Đề Xuất 12/2022 # Thị Trường Du Lịch Nhật Bản / 2023 # Top 12 Like | Tuvanduhocsing.com

Đề Xuất 12/2022 # Thị Trường Du Lịch Nhật Bản / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thị Trường Du Lịch Nhật Bản / 2023 mới nhất trên website Tuvanduhocsing.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thứ Ba, 21/12/2010 – 12:17 Đây là một trong những đoàn khách Nhật có số lượng lớn đến Việt Nam trong năm qua. Chỉ với tour tham quan, nghỉ dưỡng và mua sắm tại Hà Nội và vịnh Hạ Long trong vòng 6 ngày 5 đêm, chương trình này đã đem lại nguồn thu gần 1,5 triệu đô-la Mỹ cho ngành du lịch Việt Nam, đó là chưa kể đến chi phí sử dụng dịch vụ và mua sắm riêng lẻ của từng khách hàng.

Thị trường Nhật Bản vốn không xa lạ gì với ngành du lịch Việt Nam. Theo thống kê của Tổng Cục Du lịch Việt Nam, Nhật Bản là một trong 3 quốc gia có khách du lịch đến Việt Nam nhiều nhất trong năm 2010. So với Trung Quốc, Hàn Quốc, lượng khách Nhật Bản đến Việt Nam vẫn đang ở “chiếu dưới”. Tuy nhiên, do những đặc thù về thói quen sử dụng dịch vụ và chi tiêu của khách Nhật, thị trường Nhật Bản vẫn là một thị trường vô cùng tiềm năng và có những điểm đặc biệt nổi trội. Theo Hiệp hội Lữ hành Nhật Bản (JATA), Việt Nam là một trong 10 điểm đến then chốt trong chương trình xúc tiến du lịch của Nhật Bản.

Các địa điểm du lịch mà khách Nhật thường đến là: Hà Nội, Hạ Long, Huế, Hội An, Đà Nẵng, TP. HCM… Ông James Kok, Trưởng nhóm Kế hoạch, Bộ phận Tổ chức Sự kiện (Amway Nhật Bản) chia sẻ: “Tuy đây là lần đầu tiên chúng tôi tổ chức chương trình này tại Việt Nam, nhưng theo cảm nhận của tôi, đất nước các bạn đem lại những ấn tượng hết sức tốt đẹp và quen thuộc đối với người dân Nhật Bản. Hà Nội là một thành phố đẹp, vẫn còn lưu giữ những nét rất riêng của Việt Nam, đồng thời có sự giao thoa và ảnh hưởng bởi kiến trúc và văn hóa Pháp, tạo nên những ấn tượng độc đáo. Vịnh Hạ Long thì lại có vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vỹ. Chuyến đi này sẽ để lại rất nhiều điều thú vị đối với những nhà phân phối của Amway Nhật Bản, đặc biệt là tà áo dài duyên dáng và nền ẩm thực tuyệt vời của các bạn….”.

Mỗi năm, Việt Nam đón xấp xỉ 400.000 lượt khách Nhật Bản đến tham quan, du lịch. Tính đến cuối tháng 11/2010, Việt Nam đón 398.572 lượt khách từ nước này, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Việt Nam Airlines cũng đã đưa vào khai thác khá nhiều đường bay trực tiếp từ các thành phố lớn của Nhật Bản đến Việt Nam. Từ 4 chuyến bay/tuần, đến nay, Vietnam Airlines đã thực hiện 40 chuyến bay/tuần từ Việt Nam đến Nhật Bản. Đây là những dấu hiệu rất khả quan để du lịch Việt Nam đẩy mạnh và đầu tư hơn nữa cho thị trường này.

