương giữa tháp chính với các tiểu tháp xung quanh. Trong đó, tòa tháp chính được đặt ở phía trên cùng của tầng thứ tư. Hầu hết các tòa tháp đều được cấu trúc bằng truyền thống bốn góc nhọn và mái ngói bằng kính. Thêm vào đó, các bức tường của tòa nhà được điêu khắc với các vật dụng trang trí tinh tế. Riêng phần các cửa sổ đã được thực hiện với các kỹ thuật kiểu thủ công tinh tế và khéo léo.

Tâm điểm của nội thất là các bậc cầu thang hình chữ Y vô cùng sang trọng và hợp thẩm mỹ được bố trí ở hai bên. Đi theo lối cầu thang, khách tham quan sẽ bắt gặp một mái hiên trần cao và hắt sáng được thiết kế ở phía đông và phía tây của các cột lớn. Những đồ vật trang trí tượng trưng cho quyền lực cầm quyền của Nhật Bản cũng được bố trí hài hòa giữa phía đông và phía tây.

Du khách có thể tìm đến địa danh này bằng cách đi bộ theo hướng đông bắc từ Trạm tàu ​​điện ngầm MRT Yanchengpu.

3. Phật Quang Sơn (FoKuangShan)

Do đạo Phật phát triển rất mạnh nên ở Đài Loan có rất nhều chùa chiền. Và Phật Quang Sơn là một trong những nơi thờ tượng Phật đẹp nhất nước. Khu thờ tự này trải dài trên một ngọn đồi ở ngoại ô thành phố Cao Hùng. Trên đỉnh đồi có tượng Phật vàng cao đên 36m, là tượng Phật cao nhất Đài Loan. Chùa còn nổi tiếng với 100 vạn bản Tâm Kinh được ghi chép bằng tay.

4. Chợ đêm Xin Jue Jiang

Chợ đêm được xem là một nét văn hóa không thể thiếu ở Đài Loan. Xin Jue Jiang là 1 chợ đêm sầm uất ở Cao Hùng,nằm ở trạm tàu điện R9 (Central Park). Chợ đêm Xin Jue Jiang bày bán đủ các loại quần áo, giày dép, mỹ phẩm made in Taiwan và Korea là chủ yếu với giá cả phải chăng.

Chợ đêm Xin Jue Jiang Cao Hùng

Chợ đêm RuiFeng nằm ngay trạm MRT R14 (Kaohsiung Arena). Đây là tập trung các quầy hàng phục vụ cho việc ăn uống, chơi bời của thế hệ lớp trẻ cho đến người cao tuổi tại thành phố Cao Hùng.

Ẩm thức thành phố cảng Cao Hùng nổi tiếng với những món ăn mang đậm tinh hoa văn hóa xứ Đài. Các khu chợ đêm khu chợ đêm RuiFeng, Xin Jue Jiang,… có những quán ăn vỉa hè, là nơi thưởng thức những món ăn vặt vặt tuyệt vời không thể bỏ qua. Ngoài những món ăn đường phố, bạn còn có thể thưởng thức những món đặc sản thành phố, sang trọng với giá khá “hạt dẻ”.

Các món ăn nổi tiếng bạn nhất định phải thưởng thức khi đến đây phải kể đến: Măng nướng, trứng tráng hàu, đậu phụ thối, lẩu, thịt rắn, hải sản chiên xào, thịt lợn chiên xù, chuối sữa, đu đủ sữa… .

Bạn có thắc mắc về chương trình XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐÀI LOAN và cần được giải đáp? Hãy NHẬP SỐ ĐIỆN THOẠI và yêu cầu gọi lại để được cán bộ tư vấn của công ty liên lạc hỗ trợ.

Giới Thiệu Thành Phố Bảo Lộc / 2023

Diện tích của Bảo Lộc là 23.256 ha, chiếm 2,38% diện tích toàn tỉnh Lâm Đồng. Phía Đông, phía Nam và phía Bắc giáp với huyện Bảo Lâm. Phía Tây giáp với huyện Đạ Huoai.

Dân số của Bảo Lộc chủ yếu là người kinh với 153.000 người/33.045 hộ; có 745 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 2,33% dân số.

– Năm 1958, Bảo Lộc được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng cũ, một vùng rộng lớn của tỉnh Đồng Nai Thượng ngày xưa, bao gồm cả huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên và huyện Bảo Lâm mới được tách ra và thành lập sau này. Vùng Bảo Lộc xưa là nơi sinh sống chủ yếu của người Mạ.

– Bảo Lộc đã được người Pháp đặt vấn đề khai thác khá sớm cùng một lúc với việc xây dựng đô thị Đà Lạt.

