Đề Xuất 2/2023 # Khai Thác Then Việt Bắc Trong Phát Triển Du Lịch # Top 6 Like | Tuvanduhocsing.com

Đề Xuất 2/2023 # Khai Thác Then Việt Bắc Trong Phát Triển Du Lịch # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Khai Thác Then Việt Bắc Trong Phát Triển Du Lịch mới nhất trên website Tuvanduhocsing.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Việt Bắc được đánh giá là khu vực có hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn nổi trội gắn liền với các đặc trưng di sản văn hóa vùng, bên cạnh di sản văn hóa thiểu số Tây Bắc gắn với các dân tộc Thái, Mường. Những nét văn hóa truyền thống đã tạo nên bản sắc độc đáo đem đến sức hút hoạt động du lịch phát triển. Trong Chiến lược và Quy hoạch tổng thể Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, du lịch Việt Bắc là yếu tố đặc biệt tạo nên diện mạo du lịch vùng du lịch trung du và miền núi Bắc Bộ. Khu vực Việt Bắc đã xác định một trong những hướng đi quan trọng để phát triển du lịch chính là khai thác tiềm năng từ các giá trị di sản văn hóa, lịch sử, trong đó có Then Việt Bắc.

Then trong đời sống sinh hoạt, tinh thần của đồng bào Việt Bắc

Then là một hiện tượng có vị trí quan trọng trong kho tàng văn hóa dân gian của các tộc người thiểu số Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, tập trung chủ yếu ở vùng Việt Bắc, gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang.

Cho đến nay, những người yêu thích Then cũng chưa có định nghĩa thống nhất về Then. Song nhiều người đều có quan niệm tương đồng khi cho rằng Then là tiên (có nơi gọi là sliên), là người của trời. Họ là người giữ mối liên hệ giữa người trần gian với Ngọc Hoàng và Long Vương, nhằm giúp cho người trần gian cầu mong mọi sự tốt lành.

Hình thức sinh hoạt của Then đa dạng, phong phú, gắn với đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng của đồng bào Việt Bắc. Căn cứ vào nội dung, mục đích, có thể chia Then thành các loại: Then cầu mong (kỳ yên, giải hạn, cầu thọ, cầu hoa…); Then chữa bệnh (chỏi khẩy) để chuộc vía, gọi hồn, phá ngục để giữ yên bản mệnh; Then bói toán (đoán số mệnh, tìm nguyên nhân ốm đau, duyên tình lỡ dở); Then tống tiễn (slống vjác, slống bjoóc) làm lễ tiễn hồn người chết; Then cầu mùa, cầu đảo, diệt trùng; Then chúc tụng, ca ngợi (mừng nhà mới, thăng cấp, đám cưới, sinh con đầu lòng); Then cấp sắc (lẩu vứt, lẩu then).

Nhìn vào hình thức đa dạng phong phú của Then, có thể thấy, Then gắn bó mật thiết  đời sống sinh hoạt và các hoạt động tâm linh, tín ngưỡng của người Tày, Nùng vùng Việt Bắc. Việc lớn, việc nhỏ trong cuộc sống cá nhân, gia đình, cộng động gần như đều có sự xuất hiện của Then. Từ giải sầu, chữa bệnh, tang ma đến việc hỉ, trọng đại… Then là cầu nối của con người giao tiếp với thế giới thần linh, và thông qua Then, con người bày tỏ ước vọng tới các đấng linh thiêng. Then cũng là nơi gửi gắm những quan niệm về con người, thế giới tự nhiên và vũ trụ của đồng bào Tày – Nùng.

    Sức hấp dẫn của Then Việt Bắc

    Then Việt Bắc không chỉ là hơi thở cuộc sống, là sắc màu văn hóa độc đáo của dân tộc Tày, Nùng mà còn có sức hấp dẫn lớn đối với nhiều cộng đồng dân tộc trên dải đất hình chữ S và quốc tế. Sức hấp dẫn ấy, trước hết được chiết tỏa từ những yếu tố văn hóa dân gian hợp thành Then. Có lẽ đến giờ ít ai còn hồ nghi khi nói Then là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, bao gồm văn học, âm nhạc, múa, hội họa.

    Yếu tố văn học có thể thấy rõ trong ngôn ngữ Then thể hiện qua lời ca với thể thơ tự sự (phổ biến thất ngôn, ngũ ngôn) và tích truyện phong phú, thân thuộc với đời sống sinh hoạt và tín ngưỡng của đồng bào Tày – Nùng. Đó là câu chuyện đầy nước mắt về sự tích cây thanh thảo trong đoạn Giải vé; cây mía trong Then kỳ yên hay con ve sầu trong đoạn Sai quân pắt ngoảng (Sai quân bắt ve sầu)…, về cảnh quan quân then bắt quân (sluông) gồng gánh lễ vật vượt úi, vượt bể đi cống nạp trong Pây slử…

    Nói đến Then, là nói đến nghệ thuật âm nhạc. Âm nhạc trong Then là một loại hình tổng hợp gồm múa, âm nhạc, trang phục. Trong đó, múa là nghệ thuật đặc sắc. Yếu tố này luôn gắn với nghi lễ thực hành Then. Vũ điệu trong Then thật phong phú: múa chầu, múa chèo thuyền, múa sluông múa lọng tiéo (quét kiệu ngồi) múa phát tàng, múa đén, múa xiên, múa đàn sếu, múa kiếm, múa tán hoa, múa hái hoa… Có những động tác múa trong các điệu múa đơn giản mà uyển chuyển, nhịp nhàng như múa xiên, múa chèo thuyền.  Nhưng có động tác múa khó, yêu cầu phải điêu luyện (múa quần ngựa). Sự phong phú về động tác và điệu múa trong Then, còn phụ thuộc vào từng vùng, từng tài nghệ diễn xuất của các nghệ nhân. Nếu vũ đạo Then Lạng Sơn chắc, khỏe, nảy gọn, đặc biệt là những động tác nhảy lớn mạnh mẽ trên không; Then Tuyên Quang nhịp nhàng, điêu luyện mô phỏng động tác chèo thuyền trong điệu múa sluông thì múa Then Cao Bằng lại mềm mại, nhẹ nhàng, uyển chuyển. Mỗi kiểu múa, động tác múa đều có ngôn ngữ riêng, chuyển tải  thông điệp khác nhau.

    Ngoài múa, âm nhạc của Then còn được tạo bởi hai yếu tố căn bản là lời Then và nhạc cụ. Lời Then gắn với vào nội dung của loại hình Then, của cốt truyện, tích truyện. Tuy nhiên, nó không hoàn toàn phụ thuộc cứng nhắc vào “bổn then” (văn bản Then). Các nghệ nhân – người thực hành nghi lễ Then chỉ dựa vào “bổn then” như một cái sườn ý để ứng tác theo cảm xúc, cảm hứng của người làm Then, đắp đầy thêm lời ca, động tác diễn xướng dân gian. Thanh âm trầm bổng, lúc khoan lúc mau, khi da diết, khi rầm rập… trong nghi lễ Then truyền thống của người Tày Nùng, còn được làm nên bởi đàn tính và bộ xóc – hai nhạc cụ độc đáo, không thể thiếu trong bất cứ một cuộc Then, diễn xướng Then nào.