Thực tế là để làm vừa lòng khách Nhật không phải là chuyện dễ. Nhật Bản là một trong những dân tộc thích đi du lịch nhất nhì thế giới. Người dân Nhật chi nhiều tiền cho du lịch, rất chịu khó và thích thú tìm hiểu về lịch sử, văn hóa của những vùng đất mới, nhưng cũng cực kỳ khó tính và kén chọn khi sử dụng dịch vụ. Để Việt Nam trở thành điểm đến ưa thích của người Nhật, việc tìm hiểu kỹ hơn về các đối tượng khách Nhật, có những dịch vụ phù hợp cho từng phân khúc đối tượng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch là những ưu tiên của du lịch Việt Nam hiện nay. Theo các chuyên gia, khách du lịch Nhật Bản có thể phân chia thành những nhóm sau:

– Giới học sinh – sinh viên và khách du lịch ba lô: Quan tâm tìm hiểu văn hóa, mức tiêu dùng không cao, rất quan tâm đến yếu tố giá cả, song lại là những du khách có khả năng phát tán thông tin nhanh chóng và mạnh mẽ về điểm đến du lịch

– Giới nữ trẻ có độ tuổi trung bình từ 20-30: Chưa lập gia đình, có nghề nghiệp và thu nhập khá ổn định. Đối tượng khách này rất sành điệu trong tiêu dùng nhưng cũng rất quan tâm đến tính kinh tế của dịch vụ, thích mua sắm, thời trang, đồ trang sức, sản phẩm lưu niệm của địa phương…

– Gia đình: Thường quan tâm tới thực đơn riêng cho trẻ em, ưa thích các hoạt động nghỉ ngơi, thư giãn, vui chơi giải trí, thể thao…

– Người cao tuổi: Thường đi du lịch nhờ vào quỹ lương sau khi về hưu. Đối tượng khách này có mức tiêu dùng tương đối cao, thích thư giãn nghỉ ngơi, rất hứng thú trong việc tìm hiểu về lịch sử, văn hoá và tự nhiên của điểm du lịch. Đối tượng này cũng chi rất nhiều tiền cho việc mua sắm, quà cáp.

– Khách thương gia: Đối tượng này luôn thiếu thời gian và thường đi du lịch với mục đích kết hợp công việc, thời gian tham quan ít, nhưng mức tiêu dùng rất cao.

Ngành du lịch Việt Nam đang hướng tới thu hút 1 triệu lượt khách Nhật Bản đến Việt Nam vào năm 2015. Đây không hẳn là một mục tiêu quá khó nếu chúng ta biết tận dụng những điểm mạnh hiện có và tập trung phát triển các gói dịch vụ theo hướng đánh vào từng phân khúc; đồng thời đẩy mạnh hoạt động quảng bá hình ảnh, huấn luyện đội ngũ hướng dẫn viên giỏi tiếng Nhật, am hiểu lối sống và văn hóa Nhật… Đầu tư hơn nữa vào việc nâng cấp cơ sở hạ tầng, bảo tồn di tích, di sản cũng là một trong những điều cần thiết để mời gọi khách Nhật cũng như du khách khắp nơi trên thế giới đến với Việt Nam.

Đoàn khách 215 người của Amway Nhật Bản là một trong những đoàn khách Nhật lớn đến Việt Nam năm 2010

Du lịch kết hợp hội thảo (MICE) cũng là một hướng đi đầy tiềm năng để thu hút khách Nhật

Du Học Nhật Bản Ngành Du Lịch Nên Đi Trường Gì? / 2023

Du học Nhật Bản ngành du lịch nên chọn trường gì?

Du học Nhật Bản ngành du lịch nên hay không?

– Trường chuyên môn du học Tokyo: Là ngôi trường có chuyên môn đào tạo ngành du lịch hàng đầu tại Nhật Bản với các chuyên môn đa dạng như quản lý khách sạn, lữ hành, lễ tân, tổ chức sự kiện….100% sinh viên sau khi tốt nghiệp đều tìm được công việc phù hợp, đặc biệt là có nhiều Công ty lớn về tuyển dụng ngay khi còn là sinh viên.

– Trường trung cấp ngoại ngữ và du lịch Sendai: Đây cũng là một trong những ngôi trường được đánh giá cao về chất lượng đào tạo ngành du lịch. Do có sự đầu tư thiết kế giảng dậy đặc biệt gồm tất cả các môn học thiết thực, đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm lâu năm nên sinh viên sẽ được tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu.