– Năm 1899, một phái đoàn người Pháp do ông Ernest Outrey chỉ huy mở một cuộc thám hiểm tìm hiểu khả năng vùng Đồng Nai Thượng và vạch một con đường nối liền vùng này với Bình Thuận.

– Ngày 1-11-1899, Toàn quyền Paul Doumer ký Quyết định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng, đặt tỉnh lỵ tại Djiring. Năm 1905, tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ, sáp nhập vào tỉnh Bình Thuận.

– Năm 1920, tỉnh Đồng Nai Thượng được tái lập, gồm có 3 quận: BLao (Bảo Lộc), Djiring (Di Linh) và Dran – Fyan (Đơn Dương).

– Ngày 19-5-1958, chính quyền Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng là Lâm Đồng và sau đó tách quận Dran ra khỏi tỉnh Lâm Đồng, sáp nhập vào tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng chỉ còn lại 2 quận: Bảo Lộc và Di Linh.

– Ngày 30-11-1958, Bảo Lộc được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng và công việc kiến thiết mở mang đô thị mới cũng bắt đầu phát triển mạnh từ thời gian này.

– Sau ngày thống nhất đất nước, huyện Bảo Lộc lần lượt tách thành các huyện Bảo Lộc, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên.

– Ngày 11-7-1994, Chính phủ quyết định chia huyện Bảo Lộc thành 2 đơn vị hành chính là thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm.

– Tháng 3-2009, Bảo Lộc được công nhận là đô thị loại III thuộc tỉnh và ngày 8-4-2010, Chính phủ đã ra Nghị quyết thành lập thành phố Bảo Lộc (trực thuộc tỉnh Lâm Đồng).

Địa hình thành phố Bảo Lộc có ba dạng địa hình chính: núi cao, đồi dốc và thung lũng.

– Phân bố tập trung ở khu vực phía Tây Nam thành phố Bảo Lộc, bao gồm các ngọn núi cao (từ 900 đến 1.100 m so với mặt nước biển) độ dốc lớn (cấp IV đến cấp VI). – Diện tích khoảng 2.500 ha, chiếm 11% tổng diện tích toàn thị xã.

– Bao gồm các khối bazan bị chia cắt mạnh tạo nên các ngọn đồi và các dải đồi dốc có đỉnh tương đối bằng với độ cao phổ biến từ 800 đến 850 m. – Độ dốc sườn đồi lớn (từ cấp II đến cấp IV), rất dễ bị xói mòn, dạng địa hình này chiếm 79,8% tổng diện tích toàn thành phố, là địa bàn sản xuất cây lâu năm như chè, cà phê, dâu.

– Phân bố tập trung ở xã Lộc Châu và xã Đại Lào, chiếm 9,2% tổng diện tích toàn thành phố. Đất tương đối bằng phẳng, nhiều khu vực bị ngập nước sau các trận mưa lớn, nhưng sau đó nước rút nhanh. – Vì vậy thích hợp với phát triển cà phê và chè, nhưng có thể trồng dâu và cây ngắn ngày.

Nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do ở nhiệt độ cao trên 800m và tác động của địa hình nên khí hậu Bảo Lộc có nhiều nét độc đáo với những đặc trưng chính như sau:

+ Nhiệt độ trung bình cả năm 21-22°C, nhiệt độ cao nhất trong năm 27,4°C, nhiệt độ thấp nhất trong năm 16,6°C.

+ Số giờ nắng trung bình 1.680 giờ/năm, bình quân 4,6 giờ/ngày (tháng mùa mưa: 2-3 giờ/ngày, các tháng mùa khô: 6-7 giờ/ngày), mùa khô nắng nhiều nhưng nhiệt độ trung bình thấp tạo nên nét đặc trưng độc đáo của khí hậu Bảo Lộc.

+ Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, lượng mưa trung bình hàng năm 2.513 mm, số ngày mưa trung bình cả năm 190 ngày, mưa nhiều và mưa tập trung từ tháng 7 đến tháng 9.

+ Độ ẩm trung bình hàng năm khá cao từ 80-90%. + Gió: gió chủ đạo theo hai hướng chính: o Gió Đông Bắc thịnh hành từ tháng 1 đến tháng 4 o Gió Tây Nam thịnh hành từ tháng 6 đến tháng 9

+ Nắng ít, độ ẩm không khí cao, nhiều ngày có sương mù, cường độ mưa lớn tạo nên những nét đặc trưng riêng cho vùng đất Bảo Lộc.