    Đàn tính hay còn gọi là “đàn then”, “tính tẩu” gắn với huyền thoại dân gian của đồng bào Tày, Nùng. Món quà trời ban tặng đã trở thành nhạc cụ được sử dụng chính trong hát then và đôi khi còn trở thành đạo cụ trong múa thiêng. Tính tẩu được coi như công trình nghệ thuật thẩm mỹ. Đẹp từ đầu đàn, tua đàn, dáng đàn, bầu đàn đến thanh âm. Đầu đàn thường được chạm khắc theo hình rồng, long mã, phượng hoặc một thứ hoa (hoa chuối) hoặc hình linh bài. Có khi được chạm khắc công phu hình “lý ngư vọng nguyệt” hoặc các chữ “phúc, thọ, ninh, khang”. Phía trên được trang trí bằng tua đàn cầu kỳ, đẹp mắt. Âm sắc của tính tẩu diễn tả rất nhiều cung bậc tình cảm bởi nghệ thuật đàn và cảm xúc của người hát – đồng thời cũng là người đàn. m thanh của lời ca, đàn tính đã tạo nên những giá trị vi diệu “Kẻ quá tàng nghìn tiểng lượn Then/Mừa rườn táng piến pần bảo ón” (Người già qua đường nghe tiếng hát Then/Về nhà sẽ biến thành đầu xanh tuổi trẻ) – Tục ngữ Tày.

    Bên cạnh giá trị độc đáo được tạo nên từ tính nguyên hợp văn hóa dân gian, Then còn hấp dẫn bởi màu sắc huyền bí của Shaman giáo. Những nghi lễ Then bao giờ cũng gắn với yếu tố tâm linh có sự đồng hiện của mô mình hai thế giới, cõi âm – cõi trần. Trong đó, Then đã dùng đến thứ ánh sáng diệu kỳ để hướng tới khát vọng về cuộc sống tốt đẹp, an lành.

    Tóm lại, Then là một phức thể văn hóa có nguồn gốc từ một loại hình tín ngưỡng phức hợp, đã và đang tiếp tục chuyển hóa theo hướng phân hóa và thế tục hóa; Then tích hợp trong đó nhiều loại hình nghệ thuật và lấy nghệ thuật diễn xướng làm phương tiện thực hành. Then Việt Bắc đã thể hiện đầy đủ bản chất nhân sinh qua việc phản ánh đời sống người Tày, Nùng trên một không – thời gian rộng lớn; chứa đựng vô vàn tri thức và thực hành xã hội Tày, Nùng: từ hệ thống quan niệm tín ngưỡng đến việc giải thích thế giới hiện thực khách quan; từ việc chuẩn bị đến tổ chức nghi lễ; từ việc bảo tồn đến phát huy các giá trị hiện có. Với những giá trị độc đáo như vậy, Then không chỉ là điệu tâm hồn của đồng bào Tày, Nùng mà còn là tiềm năng vô cùng phong phú trong việc phát triển du lịch văn hóa của khu vực.

      Khai thác giá trị văn hóa của Then Việt Bắc trong hoạt động du lịch

      Dưới góc nhìn du lịch, Then Việt Bắc được coi là thế mạnh độc đáo để phát triển, đặc biệt loại hình du lịch văn hóa tâm linh đặc sắc. Trong đó, các giá trị văn hóa tín ngưỡng trở thành nền tảng quan trọng để hình thành, phát triển hoạt động du lịch. Bởi, Then gắn với lịch sử tộc người, gắn với niềm tin tín ngưỡng và các hoạt động diễn xướng dân gian. Khai thác những yếu tố nguyên hợp, tích hợp  của Then với tư cách là loại hình văn hóa dân gian đặc sắc của dân tộc thiểu số (nghi thức, tích truyện, âm nhạc, nhạc cụ, trang phục…) để tạo ra điểm nhấn trong du lịch của khu vực Đông Bắc sẽ là một hướng phát triển tất yếu và hiệu quả. Với những giá trị độc đáo, nhiều mã số văn hóa kỳ thú, du khách sẽ được trải nghiệm không gian văn hóa tâm linh Tày Nùng – những cộng đồng dân tộc được xem là chủ thể văn hóa khu vực Đông Bắc. Tuy nhiên, chọn hướng đi, cách làm thế nào để vừa tạo điểm nhấn thu hút khách, vừa bảo tồn, không làm tổn thương đến Then, đó là bài toán không hề đơn giản. Thiết nghĩ, có mấy điểm cần chú ý sau:

      Thứ nhất, cần hướng tới khai thác sự khác biệt của mỗi vùng chúng tôi là loại hình văn hóa dân gian. Nó có mẫu số chung, nhưng cũng có những điểm sáng tạo riêng qua khả năng ứng tác của các nghệ nhân khi thực hành nghi lễ Then, của đặc trưng văn hóa từng vùng. Chẳng hạn, Then ở Cao Bằng khác Then Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang. Trong cùng một tỉnh nhưng Then ở mỗi huyện lại có điểm khác biệt về tình tiết trong tích truyện, nghệ thuật diễn xướng (lời ca, điệu múa…). Chẳng hạn, ở Lạng Sơn, Then ở mỗi huyện Tràng Định, Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Mịch, Văn Quan cũng có những điểm sáng tạo riêng trong vũ đạo, động tác, nghi lễ. Thậm chí, trong cùng một huyện như Tràng Định, then ở cánh đồng (Cáp Kẻ, Vàng Cai) khác với Then vùng đồi núi, thung lũng (Tân Tiến). Khai thác sự khác biệt của dòng Then, vùng Then chính là cách tạo ra điểm thu hút khách du lịch.

      Thứ hai, cần thu hút du khách bằng đa dạng hóa sản phẩm du lịch từ Then như kết hợp du lịch tâm linh với du lịch văn hóa – sinh thái, đặc biệt là phối hợp khai thác giá trị văn hóa của các di sản (cũng đã được công nhận) khác, kể cả của các dân tộc khác ở địa phương. Trong đó chú trọng:

      + Xây dựng các chương trình, tiết mục từ thực hành Then để phục vụ khách tham quan tại chỗ. Tìm chọn những trích đoạn Then cổ đặc sắc, có độ dài vừa phải, trong không gian văn hóa Tày – Nùng để biểu diễn. Chẳng hạn như các trích đoạn Tẳng tướng, Khảm hải, Pây slử, Khao sluông, Khao mạ, Vun hoa, Mởi nàng hai… Đồng thời, để tạo nên sức lôi cuốn cho du khách đến với các buổi biểu diễn Then, cần xây dựng các chương trình ca, múa nhạc có sự kết hợp hài hòa giữa Then cổ và Then mới, giữa nghệ nhân biểu diễn và du khách. Nên khai thác khả năng đặt lời mới, kể cả có cải biên, miễn sao cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, tạo điều kiện gắn bó hoặc gần gũi với du khách.

      + Thiết kế đồ lưu niệm gắn với thực hành Then như tranh, ảnh, các tờ bưu thiếp; các nhạc cụ, đạo cụ gắn với thực hành Then (đàn tính, xóc, mũ Then…); các con giống đeo chìa khóa xe, con cù treo ô tô theo hình con vật thiêng trong Then (chim én, ngựa, ve sầu, rồng, phượng và hươu nai, hoặc tua rua hình con ếch…); các hiện vật tâm linh gắn với thực hành Then các lá bùa cầu bình an của nhà Then, các loại dấu triện của Then đã được cách điệu thành móc chìa khóa hoặc cù treo ô tô, vòng buộc vía bằng kim loại, dây buộc vía bằng chỉ ngũ sắc, vòng tay phong thủy khắc hình dấu ấn nhà Then..). Ngoài ra, có thể sản xuất băng đĩa về hát Then do các nghệ nhân và nghệ sỹ biểu diễn…

      Giá trị văn hóa độc đáo, đặc sắc của Then Việt Bắc là một kho tàng quý báu, là trữ lượng văn hóa dồi dào để phát triển du lịch vùng Đông Bắc. Với xu hướng nhu cầu của khách du lịch hiện nay, tìm đến sự khác biệt, thậm chí sự khác biệt của khác biệt về văn hóa để khám phá, thưởng thức và trải nghiệm thì việc khai thác giá trị của Then Việt Bắc, đặc biệt thực hành Then – di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại – để phát triển du lịch vùng, quốc gia là một trong những hướng đi khả thi, hứa hẹn hiệu quả tốt đẹp./.