Ngoài ra, trường Sendai luôn tự hào có tỷ lệ đỗ tư cách nghiệp vụ cao nhất, trong đó chuyên ngành du lịch được đánh giá cao hơn so với tỷ lệ trung bình của toàn quốc.

– Trường trung cấp ngoại ngữ và du lịch Tohoku: Được thành lập khoảng 67 năm, trong đó có tới trên 23 năm là đào tạo chuyên sâu vào ngành du lịch, là sự lựa chọn đúng đắn nhất cho du học sinh nước ngoài.

Hệ thống phòng học đa dạng, có không gian thoáng đãng, đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, thân thiện… được đào tạo bài bản từ lý thuyết tới thực tế, giúp bạn tích lũy kinh nghiệm và có thể làm được việc ngay sau khi ra trường.

Những lý do bạn nên chọn đi du học Nhật Bản ngành du lịch là gì?

– Cơ hội xin việc dễ dàng: Thực tế cho thấy, nước ta trong những năm gần đây rất trú trọng phát triển ngành du lịch. Điển hình là có rất nhiều các trung tâm nghỉ dưỡng thú vị cho khách nước ngoài ra đời, đồng nghĩa với việc cần một nguồn lao động lớn để đáp ứng.

– Môi trường đào tạo phát triển: Nhật Bản là đất nước coi trọng các giá trị truyền thống dân tộc cộng với địa lú được trời phú cho nên Nhật Bản sở hữu rất nhiều các danh lam thắng cảnh nên ngành du lịch rất phát triển và việc đầu tư tại các trường Đại học cũng không có gì đáng ngạc nhiên

Tuy nhiên, đây chính là cơ hội để du học sinh Nhật Bản học hỏi những kỹ năng cần thiết để phát triển sự nghiệp sau này

– Có nhiều chuyên ngành nhỏ cho du học sinh lựa chọn: Khác với các nước khác, trong ngành du lịch, nhà trường sẽ phân bổ thành nhiều ngành nhỏ hơn để tập trung đào tạo chuyên sâu như lễ tân, tổ chức sự kiện, phiên dịch, quản lý khách sạn, lữ hành…

Thiệu Thị Phim Trường &Amp; Tvb Hong Kong / 2023

Ngày nay khi nhắc đến Hồng Kông người Việt mình nghĩ đến nhiều thứ lắm. Đầu tiên đó là điểm du lịch hấp dẫn với nhiều thắng cảnh, hằng hà sa số toà nhà chọc trời, là nơi mua sắm hàng hiệu và (hàng giả hiệu). Kế đến là các món ăn dimsum, hải sản tươi sống tràn ngập đường phố. Và mới đây là các cuộc biểu tình đấu tranh đòi dân chủ của dân chúng khiến Hồng Kông càng được nhiều người trên thế giới biết đến. Còn một thứ nữa mà nhiều người cũng khá quan tâm, đó là điện ảnh.

Với tư cách là một khán giả, tôi thích các thể loại phim cổ trang, võ thuật và bạo lực xã hội Hồng Kông sản xuất hơn là các loại phim của Singapore, Ðài Loan hay Trung Hoa Ðại Lục. Ðiều này dễ hiểu, phần đông tâm lý người xem thích nhiều cảnh hành động gay cấn hơn là những cảnh tĩnh lặng quá nhiều hoặc kéo dài. Tôi nhớ một người bạn làm đạo diễn nói, muốn một bộ phim hấp dẫn thường cứ khoảng 10 phút lại có một cảnh gay cấn. Pha gay cấn đó như thế nào là tuỳ thể loại kịch bản và tuỳ theo thị hiếu của công chúng theo từng giai đoạn thời gian.