– Khác với Đà Lạt, Bảo Lộc được khai thác mạnh về nông nghiệp, công nghiệp. Nhiều nông trang, đồn điền đã được các tập đoàn người Pháp lập nên từ những năm 1930 -1940 để trồng chè, cà phê,… Về sau, nhân dân phát triển trồng cây dâu tằm, cây ăn quả. – Cây chè có một lịch sử khá lâu đời tại Bảo Lộc (trên 50 năm) đã khẳng định ưu thế tuyệt đối mặc dù có những bước thăng trầm nhất định do nhiều yếu tố khác nhau. Cho đến nay, cây chè Bảo Lộc vẫn tiếp tục phát triển về diện tích và sản lượng – Cà phê: Bảo Lộc có 6.144ha cà phê với sản lượng 8.478 tấn cà phê nhân, giữ vị trí thứ 4 sau Di Linh, Lâm Hà và Bảo Lâm. Đây là cây có giá trị xuất khẩu cao, rất thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai của Bảo Lộc.

– Cây dâu: Bảo Lộc là địa phương có điều kiện để đưa ngành dâu tằm tơ trở thành ngành kinh tế – kỹ thuật tiên tiến, có quy mô lớn, khép kín từ khâu nuôi tằm đến ươm tơ, dệt lụa. Hiện nay được sự đầu tư của Trung ương và địa phương, Liên hiệp Dâu tằm tơ Việt Nam là trung tâm thu hút vốn đầu tư kỹ thuật đã hình thành hệ thống công nghiệp cũng như kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh. Cây ăn quả cũng rất thích hợp và đem lại hiệu quả cao nhờ có đặc điểm là cho sản phẩm trái mùa với các tỉnh phía Nam. Đó là sầu riêng, chôm chôm, mít tố nữ, bơ,… Công nghiệp của thị xã Bảo Lộc chiếm trên 40% tỉ lệ công nghiệp của cả tỉnh Lâm Đồng, bao gồm các ngành chế biến trà, cà phê, se tơ, dệt, may mặc… Các nhà máy, xí nghiệp tập trung ở Khu Công nghiệp Lộc Sơn, Phường II và khu vực xã Đại Lào. Bảo Lộc là thủ phủ của ngành Dâu tằm tơ, có các nhà máy chế biến tơ tằm, ươm tơ dệt lụa nổi tiếng như nhà máy se tơ dệt lụa tơ tằm Á châu… Bảo Lộc có tiềm năng lớn về phát triển ngành khai thác và chế biến khoáng sản. Tại đây có trữ lượng lớn bô xít và cao lanh, trong đó bô xít có khoảng 378 triệu tấn với trữ lượng loại C1 (có hàm lượng Al2O3=44,69%; SiO2=6,7%) là 209 triệu tấn.

Bảo Lộc có nhiều thắng cảnh như đèo Bảo Lộc, thác Đam Bri, hồ Nam Phương, suối Đá Bàn, núi Đại Bình, suối Tân Thanh,… Bên cạnh các thắng cảnh thiên nhiên đó là những vườn, đồi trà thoai thoải xanh mượt, thỉnh thoảng vươn lên những hàng cây che bóng, phía sau là những ngọn núi cao đã làm cho Bảo Lộc càng thêm xinh đẹp, bao la, trù phú. Do có khí hậu mát mẻ quanh năm nên đây là nơi lý tưởng để xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng. Bảo Lộc có nhiều thác, hồ, suối đẹp như: Thác ĐamB’ri, thác bảy tầng, hồ Nam Phương, suối Đá Bàn… Khu du lịch ĐamB’ri nổi tiếng với thác nuớc hùng vĩ cao 57m và các cánh rừng nguyên sinh, là nơi có thể nghỉ dưỡng, cắm trại…

Bình Luận

Giới Thiệu Về Hà Tiên / 2023

Điều kiện và tự nhiên

Điều kiện tự nhiên: Thị xã Hà Tiên được thành lập vào ngày 01/9/1998, được chia thành 7 đơn vị hành chính, gồm 4 phường và 3 xã. Hà Tiên là một trong 14 huyện, thị và thành phố của tỉnh Kiên Giang, là một thị xã vừa có đất liền vừa có hải đảo và đồi núi nên thu hút rất nhiều khách tham quan. Đường biên giới Việt Nam – Campuchia ôm sát thị xã về phía bắc.

Địa giới hành chính thị xã Hà Tiên : Phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia; phía Tây và Tây Nam giáp Vịnh Thái Lan; phía Đông và Đông Nam giáp huyện Kiên Lương tỉnh Kiên Giang.

Khí hậu : Thị xã Hà Tiên nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa có nền nhiệt cao và ổn định, một năm chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.

Thổ nhưỡng : Tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Tiên là 8.142,72 ha. Bao gồm: đất nông nghiệp 5.969,11 ha (chiếm 73,31%); đất phi nông nghiệp 1.941,68 ha (chiếm 23,85%); đất chưa sử dụng 231,93 ha (chiếm 2,85%).