                                                                                                                                       Phương Thái

      MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG THEN

      Khai Thác Giá Trị Văn Hóa Việt Cổ Phát Triển Du Lịch

      Phát biểu khai mạc Hội thảo, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Ths. Nguyễn Mạnh Cường nêu rõ: “Các giá trị văn hóa cổ và văn hóa đương đại, đặc biệt các giá trị văn hóa Việt cổ là tài nguyên vô cùng quý giá để xây dựng nên những sản phẩm du lịch độc đáo mang bản sắc riêng, có khả năng cạnh tranh cao với sản phẩm du lịch của các nước trên thế giới… Cùng với thời gian, nhiều giá trị văn hóa đang bị mai một. Đây là một thách thức lớn đối với ngành Văn hóa trong công cuộc bảo tồn và ngành Du lịch trong phát huy giá trị, khai thác các giá trị văn hóa dân tộc…”.

      Làng Việt cổ Đường Lâm

      Đường Lâm là nơi duy nhất còn lưu giữ một quần thể vẹn nguyên của một làng quê cổ Việt Nam với cây đa, giếng nước, cổng làng, mái đình rêu phong, và đặc biệt là còn những ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi… là đất “hai vua” (Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, Ngô Quyền). Đường Lâm là ngôi làng đầu tiên của Việt Nam được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.

      có tuổi thọ trên 200 năm. Riêng làng Mông Phụ đã có trên 45 ngôi nhà gỗ cổ kính như vậy trên tổng số 200 ngôi nhà cổ ở Đường Lâm (Theo số liệu của BQL di tích làng cổ Đường Lâm, Đường Lâmcó gần 1000 ngôi nhà dân gian truyền thống trong đó có gần 300 ngôi nhà cổ có tuổi thọ trên 100 năm). Tiêu biểu nhất là đình làng Mông Phụ xây dựng cách đây trên 320 năm; hay nhà cổ của ông Nguyễn Văn Hang xây dựng từ năm 1770… Những ngôi nhà cổ được làm công phu có chạm khắc chi tiết hoa văn tinh xảo. Bên cạnh những giá trị lịch sử, hiếm một làng quê nào trên đất nước ta có tới 8 di tích được xếp hạng (có 7 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 01 di tích xếp hạng cấp tỉnh). Đình Mông Phụ đặc trưng cho ngôi đình Việt truyền thống (với những dấu tích kiến trúc, điêu khắc, văn tự của thời Hậu Lê, thế kỷ 18 và có thể sớm hơn); chùa Mía được Bộ Văn hóa – Thông tin (cũ) xếp vào loại đặc biệt quan trọng và nổi tiếng với một hệ thống tượng phật đặc sắc (hiện tại trong chùa còn lưu giữ được 287 pho tượng lớn nhỏ, gồm 6 tượng đồng, 107 tượng gỗ và 174 pho tượng đất). Ngoài ra, Đường Lâm có những ngôi đình cổ có giá trị cao về kiến trúc nghệ thuật (được xây cất bằng chất liệu đá o­ng, rất đặc trưng của xứ Đoài) Không những thế, Đường Lâm còn bảo lưu được một khối lượng di sản văn hóa phi vật thể rất phong phú, như: lễ hội, phong tục tôn vinh các anh hùng dân tộc; lưu giữ hơn hai nghìn trang văn bản Hán Nôm (ghi chép về thần phả của làng, gia phả của các dòng họ, cùng bia ký…, sắc phong, hoành phi, câu đối, văn tự trên các bản khắc gỗ…); các sinh hoạt văn hóa của các dòng họ, phường hội, phe giáp; những hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian, như: các nghi lễ hội cá (gỏi cá), tế gà (gà Mía), trò chơi bắt vịt, đánh đu, hát nhà trò (hát ca trù – Đoài Giáp), rước đèn, cờ người…; văn hóa ẩm thực ở đây cũng rất đa dạng, với những đặc sản, như gà Mía, chè Đông Viên, chè Cam Lâm, mía, mật, tương, kẹo bột Đông Sàng… Tất cả đã cấu thành “diện mạo” của làng cổ Đường Lâm, xứng đáng được mệnh danh là “một làng cổ Việt Nam điển hình, độc đáo về nhiều phương diện, rất cần được trân trọng gìn giữ, bảo tồn dài lâu, bền vững cho hôm nay và cho mai sau”.

      Làm thế nào để thu hút khách đến với Đường Lâm?

      Đại diện các hãng lữ hành đều có chung một quan điểm, về mặt giá trị văn hóa, không thể phủ nhận giá trị to lớn về phát triển các sản phẩm du lịch trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa Việt cổ tại Đường Lâm. Tuy nhiên, nhiều đại biểu tỏ ra lo lắng việc quy hoạch, xây dựng, tổ chức quản lý và khai thác giá trị văn hóa cho phát triển du lịch ở làng cổ Đường Lâm.

      Giám đốc Chi nhánh Hà Nội của Công ty Liên doanh du lịch APEX Việt Nam Nguyễn Tuấn Việt cho biết: nhiều du khách thắc mắc, gọi là làng cổ mà lại thấy có nhiều nhà xây theo lối mới, bê tông, mái bằng, các bể nước Inox lô nhô, dọc con đường chính vào làng; xe máy chạy nhanh, thỉnh thoảng lại có chiếc ô tô chạy trong làng…

      Việc công nhận di tích làng cổ Đường Lâm bước đầu giúp cho du lịch Đường Lâm có thương hiệu. Tuy nhiên, cần lựa chọn những giá trị văn hóa đặc sắc để phát triển sản phẩm du lịch. Theo chúng tôi Nguyễn Quốc Hùng – Cục Di sản Văn hóa, việc tôn tạo một số ngôi nhà cổ và đình làng Mông Phụ với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế đã đem lại thành công bước đầu; tiếp theo cần phải có quy hoạch tổng thể cho toàn bộ di tích, hạn chế tối đa việc xây dựng bê tông, mái bằng, sơn quét lòe loẹt… làm mất mỹ quan, phá hoại không gian làng cổ. Vật liệu đá ong là loại gạch truyền thống của làng, cần được khuyến khích sử dụng. Các vật liệu mới như bình inox, nhôm kính cần được vận động thay thế bằng những vật liệu phù hợp với không gian làng cổ.

      Việc tổ chức giao thông trong làng có thể nghiên cứu các mô hình vận chuyển khách thô sơ bằng xe trâu, xe ngựa kéo, cho thuê xe đạp… vừa hấp dẫn, vừa để phục vụ khách nước ngoài.

      Nhiều ý kiến cho rằng, cần phục hồi và tái tạo nghề truyền thống vốn có của làng để phục vụ du khách như nghề làm đậu tương, đan lát, trồng lúa, trồng rau… du khách đến đây không chỉ xem kiến trúc làng Việt cổ, mà được tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày của người dân; tổ chức các tour tìm hiểu mô hình khai thác gạch đá ong tại Đường Lâm và vùng phụ cận.

      Khuyến khích người dân đầu tư, cải tạo nhà cửa thành các cơ sở lưu trú du lịch để khai thác loại hình du lịch ngủ tại nhà dân “Home stay”, để khách có thể sống chung với người dân, kéo dài thời gian lưu trú của du khách. Hiện nay ở trong làng đã có một số nhà dân phục vụ cơm trưa cho khách du lịch, rất nhiều khách thích thú bữa cơm quê trong không gian nhà cổ với cơm cà muối, cá kho, đậu phụ, rau muống luộc… và tráng miệng bằng bát nước trà xanh và chè kho.