Nhìn lại khoảng thập niên 60 của thế kỷ trước, các rạp chiếu bóng ở Sài Gòn bắt đầu cho chiếu các loại phim kiếm hiệp thu hút khán giả. Rồi sang thập niên 70, là phim võ thuật quyền cước hấp dẫn giới thanh niên. Bước qua thập niên 80, là phim bạo lực xã hội, tiếp đến tâm lý hành động xã hội, hình sự, tâm lý tình cảm… Nhiều người nhận xét, phim Hồng Kông có quá nhiều bạo lực, nhất là các vụ thanh toán của các băng đảng, đâm chém bắn giết ì xèo. Ðiều này chỉ đúng một phần do nhà sản xuất phim muốn đáp ứng thị hiếu người xem, nhưng điều chính yếu là nó lại gắn liền với bối cảnh lịch sử xã hội Trung Hoa một thời gian dài. Nghệ thuật cũng góp phần tái hiện lịch sử xã hội qua ngôn ngữ điện ảnh. Trước ngày gần kề trao trả Hồng Kông cho Trung Quốc, các tổ chức bang phái kỳ cựu ở đây bắt đầu di tản sang Ðài Loan, Macao, Mã Lai hoạt động. Ngược lại các bang phái Trung Hoa Lục Ðịa lại lấn sân sang Hồng Kông kiếm sống trên mảnh đất béo bở này.

Nói về các bang hội thì khá dông dài, cũng như nói riêng về điện ảnh Hồng Kông không phải là chủ ý của bài viết. Tôi chỉ cung cấp vài ba tư liệu của một nhà sản xuất phim ảnh đình đám và các chương trình truyền hình nổi tiếng của Hồng Kông, đó là hãng Shaw Brothers (Anh em Thiệu Thị) hay TVB (Television Broadcasting). Sở dĩ tôi nhắc đến hãng phim Thiệu Thị bởi công ty này từ ngày thành lập vào năm 1958 đến nay sản xuất hơn 3,000 bộ phim màn ảnh rộng và truyền hình. Một con số kỷ lục mà khó có một hãng phim nào ở Hồng Kông đạt được. Các phim của hãng Thiệu Thị được chiếu trên khắp các quốc gia có người Hoa sinh sống, và được lồng tiếng hoặc phiên thoại ra nhiều thứ tiếng khác nhau.

Nói đúng ra, phần đông khán giả xem phim thường nhớ tên tài tử hoặc nội dung phim chứ ít khi nào nhớ đến đạo diễn hay nhà sản xuất. Trừ phi đạo diễn hay nhà sản xuất đó quá nổi tiếng, làm ra quá nhiều phim hay đáp ứng được thị hiếu của khán giả khiến ta phải tìm hiểu. Hãng phim Shaw Brothers do Thiệu Dật Phu thành lập sau khi trở về từ Nam Dương (Indonesia) bởi thời cuộc chiến tranh lan rộng, quân Nhật chiếm đóng Singapore và Malaysia khiến công việc làm phim của ông gián đoạn, và sau đó khi hai nước này giành lại độc lập, công nghiệp điện ảnh không mấy phát triển trong giai đoạn mới sau chiến tranh.

Năm 1957, ông quyết định trở về Hồng Kông thăm dò. Khoảng thời gian này, ngành điện ảnh Hồng Kông đang phát triển rực rỡ. Thiên thời, địa lợi đã tới. Năm 1958, ông quyết định thành lập Shaw Brothers Company. Ðể có những cảnh dựng phim cho tốt đúng với thời đại lịch sử, Thiệu Dật Phu thuê một mảnh đất của chính phủ rộng hơn 186,000 mét vuông tại Vịnh Thanh Thủy (Clear Water Bay) làm phim trường, phỏng theo mô hình phim trường Hollywood của Mỹ. Phim trường chính thức hoạt động vào đầu năm 1962. Ông không tiếc tiền đầu tư vào phim với những tài tử nổi tiếng, âm thanh, trang phục, máy móc, đạo cụ, kỹ thuật quay phim, dựng hình để cố gắng tạo ra những bộ phim hay về mọi mặt. Nhờ có phim trường lớn, dựng hình đầy đủ các chi tiết hiện vật như đúng vào thời kỳ đó, mỗi một bộ phim do Shaw Brothers sản xuất chỉ cần nghe đến thương hiệu là đủ biết phim hay.