Tài nguyên thiên nhiên : Tài nguyên khoáng sản của thị xã Hà Tiên không nhiều, trên địa bàn thị xã có một số núi đá đáng kể về số lượng. Ngoài ra, còn có một số nguồn khoáng sản đá quý như: đá xây dựng, sỏi đỏ,… Dân cư : Hiện nay dân số toàn thị xã là 42.940 người, tổng số hộ là 7.454 hộ bao gồm 03 dân tộc cùng sinh sống là Kinh, Hoa và Khmer.

Về mặt văn hóa

– Về văn hóa trong giao tiếp, ứng xử : Con người Hà Tiên nhiều phẩm chất tốt đẹp, ngoài tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, còn biểu hiện đậm nét ở đức tính thật thà, chất phác, tôn trọng nghĩa tình và lòng mến khách.

– Về văn hóa lễ hội : Trước hết là lễ hội rằm tháng giêng, đây là tết nguyên tiêu của dân tộc, các địa phương trong cả nước đều tổ chức, riêng ở Hà Tiên đó còn là sự ra đời của Tao Đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tích thành lập năm 1736. Mặt khác theo truyền thống của địa phương rằm tháng giêng còn là ngày hái lộc đầu năm, rằm tháng Giêng thực sự là một ngày hội lớn của người dân Hà Tiên.

Thứ hai là Tết Thanh minh. Tết Thanh minh ở Hà Tiên cũng được tổ chức vào tháng ba âm lịch theo truyền thống chung của dân tộc, nhưng việc tổ chức thì lại có một số điểm rất riêng cả về không gian và thời gian. Ở các địa phương khác chỉ tổ chức vào một ngày duy nhất trong tháng ba hoặc tháng hai theo lịch, nhưng ở Hà Tiên coi ngày đó chỉ là ngày chính, còn việc tổ chức lễ tết được diễn ra trong một tháng. Không gian tổ chức lễ cúng cũng khác hơn các địa phương khác, ngoài việc con cháu thắp hương tưởng niệm ông bà, cha mẹ tại bàn thờ gia tiên, mâm cổ còn được đưa lên cúng tại mộ. Sau khi cúng xong, dọn ra gia đình, bạn bè cùng ngồi ăn uống trước mộ, để cho người quá cố cảm thấy vui vẻ, gần gũi với gia đình như khi còn sống. Vừa ăn uống vừa nhắc lại kỷ niệm, những tấm gương về đạo đức của người quá cố khi còn sống để giáo dục con cháu. Đây là một nét đẹp truyền thống của người dân Hà Tiên đến nay vẫn còn lưu giữ. Ngoài các lễ hội nói trên, Hà Tiên còn có các lễ hội đặc trưng khác như: Lễ hội Kỳ Yên, Lễ hội giỗ Đức khai trấn Quốc công Mạc Cửu, lễ hội tôn giáo tháng 7 âm lịch…

Tín ngưỡng tôn giáo : Thị xã Hà Tiên có các tôn giáo chính gồm: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, trong đó Phật giáo chiếm đa số. Thực hiện chủ trương của Đảng về chính sách khối đại đoàn kết dân tộc, trong những năm qua thị xã Hà Tiên luôn quan tâm công tác tôn giáo.

Danh lam thắng cảnh : Trên đất Kiên Giang nơi nào cũng có vẻ đẹp của thiên nhiên. Tuy nhiên, thắng cảnh Hà Tiên có những dáng nét riêng. Nói đến Hà Tiên, người ta thường nghĩ đến “thập cảnh” trong thơ Mạc Thiên Tứ: Kim Dữ lan đào, Đông Hồ ấn nguyệt, Bình San điệp thúy, Châu Nham lạc lộ, Tiêu Tự thần chung, Lộc Trĩ thôn cư, Nam Phố trừng ba, Giang Thành dạ cổ, Thạch Động thôn vân, Lư Khê ngư bạc. Ngày nay du khách tham quan gần xa đã từng biết Hà Tiên qua những danh lam thắng cảnh như: Thạch Động, hang Đá Dựng, bãi tắm Mũi Nai, khu vực núi Bình San, chùa tam Bảo, chùa Phù Dung, Đông Hồ, dừa 4 ngọn…

Di tích lịch sử : Tính đến nay, trên địa bàn thị xã Hà Tiên đã có 08 di tích được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, có 5 di tích cấp quốc gia là: Di tích lịch sử Nhà tù Hà Tiên, di tích thắng cảnh Thạch Động, Mũi Nai, Bình San, Đá Dựng và 03 di tích cấp tỉnh là: Di tích chứng tích chiến tranh chùa Xà Xía, di tích lịch sử văn hóa chùa Phù Dung, chùa Tam Bảo.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giới Thiệu Về Thành Phố Hà Giang Từ A Đến Z / 2023 trên website Tuvanduhocsing.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!