      Theo Giám đốc Công ty Hỗ trợ Du lịch Đỗ Đình Cương, cần tập trung đầu tư cho đội ngũ thuyết minh viên tại điểm, vì phần lớn các di tích văn hóa (đặc biệt là văn hóa Việt cổ) đều nằm trong không gian phát triển du lịch cộng đồng, mà mục tiêu phát triển loại hình du lịch này nhằm xóa đói giảm nghèo, với mục đính thu hút càng nhiều người dân địa phương tham gia càng tốt. Do vậy, tập trung đào tạo đội ngũ thuyết minh viên tại điểm chính là phát triển du lịch cộng đồng một cách hiệu quả.

      Du khách đến với Đường Lâm rất muốn tìm hiểu văn hóa Việt cổ (cả văn hóa vật thể và phi vật thể), đó là khẳng định của Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam chúng tôi Nguyễn Chí Bền. Tuy nhiên, không phải du khách nào cũng có nhiều thời gian, do đó, cần có những cuốn sách hướng dẫn, tập gấp và đĩa VCD cung cấp thông tin đầy đủ từ tổng thể cho đến chi tiết về làng cổ Đường Lâm để giới thiệu với du khách.

      Ths. Bùi Thanh Thủy – Phó Trưởng khoa Văn hóa Du lịch, Đại học Văn hóa Hà Nội đề xuất: cần xem xét vấn đề phát triển dịch vụ biểu diễn nghệ thuật truyền thống (múa rối nước, chèo, tuồng…) tại các điểm di tích ở làng cổ Đường Lâm; đưa du khách tiếp cận với những làn điệu dân ca ở sân khấu ngoài trời, trong một khung cảnh khoáng đạt của làng quê thuần Việt sẽ để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng du khách.

      Những ý kiến của các nhà quản lý và kinh doanh du lịch tại hội thảo mang tính đột phá nhằm khắc họa mô hình xây dựng sản phẩm du lịch mẫu trong khuôn khổ Chương trình hành động Quốc gia về Du lịch tại làng cổ Đường Lâm – sản phẩm được xây dựng trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa Việt cổ Đường Lâm, hy vọng mô hình sản phẩm sẽ được nhân rộng trong cả nước…/.