Nhờ có phim trường với đầy đủ trang thiết bị kỹ thuật, dựng cảnh, tốc độ sản xuất phim của hãng Thiệu Thị mỗi năm một nhiều mà vẫn bảo đảm phẩm chất của mỗi một sản phẩm điện ảnh. Phim Thiệu Thị nổi tiếng khắp châu Á. Thiệu Dật Phu được giới điện ảnh đặt cho một biệt danh là “quái thú” của ngành điện ảnh vì sức làm việc và sức lôi kéo quy tụ được một dàn tài tử, đạo diễn tài năng, và kỹ thuật viên giỏi làm việc dưới trướng. Phim Ðộc Tí Ðao của đạo diễn Trương Triệt ra mặt công chúng năm 1967 phá vỡ kỷ lục phòng vé. Thành công của thập niên 1960 là kết quả mà Thiệu Dật Phu sau một thời gian ngưng hoạt động tại Singapore và Malaysia dồn sức phát huy hết tất cả khả năng cho việc quản trị và điều hành, quyết tâm xây dựng một nền điện ảnh Hồng Kông vang danh khắp châu Á. Không những thế, anh em nhà Thiệu Thị hoạt động trong lĩnh vực phim ảnh tại Thượng Hải và Singapore cũng thành công lớn. Trong 10 năm, anh em Thiệu Thị sản xuất ra 1,000 bộ phim võ hiệp mà chủ yếu Hồng Kông là nơi cho ra lò nhiều nhất. Riêng trong năm 1974 Thiệu Dật Phu cho ra mắt đến 50 bộ phim. Một con số khủng đối với các hãng phim tại Hồng Kông thời bấy giờ. Thiệu Dật Phu được nhận danh hiệu “Sa Hoàng Ðiện ảnh Á châu”.

Một chuyện bên lề, năm 1991 trong thời điểm công ty bán lẻ Macy’s ở Hoa Kỳ xuống dốc gần như sắp phá sản, Thiệu Dật Phu bỏ ra 50 triệu USD mua lại 10% cổ phần của công ty này. May mắn Macy’s còn tồn tại đến ngày nay.

Từ thập niên 80 và 90, tình hình sản xuất phim của hãng Thiệu Thị bắt đầu xuống dốc do có nhiều cạnh tranh từ bên ngoài. Ngành điện ảnh Hàn Quốc, Ðài Loan, và Singapore trỗi dậy, phổ biến khắp các nước châu Á. Một đặc điểm khác là sau thời điểm Hồng Kông được trao trả về cho Trung Quốc, nhiều tài tử điện ảnh Hồng Kông sang Ðại Lục đóng phim do giá cát-sê cao, quay lưng với các hãng phim tại Hồng Kông. Thế nhưng với tư cách là Chủ tịch điều hành TVB sau khi người đồng sáng lập Lợi Hiếu Hoà mất, năm 2003 Thiệu Dật Phu quyết tâm hoàn thành dự án Hương Cảng Ảnh Thành (Hong Kong Movie City) trị giá đầu tư 180 triệu USD, rộng 110,000 mét vuông, với 22 studio trong đó có một studio lớn nhất châu Á rộng 1,200 mét vuông. Hong Kong Movie City hay còn gọi là TVB City nằm trên bán đảo Kowloon (Cửu Long) tại khu công nghiệp Tseung Kwan O cách không xa vị trí phim trường cũ tại Clear Water Bay. Năm 2003 cũng là năm Hong Kong Movie City hay Thiệu Thị Phim thực hiện bộ phim màn ảnh rộng cuối cùng, chuyển hướng sang làm truyền hình chính thống.

TVB có nhiều kênh truyền hình kỹ thuật số, truyền hình vệ tinh, phát tiếng Quảng Ðông và tiếng Phổ thông và tiếng Anh, mỗi năm có đến 6,500 giờ phát sóng phục vụ cộng đồng người Hoa sống khắp nơi trên các châu lục. Các studio được trang bị kỹ thuật hiện đại, thực hiện các mô hình, dựng cảnh bằng đồ hoạ vi tính giản tiện hơn phim trường cũ không cần diện tích rộng. Chủ yếu phát hình tin tức, ca nhạc, tạp kỹ và phim truyện truyền hình nhiều tập.

Ngoài thành tựu của TVB, Thiệu Dật Phu tham gia làm từ thiện và đóng góp xã hội không ít. Ông trở thành Chủ tịch Hội đồng Quản trị Trung tâm Nghệ thuật Hồng Kông cũng như nhiều chức danh đứng đầu ở các cơ quan xã hội thiện nguyện, bệnh viện, trường học từ tiểu học cho đến đại học. Tên Dật Phu của ông được đặt cho nhiều cơ sở, thư viện tại Hồng Kông để tri ân đến người luôn đỡ đầu và đóng góp lợi ích cho xã hội. Thiệu Dật Phu mất vào năm 2014, thọ 107 tuổi.

Năm vừa rồi, mấy người bạn tôi đi chuyến hải hành du lịch nhiều ngày đến châu Á. Tàu neo đậu ở cảng Vịnh Thanh Thủy, họ đã vội xuống bến đi thăm phim trường Thiệu Thị ngày xưa. Hàng chục dãy phố từ thời Dân quốc hiện ra, cũ kỹ bị hư hao trong đợt bão Mangkhut vừa quét qua; những đống đổ nát còn ngổn ngang chưa được dọn dẹp. Nhiều khách du lịch muốn ghé xem tìm hiểu cấu trúc phim trường nhưng không được cho phép vì lý do an toàn. Phim trường xuống cấp, bỏ hoang từ nhiều năm rồi, chỉ có thể lang thang lòng vòng trên các con đường nhỏ, hành lang cửa tiệm vắng tanh như thể mình đang làm diễn viên cho một bộ phim, một thời đã xa trong trí tưởng tượng.

Phát Triển Thị Trường Du Lịch Sau Covid / 2023

(Chinhphu.vn) -  Sau đợt dịch COVID-19 lần thứ 2, có thể nói, cả ngành du lịch Việt đã “ngấm đòn”. Thời điểm này, toàn ngành đang rục rịch khởi động chương trình kích cầu du lịch nội địa giai đoạn 2. Nhiều chuyên gia nhận định, đây sẽ là “đòn bẩy” giúp phục hồi ngành “công nghiệp không khói” hậu COVID-19.

Ngành du lịch chịu ảnh hưởng nặng nề vì đại dịch COVID-19. Ảnh: VGP/Lưu Hương

Du lịch là một trong những ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch COVID-19. Đại dịch cho chúng ta nhiều bài học về xây dựng quỹ dự phòng khủng hoảng, về định hướng phát triển “đi cả bằng hai chân”, phát triển thị trường du lịch quốc tế và nội địa. Để phục hồi ngành du lịch trong bối cảnh hiện tại, trước mắt của chúng ta là phải tập trung cho thị trường du lịch nội địa với các sản phẩm hấp dẫn, độc đáo.

Đây là ý kiến của chúng tôi Phạm Hồng Long – Trưởng Khoa Du lịch học, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Đại dịch COVID-19 giáng “đòn chí mạng” lên ngành du lịch

Ngày 11/3/2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chính thức công bố dịch COVID-19 do virus Corona chủng mới (SARS-CoV-2) là đại dịch toàn cầu. Ngành du lịch là ngành chịu tác động nghiêm trọng nhất do lượng du khách từ nước ngoài, cũng như du lịch nội địa bị hạn chế do lo ngại sự lây lan của dịch COVID-19.

Theo báo cáo của Vụ Lữ hành (Tổng cục Du lịch), số liệu thống kê sơ bộ cho thấy khi dịch COVID-19 quay lại, đến nay đã có hàng triệu khách du lịch hoãn, hủy tour du lịch. Đơn cử, một số trung tâm như Hà Nội có khoảng 32.000 khách hủy tour nội địa; TP. Hồ Chí Minh có trên 35.000 chương trình du lịch bao gồm tour trọn gói, tour tự chọn, dịch vụ (khách sạn, vé máy bay, điểm tham quan…) đã bị huỷ.