      ĐỨC NGUYỄN

      Khai Thác Lễ Hội Truyền Thống Trong Phát Triển Du Lịch Ở Cao Bằng

      Ngày đăng: 21/05/2015, 13:59

      KHAI THÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở CAO BẰNG NGUYỄN THỊ ĐỨC Tóm tắt Lễ hội truyền thống là một trong những loại hình di sản độc đáo và mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Ở Cao Bằng, có nhiều dân tộc sinh sống nên hệ thống lễ hội đa dạng, phong phú; lễ hội lịch sử, lễ hội đền, lễ hội chùa. Những lễ hội đều gắn với tín ngưỡng linh thiêng, huyền bí, thu hút sự quan tâm của nhiều người. Cùng với phong cảnh núi non hùng vĩ, những kiệt tác thiên nhiên như động Ngườm Ngao, thác Bản Giốc…, hệ thống lễ hội và những sinh hoạt văn hoá đậm bản sắc dân tộc độc đáo, khiến Cao Bằng ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn của khách du lịch. Tuy nhiên, Cao Bằng với những tiềm năng, thế mạnh du lịch hiện đang còn như một con hổ ngủ ngày, đòi hỏi sự quan tâm đầu tư thích đáng, quy hoạch và quảng bá rộng rãi. Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Cao Bằng có núi rừng, sông suổi trải dài hùng vĩ, bao la. Vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt mỹ với nhềiu danh lam thắng cảnh cùng những di tích lịch sử nổi tiếng chính là những thế mạnh trong phát triển du lịch. Đặc biệt của nhiều dân tộc (Tày, Nùng, Mông, Hoa, San Chỉ, Lô Lô…) càng khiến cho Cao Bằng trở thành điểm hẹn du lịch đầy hấp dẫn. Lễ hội truyền thống ở Cao Bằng là một trong những loại hình di sản độc đáo và mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Ở đó thể hiện rất rõ đời sống văn hoá tâm linh, những quan niệm nhân sinh và các sinh hoạt văn hoá dân gian khác. Chính vì thế lễ hội là một trong những loại hình văn hoá đặc biệt, có sức thu hút lớn đối với khách du lịch trong và ngoài nươc.s Lễ hội truyền thống ở Cao Bằng diễn ra hàng năm, chủ yếu là vào mùa xuân, mùa của sinh sôi nảy nở. Khi ấy là lúc khí hậu, cảnh sắc thiên nhiên đẹp nhất. Con người thong thả, an nhàn qua một năm vất vả, bắt đầu chuẩn bị cho những mùa vụ tiếp theo. Đây cũng là lúc thuận tiện nhất cho các hoạt động, sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Do có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống nên ở Cao Bằng có khá nhiều lễ hội mang những nét đặc trưng riêng của các dân tộc khác nhau. Tuy vậy, nhìn chung các lễ hội đều mang tính nhân văn sâu sắc, hướng thiện, cầu phúc, cầu lộc, cầu mùa, trừ tà và mong muốn cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp. Bên cạnh đó, còn có các lễ hội tôn vinh những anh hùng chống giặc ngoại xâm, các lễ hội thực hiện các nghi lễ, tập tục của dân tộc… Ở Cao Bằng, hàng năm có rất nhiều lễ hội nhưng có thể kể đến những lễ hội lớn, có tầm ảnh hưởng rộng và thu hút đông đảo người dân trong vùng cũng như khách thập phương như: Lễ hội Lồng tồng, lễ hội Nàng Hai, lễ hội đền Kỳ Sầm, đền Vua Lê, lễ hội chủa Đà Quận, chùa Giang Động, lễ hội pháo hoa. Lễ hội Lồng tồng Là lễ hội quan trọng nhất trong năm của đồng bào người Tày, Nùng, được tổ chức từ ngày mồng 4 đến ngày mồng 10 tháng giêng. Sau những ngày vui xuân chấm dứt, các bản làng người Tày lại nhộn nhịp chuẩn bị cho lễ hội Lồng tồng. Gắn liền với nền nông nghiệp trồng trọt, lễ hội Lồng tồng được tổ chức nhằm gửi gắm những mong ước của con người, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, đời sống luôn no ấm. Lồng tồng theo tiếng Tày – Nùng hay Lồng tộng theo tiếng Dao có nghĩa là xuống đồng. Đây là một lễ hội mang đậm dấu ấn của nền sản xuất nông nghiệp từ phần nghi lễ khi hội, các nghi thức, sản vật dân cúng đến các trò chơi trong lễ hội. Sau khi thức dân hương kính cáo các vị thần, chủ lễ vạch một đường cày đầu năm, bắt đầu cho cuộc sống nông tang, cày bừa, cấy hái. Dù được tổ chức với quy mô lớn hay nhỏ, phần lễ vẫn giữ nguyên các nghi thức từ xa xưa. Mở đầu bằng lễ cầu mùa: thày cúng đọc các bài khấn và thực hiện nghi thức tạ thiên địa, cầu thần nông, thần núi, thần suối và Thành hoàng, những vị thần bảo hộ cho mùa màng và sức khoẻ, sự bình yên của dân làng. Trong lễ hội, mỗi sản vật được dâng cúng đều mang một ý nghĩa thể hiện sự giao hoà của trời đất, thành quả của lao động. Lễ vật chung của dân bản gồm một bát nước, một đĩa xôi đỏ, một đĩa xôi vàng, một con gà luộc, một xâu cá nướng, một bát tiết luộc, một con dao nhọn, một bó vải mới dệt, hai con cá bằng giấy màu vàng, hai con chim cú bằng giấy màu đỏ, hai chùm hoa bằng bỏng gạo cắm trên bẹ chuối, hai chùm quả của cây bồ đao. Xôi đỏ tượng trưng cho mặt trời, xôi vàng tượng trưng cho mặt trăng, chùm quà của cây bồ đao tượng trưng cho hạt gạo… Đặc biệt, mâm cỗ cúng của các gia đình còn có thêm đôi quả còn với tua rua nhiều màu sắc sặc sỡ rất đẹp. Tất cả đều là những biểu hiện của sự sinh sôi nảy nở và gửi gắm những ước mơ khát khao về cuộc sống ấm no an lành. Một hồi chiêng vang lên, thày mo thắp hương, đọc lời khấn và bắt đầu những nghi lễ. Thày mo tay cầm nậm nước làm bằng vỏ bầu khô (do các thiếu nữ đẹp nhất, còn trinh trắng của các bản mường lấy về từ đầu nguồn) ngửa mặt lên trời cầu khấn rồi vảy nước ra khắp bốn phương. Đó cũng là thứ nước tượng trưng cho nước thiêng từ Mường trời tưới xuống nhân gian cho cây cối tươi tốt, cho mùa màng sinh sôi, cho cuộc sống ấm no. Các hoạt động trong lễ hội là những sinh hoạt văn hoá dân gian hết sức cuốn hút. Đó là hội tung còn, thi hát Sli, hát Lượm, cùng nhiều trò chơi như đi cà kheo, đánh quay, đánh yến, đá cầu, đẩy gậy, đánh đu, chọi gà… Trò ném còn luôn là tâm điểm của ngày hội này. Để chuẩn bị cho hội tung còn ở giữa đám đông lớn, người ta dựng một cây mai cao làm cột, trên đỉnh cột có uốn vòng tròn đường kính khoảng 50 – 60 cm dán giấy mỏng màu hồng, hai mặt tượng trưng cho Âm – Dương. Tung còn đòi hỏi cả sức khoẻ và sự khéo léo. Khi quả còn được tung lên, ném trúng vòng tròn và xuyên thủng làm rơi giấy là âm – Dương giao hoà, cuộc sống sẽ sinh sôi, mùa màng sẽ bội thu. Người con gái nào bắt được quả còn thì năm đó sẽ gặp may mắn trong đường nhân duyên. Việc tung còn trúng vòng tròn, xuyên thủng và rơi giấy âm dương có ý nghĩa rất quan trọng, coi như lời cầu nguyện linh ứng, coi như lễ hội đã thành công. Vì thế, nếu ném còn mà không thủng, không rơi thì phải dùng tên bắn để giấy Âm – Dương rơi xuống. Những nghi lễ độc đáo, những trò chơi hấp dẫn đầy ý nghĩa trong lễ hội Lồng tồng luôn là những yếu tố thu hút khách du lịch gần xa. Vì thế vào dịp năm mới khắp vùng núi phía Bắc nói chung và Cao Bằng nói riêng luôn tấp nập du khách gần xa. Lễ hội Lồng tồng luôn để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng những ai đã từng tham dự, khiến họ khi trở về luôn mang theo nỗi nhớ khó quên hoặc sự tiếc nuối để hẹn lại mùa xuân năm sau. Lễ hội Nàng Hai Là lễ hội của dân tộc Tày, được bắt đầu vào tháng giêng và kéo dài đến trung tuần tháng ba. Theo tín ngưỡng dân gian của người Tày thì trên cung trăng có mẹ trưng và các nàng tiên. Mẹ cùng các nàng chăm lo bảo vệ mùa màng cho dân. Vì thế, hội Nàng Hai được tổ chức với ý nghĩa tượng trưng là đón mẹ trăng cùng các nàng tiên xuống trần gian để giúp con người trong công việc làm ăn sinh sống. Để tổ chức hội, trong bản phải chọn một phụ nữ trung tuổi, có gia đình hạnh phúc, cuộc sống vẹn toàn và đặc biệt là phải hát hay, hát giỏi để làm mẹ trăng. Chọn 12 đến 18 cô gái trẻ đóng vai các nàng tiên. Trong số những cô gái ấy, chọn 2 cô đẹp nhất làm hai chị em trăng. Để bắt đầu, người ta chọn 2 thiếu niên nam khoẻ mạnh dẫn lễ đi trước, mở đường cho cuộc hành trình của mẹ trăng và các nàng tiên lên trời. Lễ cúng đón mẹ trăng và các nàng xuống trần được tiến hành trong 12 đêm, mỗi đêm cúng mời một mẹ trăng, mỗi mẹ trăng phụ trách một công việc. Mẹ thì bảo quản giống lúa, mẹ thì coi giống bông, mẹ coi giống tăm, mẹ trông coi sâu bọ, mẹ lo chuyện tưới nước… Sau khi đã cầu hết các cửa,m xin các mẹ đầy đủ các giống cây, giống con, điều kiện mưa thuận gió hoà thì dân bản tổ chức tiễn các mẹ trăng về trời. Họ hát các bài hát chia tay lên bổng xuống trầm, múa những điệu múâ đưa của cải lên thuyền cho mẹ và các nàng trăng về trời. Đây là một lễ hội đặc biệt với những nghi thức và làn điệu “Lượn hai” hết sức độc đáo của dân tộc Tày. Ngoài ra, trong năm, Cao Bằng còn có khoảng trên 10 lễ hội khác như: lễ hội đền Kỳ Sầm, đền Vua Lê, chùa Đà Quận, pháo hoa… mỗi lễ hội lại có một nét riêng, độc đáo đầy sức cuốn hút. Lễ hội đền Kỳ Sầm Đền Kỳ Sầm thờ Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao ở xã Tượng Cần, huyện Thạch Lâm nay là Bản Ngần, xã Vĩnh Quang, huyện Hoà An, cách trung tâm thị xã Cao Bằng 5 km. Đền được xây dựng để thờ danh nhân lịch sử Nùng Trí Cao, người dân tộc Tày, một nhân vật có liên quan đến sự nghiệp giữ nước ở thời Lý (vua Lý Thái Tông thế kỷ XI). Nùng Trí Cao là một thủ lĩnh địa phương cầm đầu cuộc nổi dậy ở vùng biên cương, tự xưng là Nhân Huệ hoàng đế. Ông đã có một thời oanh liệt, đánh tan giặc Tốnt xâm lược, tiến quân sang chiếm được 8 châu đất Quảng Đông, Quảng