Riêng trong tháng 8, hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, homestay xác nhận tỉ lệ khách huỷ phòng đến hơn 90%, còn các đơn vị lữ hành cho biết hơn 80% khách huỷ tour và yêu cầu hoàn lại tiền 100% do tình hình diễn biến bệnh quá phức tạp…

Cũng theo Tổng cục Du lịch, ngành du lịch Việt Nam thiệt hại trong “khoảng từ 6 đến 7 tỷ USD” trong 2 quý đầu năm bởi riêng du khách Trung Quốc giảm 90% đến 100%. Ngoài Trung Quốc, số lượng khách từ các quốc gia khác nhập cảnh vào Việt Nam cũng giảm mạnh.

Sau đợt dịch COVID-19 lần thứ 2 quay trở lại, có thể nói, cả ngành du lịch Việt đã gần như “kiệt sức”.

PGS.TS. Phạm Hồng Long phân tích, con số thiệt hại ước tính trên mới chủ yếu dựa trên những dự báo về số liệu thiếu hụt khách nhân với mức chi tiêu bình quân, chứ chưa tính đến thiệt hại từ việc “kiệt sức” của các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực du lịch, chính là những đối tượng chịu tác động mạnh nhất, lớn nhất hiện nay. Đó là các doanh nghiệp lữ hành, các công ty đầu tư hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (cơ sở lưu trú như các khu nghỉ dưỡng, khách sạn, hệ thống dịch vụ nhà hàng, khu vui chơi giải trí,…). Đồng thời, ngành du lịch có tác động đa ngành, nên nếu phát triển mạnh thì có thể kéo theo rất nhiều ngành nghề khác đi lên. Ngược lại, nếu du lịch “hắt hơi” thì các lĩnh vực khác sẽ “sổ mũi” theo.

“Nên thiết nghĩ, sẽ không thể tính được tất cả những thiệt hại của ngành du lịch và chắc chắn sẽ vượt hơn nhiều con số 7 tỷ USD mà Tổng cục Du lịch ước tính. Không những thế, con số thiệt hại này được đưa ra khi dịch COVID-19 mới chủ yếu hoành hành ở Trung Quốc (khoảng đầu tháng 2), còn nay nó đã lan rộng thành đại dịch toàn cầu”, ông Long nói.

Theo chúng tôi Phạm Hồng Long, Việt Nam đã ngưng vận chuyển hàng không (tạm mở lại một số đường bay từ ngày 15/9/2020) và tạm ngừng xuất nhập cảnh, thì tác động và thiệt hại của ngành du lịch còn lớn hơn rất nhiều. Theo khảo sát của Ban Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tư nhân Việt Nam (thuộc Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ), nếu COVID-19 kéo dài 6 tháng, 74% doanh nghiệp du lịch sẽ phá sản. Trên bình diện thế giới, theo dữ liệu mới nhất của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), lượng khách du lịch quốc tế giảm 65% trong 6 tháng đầu năm 2020, ngành du lịch mất đi 440 triệu lượt khách quốc tế và khoảng 460 tỷ USD doanh thu từ du lịch quốc tế.

Ông Nguyễn Xuân Bình, Phó Giám đốc Sở du lịch TP. Đà Nẵng chia sẻ, Đà Nẵng là địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất sau đợt dịch COVID-19 lần thứ hai. Là tâm dịch, du lịch Đà Nẵng gần như đóng băng.

Bắt đầu từ 28/7, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc tạm dừng mọi phương tiện vận chuyển đến và đi từ Đà Nẵng để phòng chống dịch bệnh COVID-19, toàn bộ các doanh nghiệp du lịch gồm 398 đơn vị kinh doanh lữ hành, 16 khu, điểm du lịch, 955/1080 cơ sở lưu trú, 350 đơn vị vận chuyển, 27 tàu du lịch đã tạm dừng hoạt động kinh doanh.

Một số cơ sở lưu trú đã thực hiện thủ tục mua bán, chuyển nhượng bất động sản nghỉ dưỡng, khách sạn, căn hộ. Theo thông tin sơ bộ vừa qua, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có khoảng 250 đến 260 khách sạn/căn hộ/biệt thự đang rao bán, chiếm tỷ lệ 24.7% tổng số khách sạn (1080 khách sạn).