Châu, lưu danh trong lịch sử, là niềm tự hào của người dân Cao Bằng. Ông được triều Lý sắc phong “Kỳ Sầm đại vương”, triều Nguyễn sắc phong “Kỳ Sầm biên tái, bảo quốc an dân, phúc thần”. Hàng năm lễ hội được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng giêng Âm lịch, thu hút mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh đến trảy hội, vui xuân, với nhiều trò chơi như: tung còn, đấu vật, đấu võ, đá bóng, múa sư tử, múa rồng, múa lân… Ở nhiều địa phương khác trong tỉnh, nhân dân cũng lập đền thờ ông. Tượng người anh hùng dân tộc Nùng Trí Cao, tay cầm gươm tuốt trần ngồi trên chiến mã như sẵn sàng chống lại sự nhòm ngó của người phương Bắc được người dân vùng biên cương hương khói quanh năm để tỏ lòng ngưỡng mộ. Lễ hội đền Vua Lê Đền Vua Lê nằm ở phía Tây Bắc, cách trung tâm thị xã Cao Bằng 11 km, thuộc làng Đền, xã Hoà Tung, huyện Hoà An. Đền được xây dựng trên một gò đất cao phía Bắc thành Nà Lữ do Nùng Tông Phúc dựng lên vào thời nhà Lý (thế kỷ XI), được gọi là gò Long (tức gò Rồng). Trong thành Nà Lữ có bốn gò đất nổi lên được các triều đại phong kiến đặt tên là Long, Ly, Quy, Phượng. Giữa thành có ao sen và ruộng bàn cờ. Đền thờ vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi Cao Hoàng đế), dưới triều đại phong kiến, vừa là cung điện, vừa là trung tâm hoạt động kinh tế – văn hoá, quân sự của các vua quan. Trước cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đền vua Lê cũng là một di tích lịch sử gắn liền với những hoạt động của Đảng ta trong thời kỳ vận động cách mạng dân tộc, dân chủ. Tại đây, đồng chí Hoàng Đình Giong đã đứng ra thành lập “Đoàn thanh niên phản đế” (năm 1936). Hiện nay, đền vua Lê được xem là một di tích có giá trị và là nơi diễn ra lễ hội, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ của nhân dân nơi đây. Lễ hội được tổ chức vào ngày 6 tháng giêng âm lịch hàng năm. Lễ hội chùa Đà Quận Chùa ở làng Đà Quận, xã Hưng Đạo, huyện Hoà An, xưa là thôn Đà Quận (mang tên Đà Quận công Mạc Ngọc Liễn – danh tướng nhà Mạc, xã Xuân Lĩnh, châu Thạch Lâm, đối diện với chùa Viên Minh (chùa sáng lập từ thời nhà Mạc). Trong chùa có hai quả chuông cao bốn thước, năm tấc, chu vi tám thước chín tấc, ước nặng nghìn cân. Mỗi kỳ tế lễ xuân thu thì gõ chuông, chuông vang như sấm, chấn động trăm dặm. Trên chuông thần có đúc bài minh bằng chữ Hán ca ngợi vẻ đẹp của Châu Thạch Lâm lúc bấy giờ và sự phục hồi của chùa Việt Minh sau khi nhà Lê khôi phục lại đất Cao Bằng. Hàng năm cứ đến mùng 9 tháng Giêng, nhân dân Cao Bằng đi trẩy hội chùa này. Lễ hội chùa Giang Động Chùa thuộc xã Hồng Việt, huyện Hoà An tỉnh Cao Bằng, cách trung tâm thị xã Cao Bằng khoảng 20 km. Chùa có treo một cái trống, một cái chuông to, là nơi rất linh thiêng, thờ thần đá và thần sông, được xây dựng vào khoảng năm 1429. Hàng năm, lễ hội chùa Giang Động diễn ra vào ngày 15 tháng giêng âm lịch, đây là dịp để nhân dân trong vùng đến cầu may, cầu phước mỗi độ xuân về. Lễ hội pháo hoa Tại thị trấn Quảng Yên được tổ chức vào ngày mồng 2 tháng 2 âm lịch. Hội pháo hoa Quản Uyên đã có từ lâu đời với màn độc đáo nhất là tranh đầu pháo hoa đầu xuân. Các xã thành lập đội để tranh cướp chiếc vòng sắt được trang điểm bằng tua ngũ sắc rực rỡ (tượng trưng cho đầu pháo hoa) với quan niệm rằng xã nào giành được chiếc vòng sẽ gặp may mắn, tốt lành và phát tài, phát lộc. Vì thê,s hội pháo hoa luôn thu hút nhiều chàng trai khoẻ mạnh trong huyện về tranh đầu pháo hoa (tranh vòng) cầu phúc. Các lễ hội dân gian truyền thống ở Cao Bằng tổ chức chủ yếu ở quy mô làng xã và mang đậm nét văn hoá của các dân tộc. Các lễ hội này được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, các trò chơi dân gian được khôi phục, kết hợp với các hoạt động văn hoá thể thao như bóng đá, bóng chuyền, văn nghệ quần chúng, đã tạo thêm nét tưng bừng cho ngày hội. Mỗi địa phương tuy cùng một chủ đề lễ hội, nhưng do điều kiện tự nhiên, xã hội, văn hoá khác nhau nên cách thức tổ chức các lễ hội cũng khác nhau. Điều đó càng làm tăng thêm sự đa dạng, phon g phú cho các loại hình lễ hội ở Cao Bằng. Đồng thời lễ hội cũng là nơi bảo tồn, giữ gìn những giá trị của văn hoá, nghệ thuật truyền thống. Những câu hát Then, điệu hát Sli, Lượn, Phongslư, Dá Hai, Hà Lều… với những giai điệu ngọt ngào, da diết cùng những trò chơi dân gian thực sự hấp dẫn là những tiềm năng du lịch văn hoá rất lớn của vùng đất Cao Bằng. Nhằm khai thác những tiềm năng du lịch trở thành những sản phẩm du lịch, điểm hẹn du lịch hấp dẫn, ngành du lịch Cao Bằng cần có những giải pháp cụ thể và một kế hoạch đầu tư dài hạn. Trước hết, cần nhận thức rõ bản sắc địa phương của tài nguyên du lịch thiên nhiên và văn hoá như là mặt hấp dẫn của điểm đến du lịch. Trên cơ sở đó tiến hành rà soát các tài nguyên du lịch văn hoá nổi trội (trong đó có các lễ hội) mang đặc thù riêng của địa phương Cao Bằng để quy hoạch một chương trình phát triển du lịch. Đặc biệt, phát triển các loại hình du lịch theo hướng khai thác các thế mạnh của địa phương như: du lịch gắn với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ của núi rừn, sông suối, ghềnh thác ở Cao Bằng; xây dựng tuyến du lịch gắn với văn hoá, lịch sử. Khôi phục và khai thác, giới thiệu các di tích văn hoá, lịch sử đã bị thời gian và chiến tranh tàn phá, chẳng hạn như đền Tam Trung (nay ở đường Lê Lợi – thị xã Cao Bằng) thờ ba vị đầu tỉnh: Bố chánh Bùi Tăng Huy, Án sát Phạm Đình Trạc, Lãnh binh Phạm Văn Lưu. Năm 1833, ba vị quan này không phá nổi cuộc vây hãm thành của Nông Văn Vân nên đã tự sát. Dẹp xong loạn, vua Minh Mạng ban chiếu tuyên dương là trung t hần và cho lập đền thờ mang tên đền Tam Trung. Hoặc như đền Kim Pha, tức đền Bà Hoàng, thờ mẹ Nùng Trí Cao, người đã được nhà sử học Mỹ James A.Anderson đánh giá ngang tầm Bà Triệu vì đã cùng con trai dám chủ trương đem quân đánh đuổi Đại Tống, đòi đất chia trả cho dân nước Nam… Trước mắt tỉnh cần có sự đánh giá thống nhất, kế hoạch phục chế, xây dựng những di tích này, đồng thời tích ực tuyên truyền, quảng bá các sản phẩm du lịch văn hoá, lịch sử trên các phương tiện thông tin đại chúng, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường, tăng cường nguồn đầu tư về cơ sở vật chất, khai thác các giá trị văn hoá dân tộc độc đáo, đặc sắc phục vụ cho phát triển du lịch. Ngành du lịch Cao Bằng cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ cảnh quan môi trường của các điểm du lịch, nâng cao nhận thức của cộng đồng cư dân bản địa và khách du lịch trong việc bảo tồn, duy trì, tôn tạo các di tích văn hoá, lịch sử, giữ gìn thuần phong mỹ tục, giữ gìn những giá trị văn hoá nguyên bản của địa phương, giảm thiểu những tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch đến môi trường văn hoá hoặc thương mại hoá văn hoá bản địa. Riêng đối với công tác quản lý lễ hội các cơ quan chức năng cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa ngành du lịch với các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể ở địa phương để triển khai tổ chức lễ hội trật tự, an toàn, đảm bảo không khí linh thiêng, chống mê tín dị đoan cũng như việc khôi phục nguyên bản những hoạt động văn hoá dân gian của lễ hội. Ngành văn hoá và du lịch tỉnh cần tăng cường đầu tư, nâng cấp, tôn tạo và bảo vệ di tích, danh thắng, tổ chức các hoạt động văn hoá truyền thống tạo thành sản phẩm du lịch để thu hút và lưu giữ khách, đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, quan tâm phát huy vai trò của các già làng, trưởng bản, khuyến khích nhân dân để họ tích cực tham gia bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc trong đó có những giá trị văn hoá của các lễ hội dân gian của đồng bào các dân tộc, tạo nên sự đa dạng và phong phú cho các sản phẩm du lịch. N.T.Đ Tài liệu tham khảo 1. Cổng thông tin điện tử Cao Bằng. 2. Nguyễn Quang Lê, Thử tìm hiểu mối quan hệ giữa lễ hội với các tín ngưỡng dân gian, Tạp chí Văn hoá dân gian, Số1, 1994. 3. Lê Hồng Lý. Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2008. 4. Bùi Thiết, Từ điển lễ hội Việt Nam, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2000. 5. Ngô Đức Thịnh, Những giá trị văn hoá của hội cổ truyền và nhu cầu của xã hội hiện đại, Tạp chí Nghiên cứu văn hoá nghệ thuật, Số 1, 1993. 6. Lê Hùng Phi, Khai thác giá trị lịch sử di sản văn hoá để phát triển du lịch, Tạp chí Du lịch Việt Nam, Số 5, 2009. 7. Trang Vi-Wikipeda.org, Nùng Trí Cao nhân vật lịch sử. . KHAI THÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở CAO BẰNG NGUYỄN THỊ ĐỨC Tóm tắt Lễ hội truyền thống là một trong những loại hình di sản độc đáo. những tiềm năng du lịch văn hoá rất lớn của vùng đất Cao Bằng. Nhằm khai thác những tiềm năng du lịch trở thành những sản phẩm du lịch, điểm hẹn du lịch hấp dẫn, ngành du lịch Cao Bằng cần có. mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Ở Cao Bằng, có nhiều dân tộc sinh sống nên hệ thống lễ hội đa dạng, phong phú; lễ hội lịch sử, lễ hội đền, lễ hội chùa. Những lễ hội đều gắn với tín ngưỡng linh

      Giải Pháp Khai Thác Tài Nguyên Nhân Văn Trong Phát Triển Du Lịch Hà Tĩnh

      Phân loại tài nguyên du lịch

      Tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch và là cơ sở phát triển của ngành du lịch. Mọi nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của khách du lịch được ngành du lịch tận dụng để sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội đều được gọi là tài nguyên du lịch.

      Người ta cũng chia ra 3 loại tài nguyên du lịch, đó là:

      – Tài nguyên du lịch thiên nhiên bao gồm khí hậu, địa hình, phong cảnh..v.v, có thể nói chung là tất cả những gì thiên nhiên ban tặng con người.

      – Tài nguyên du lịch nhân văn gồm có tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể. Đó là những di sản do con người tạo ra qua nhiều thế hệ và để lại cho các thế hệ mai sau. 

      + Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể  bao gồm các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, văn hoá, nghệ thuật..v.v. 

      + Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể bao gồm các truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc, các phong tục tập quán, các loại hình nghệ thuật truyền thống..v.v.

      – Tài nguyên du lịch xã hộibao gồm các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội do con người đương đại tổ chức cũng tạo ra sức hấp dẫn để thu hút khách du lịch. 

      Tài nguyên du lịch nhân văn của Hà Tĩnh

      Bất kỳ một quốc gia hay địa phương nào muốn phát triển du lịch đều phải dựa trên cơ sở khai thác các tài nuyên du lịch của bản than, trong đó tài nguyên du lịch nhân văn là một trong những yếu tố then chốt, đây là loại tài nguyên có sức hấp dẫn mạnh mẽ, là động lực thu hút ngày càng nhiều khách du lịch tham quan.

      Việt Nam đang chủ trương phát triển du lịch trên cơ sở bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp, thể hiện rõ trong Nghị Quyết 08 – NQ/TW của bộ chính trị. Du lịch văn hóa đã và đang trở thành sản phẩm du lịch trọng điểm, chủ đạo của nước ta.

      Hà Tĩnh là một trong những địa phương của cả nước giàu tài nguyên du lịch nhân văn cả vè tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và phi vật thể.

      2.1. Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

      Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể ở Hà Tĩnh gồm các di tích lịch sử văn hóa, các thắng cảnh cấp quốc gia và địa phương. Hệ thống di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn Hà Tĩnh có giá trị to lớn, “gia sản văn hoá” của Hà Tĩnh được xếp tốp 15 tỉnh dẫn đầu trong cả nước. Nguồn tài nguyên vô giá này đã có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách, là cơ sở quan trọng để xây dựng, phát triển các khu, điểm, tuyến du lịch.

      Trải qua bao biến cố của thời gian và lịch sự, sự tàn phá của thiên tai, mặc dù có bị mất mát khá nhiều nhưng hiệ nay Hà Tĩnh vẫn còn 557 di tích được xếp hạng, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt, 82 di tích quốc gia, 473 di tích cấp tỉnh [4] với đủ loại hình đặc trưng. Hệ thống di tích ấy vừa được phân bố khá đồng đều trên địa bàn 12 huyện, thị, thành vừa có tính tập trung vào một số vùng, vốn là những cái nôi văn hóa như: Can Lộc, Đức Thọ, Nghi Xuân… lại vừa có khả năng gắn kết với các tuyến du lịch trong tỉnh, trong nước.

      Về Di tích lịch sử: Hà Tĩnh có hệ thống các di tích lịch sử đồ sộ, là tài sản quý của địa phương nói riêng và của cả nước nói chung, thu hút rất nhiều du khách tới tham quan, tìm hiểu.

      Nhóm di tích lịch sử văn hóa: là những di tích gắn liền với các sự kiện trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, gắn với những mốc lịch sử quan trọng của đất nước và địa phương.

      + Nhóm di tích lịch sử – văn hóa gắn với kiến trúc nghệ thuật: gồm 12 di tích, tất cả đều là những đình, chùa, miếu, trong đó tiêu biểu là đền Thái Yên (Đức Thọ); đền Võ Miếu (thành phố Hà Tĩnh); đền Lê Khôi (Thạch Hà); đền Cả, chùa Hương Tích (Can Lộc); đền Củi còn gọi là Linh Từ Thánh mẫu (Nghi Xuân), đền Bà Bích Châu (KỳAnh),…

      + Nhóm di tích lịch sử – văn hóa gắn với cách mạng thời đại Hồ Chí Minh: là nhóm di tích hết sức có ý nghĩa đối với sự phát triển du lịch của Hà Tĩnh. Trong đó di tích tưởng niệm Bác Hồ ở thành phố Hà Tĩnh, khu lưu niệm Tổng bí thư Trần Phú (Đức Thọ), khu lưu niệm Tổng bí thư Hà Huy Tập (Cẩm Xuyên) và đặc biệt là di tích Ngã ba Đồng Lộc (Can Lộc) gắn với cuộc chiến tranh chống Mỹ là điểm tài nguyên du lịch có giá trị giáo dục, tri ân sâu sắc cho thế hệ trẻ.