Dự kiến năm 2020, ước thiệt hại tổng thu của cả ngành du lịch thành phố Đà Nẵng khoảng 26 nghìn tỷ đồng, trong đó, ước tổng thiệt hại (trực tiếp) tại các doanh nghiệp lữ hành khoảng 659 tỷ đồng, tại các cơ sở lưu trú du lịch khoảng 4.800 tỷ đồng, tại doanh nghiệp vận chuyển du lịch khoảng 518 tỷ đồng và các khu, điểm du lịch khoảng 827 tỷ đồng. Tổng số lao động tạm ngừng việc, nghỉ việc từ đầu tháng 8/2020 đến nay ước khoảng 31.874 người/50.963 người, chiếm 62.5% tổng số lao động.

Với sự tác động mạnh mẽ của dịch bệnh COVID-19 đợt 2, dự kiến cả năm 2020, tổng lượt khách đến tham quan, du lịch Đà Nẵng ước đạt 2,7 triệu lượt, giảm 68,6% so với năm 2019, trong đó khách quốc tế ước đạt hơn 686 nghìn lượt, giảm 80,5% so với năm 2019, khách nội địa ước đạt hơn 2,03 triệu lượt, giảm 60,6% so với năm 2019. Tổng thu du lịch ước đạt 10.788 tỷ đồng, giảm 65,1% so với năm 2019.

Có thể nói, Đại dịch COVID-19 đã giáng một đòn chí mạng lên ngành du lịch Việt Nam và thế giới. Thời điểm này, xác định bao giờ để du lịch Việt Nam và thế giới mở cửa trở lại bình thường như trước vẫn là một dấu hỏi rất lớn, bởi điều đó chỉ có thể xảy ra khi nào tìm được vaccine phòng ngừa căn bệnh này hoặc khi các nước dần khống chế được đại dịch như Việt Nam.

Nhiều bài học về phục hồi du lịch được rút ra sau đại dịch COVID-19. Ảnh: VGP/Tuấn Trần

Phát triển du lịch – phải “đi bằng cả hai chân”

Theo chúng tôi Phạm Hồng Long, đại dịch COVID-19 cho ngành du lịch bài học về sự cân bằng giữa thị trường du lịch trong nước và quốc tế; bài học về việc mở rộng, đa dạng thị trường khách; bài học về xây dựng quỹ dự phòng khủng hoảng; bài học về liên kết hợp tác trong việc xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch; bài học về biến thách thức thành cơ hội… Nhưng khi bước đầu khống chế được dịch, thì đó cũng là thời điểm để du lịch nội địa phát triển, do vậy mọi chính sách và hành động của ngành du lịch sẽ phải tập trung cho thị trường du lịch nội địa. Làm tốt du lịch nội địa, ngành du lịch Việt Nam cũng sẽ tạo thêm được dấu ấn cho thị trường du lịch quốc tế biết đến.

Lâu nay, chúng ta hay xem trọng thị trường quốc tế và đúng là du lịch quốc tế là một hợp phần rất quan trọng của ngành du lịch Việt Nam. Nhưng thực tế cho thấy, khách du lịch người Việt đi du lịch và tiêu tiền không phải ít và lượng khách nội chiếm số lượng lớn, gấp 4 đến 5 lần khách du lịch quốc tế. Trong bối cảnh Việt Nam đã tương đối an toàn, việc kích cầu du lịch nội địa là giải pháp giúp ngành du lịch Việt Nam phục hồi ít nhiều, chứ chưa thể nói là phục hồi hoàn toàn.

Thời điểm này cũng là thời điểm chúng ta phải nghĩ tới các giải pháp để tháo gỡ những khó khăn đó, xóa đi các rào cản để sau khi mở cửa đón khách du lịch quốc tế trở lại, chúng ta giải quyết triệt để những khó khăn nêu trên. Hướng đến một điểm đến Việt Nam cởi mở, an toàn và thân thiện.

Minh Anh – Lưu Hương

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thị Trường Du Lịch Nhật Bản / 2023 trên website Tuvanduhocsing.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!