      Nhóm các di tích tưởng niệm các danh nhân và nhân vật lịch sử: chiếm số lượng lớn, với 33 di tích. Tiêu biểu trong nhóm này là: di tích tưởng niệm Đại thi hào Nguyễn Du; Nguyễn Công Trứ (Nghi Xuân); Lê Hữu Trác (Hương Sơn); Nguyễn Biểu, Trần Phú (Đức Thọ); Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự (Can Lộc); Di tích khởi nghĩa của PhanĐìnhPhùng (Vũ Quang); Lê Khôi, Trương Quốc Dụng, Lý Tự Trọng (Thạch Hà); Hà Huy Tập (Cẩm Xuyên);…

      Các di tích tưởng niệm các danh nhân và nhân vật lịch sử, một số nằm trong vùng danh lam thắng cảnh như chùa Hương Tích, chùa Chân Tiên, đền thờ Nguyễn thị Bích Châu, Thành Lục Niên,… Có di tích nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên như căn cứ Vũ QuangcủaPhanĐìnhPhùng.Khôngítditíchvừacógiátrịlịchsửvừacógiátrịkiếntrúcnghệthuậtđộcđáo.CáccôngtrìnhkiếntrúcởđâynhìnchungmangđậmphongcáchhậuLê, tiêu biểu là đền Chiêu Trưng (Thạch Hà), đền Cả (Can Lộc). Các công trình thường nhỏ hẹp nhưng chắc chắn, duyên dáng, có chiều sâu nội tâm, phối hợp hài hoà các loại hình  nghệ thuật trang trí nội thất. Đền Chiêu Trưng, đền Cả nổi lên vẻ đẹp quần thể bởi sự sắp xếp tài tình, sự dẫn dắt bằng những chi tiết tinh vi: Nhà bia, miếu nhỏ, cổng nách, vọng lâu, những mảng chạm khắc bên trong nội thất,… Những tượng đài, khu mộ, nhà bia mới được xây dựng sau này có những nét mới nhưng về cơ bản vẫn mang đặc điểm truyền thống này. [4]

      Tóm lại, hệ thống di tích lịch sử, văn hoá Hà Tĩnh có một vị thế đặc biệt trong việc giáo dục truyền thống yêu quê hương đất nước, trong công tác nghiên cứu khoa học, trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá và du lịch địaphương.

      2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể

      Hà Tĩnh là một địa phương có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể khá đa dạng, phong phú và đặc sắc gồm các lễ hội, nghề và làng nghề thủ công truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, thơ ca, văn học dân gian, văn hóa gắn liền với các tộc người, tôn giáo…

      Theo thống kê bước đầu, Hà Tĩnh có hơn 45 làng nghề, trong đó có một số làng nghề nổi tiếng như: Mộc Thái Yên, Rèn Trung Lương, Nón Phù Việt, Gốm Cẩm Trang…; 108 lễ hội dân gian với các loại hình: lễ hội nông nghiệp, lễ hội tôn giáo và lễ hội văn hóa khác. Nhiều làn điệu dân ca có bản sắc riêng: hát ví dặm, hò đồng dao…; một số làn điệu có không gian diễn xướng độc đáo, tiêu biểu: ca trù, ví Phường vải, ví đò đưa, hò Chèo cạn Cẩm Nhượng, sắc bùa Kỳ Anh… Sân khấu có tuồng, chèo, cải lương (đã mai một). Mỹ thuật có: tạc tượng dân gian, trang trí dân gian với lối kiến trúc cổ truyền đa dạng và có bản sắc riêng của Hà Tĩnh. Truyện kể với nhiều thể loại, như: truyện cười, truyện ngụ ngôn… thấm đẫm triết lý nhân sinh bình dân. Bên cạnh đó là tri thức dân gian, ẩm thực…

      Nhìn chung, tài nguyên du lịch nhân văn Hà Tĩnh phong phú và có giá trị phục vụ du lịch rất cao. Cùng với tài nguyên tự nhiên, nếu khai thác tốt, có thể đáp ứng cho du khách nhiều chương trình tham quan phong phú và hấp dẫn.

      Giải pháp khai thác tài nguyên nhân văn trong phát triển du lịch ở Hà Tĩnh

      Mặc dù tài nguyên nhân văn ở Hà Tĩnh rất phong phú, nhưng việc khai thác, quản lý, phát triển các tài nguyên này chưa tương xứng và còn nhiều bất cập. Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương với ngành văn hóa trong qui hoạch phát triển du lịch, dịch vụ trong việc điều tra, khảo sát hiện trạng, phân loại phân nhóm giá trị các di tích, vì vậy quy hoạch hệ thống di tích lịch sử văn hóa chưa được xây dựng trên cơ sở quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và các địa phương, do đó chưa phát huy được hết các giá trị của tài nguyên nhân văn trong phát triển du lịch của từng địa phương nói riêng và của Hà tĩnh nói chung. Trong thời gian tới, để khai thác tốt tài nguyên nhân văn trong phát triển du lịch cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

      – Thứ hai,cần phải có sự gắn kết thống nhất giữa ngành du lịch với ngành văn hóa, hoạt động của ngành này phải là tiền đề, cơ sở, điều kiện cho ngành kia và ngược lại. Cần có sự phối kết hợp trong việc điều tra, khảo sát, lập hồ sơ khoa học các di tích lịch sử trên địa bàn các địa phương để đề nghị các cấp thẩm quyền công nhận xếp hạng di tích cấp tỉnh, cấp quốc gia, trên cơ sở các di tích được xếp hạng, tiến hành phân loại và khai thác hiệu quả tài nguyên này của từng địa phương, bởi không phải tất cả các di tích đều trở thành sản phẩm du lịch, vì vậy địa phương cần xem xét lựa chọn các di tích đặc sắc, có ý nghĩa nổi bật để đầu tư phát triển thành sản phẩm du lịch chủ đạo của địa phương. Nâng cao nhận thức về vai trò của di sản văn hóa trong phát triển du lịch nói riêng và kinh tế xã hội tỉnh nhà nói chung.

      Thứ ba, Tăng cường quảng bá về giá trị nhân văn của Hà Tĩnh, trong đó chú trọng cả về hệ thống các di tích cùng với tuyên truyền về các lễ hội, nghề và làng nghề thủ công truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, thơ ca, văn học dân gian nhằm truyền bá rộng rãi các thông điệp của các loại tài nguyên nhân văn của các địa phương tới đông đảo người dân địa phương cũng như cung cấp thông tin thiết thực cho các du khách, từ đó nâng cao hiệu quả quảng bá du lịch, thu hút du khách.

      Thứ tư, Cần phát triển du lịch theo hướng “du lịch trách nhiệm”, tức là du lịch luôn phải gắn liền với tôn trọng, khai thác tối ưu giá trị du lịch nhưng phải hài hòa trong việc giữ gìn văn hóa, môi trường du lịch. Kết hợp hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân địa phương trong khai thác giá trị tài nguyên nhân văn phục vụ phát triển du lịch. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác các gía trị của các di tích trong phát triển du lịch của địa phương.

      Thứ năm,ngành du lịch kết hợp với các địa phương, đề xuất các chính sách, cơ chế, kinh phí để đầu tư về nhân lực, xây dựng hệ thống giao thông, kết cấu hạ tầng phục vụ khai thác các giá trị nhân văn của địa phương một cách hiệu quả nhất. Tăng cường đào tạo kỹ năng thuyết trình cho hướng dẫn viên về các tài nguyên nhân văn, nhằm truyền đạt chân thật và sống động về ý nghĩa lịch sử và thực tiễn của các tài nguyên nhân văn của địa phương.

      Tài liệu tham khảo

      [1]Phạm Đức Ban, Nghiên cứu, định hướng bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích lịch sử văn hóa Hà Tĩnh (2007)

      [2]Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ chính trị khóa XII về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn

      [3]. Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2017), Nghị quyết quy định một số chính sách phát triển du lịch Hà Tĩnh đến năm 2025 và những năm tiếp theo, Nghị quyết số 81/2017/NQ-HĐND ngày 13 tháng 12 năm 2017.

      [4] Trần Tấn Hành (1997), Di tích danh thắng Hà Tĩnh, Sở Văn hoá Thông tin HàTĩnh.

      Bạn đang đọc nội dung bài viết Khai Thác Then Việt Bắc Trong Phát Triển Du Lịch trên website Tuvanduhocsing.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!