Top 12 # Xem Nhiều Nhất Chính Sách Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Hội An / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Tuvanduhocsing.com

Để Hội An Phát Triển Bền Vững / 2023

TP.Hội An là đô thị di sản của thế giới, được xác định phát triển theo hướng “sinh thái – văn hóa và du lịch”. Vì vậy 2 yếu tố sinh thái và văn hóa là giá trị cho sự phát triển bền vững của thành phố.

Hiếm có nơi nào như Hội An – một thành phố có đến 2 di sản thế giới: một di sản văn hóa – phố cổ và một di sản thiên nhiên – khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm. Từ chỗ chỉ có 10 đơn vị hành chính cấp xã phường đến nay đã tăng lên 13 đơn vị gồm 9 phường và 4 xã với hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội được quan tâm đầu tư, cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển KTXH và đang trở thành một trung tâm du lịch của tỉnh cũng như của quốc gia.

Định hướng phát triển thành phố theo hướng vừa giữ gìn cẩn trọng khu phố cổ vừa mở rộng liên hoàn các khu đô thị mới, đảm bảo phát huy bản sắc riêng và yếu tố hiện đại bền vững, gần 45 năm qua, đặc biệt là 20 năm kể từ khi được UNESCO công nhận khu phố cổ Hội An là di sản văn hóa thế giới (4.12.1999), Đảng bộ và chính quyền thành phố thường xuyên tăng cường công tác quản lý, vận động nhân dân thực hiện bảo vệ nghiêm ngặt quần thể kiến trúc đô thị cổ. Không thể tránh khỏi những bất cập, thiếu sót nhưng kết quả đạt được như hiện tại thật đáng phấn khởi, đã được UNESCO Châu Á – Thái Bình Dương trao các giải thưởng kiệt xuất về công tác giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Năm 2006 được Bộ xây dựng công nhận là đô thị loại 3, đầu năm 2008 được Chính Phủ ra Nghị định nâng thành Thành phố trực thuộc tỉnh. Ông Trần Ánh – Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố cho rằng, một đô thị được hình thành cách đây mấy trăm năm chắc chắn sẽ gây cản trở, khó khăn nhất định đối với nhu cầu của con người hiện nay vì không dễ dàng để vừa bảo tồn những giá trị nguyên gốc nhưng vừa đáp ứng nhu cầu dân sinh đương đại của thế kỷ XXI. “Chính vì vậy, rất nhiều nhiệm kỳ nay Đảng bộ thành phố luôn chú tâm vấn đề này, làm thế nào để vừa bảo tồn vừa phát triển. Thực tế bằng những giải pháp cụ thể, nhiều năm qua chúng tôi đã giải quyết hài hòa mối quan hệ này, vừa bảo tồn được giá trị truyền thống kiến trúc phố cổ vừa đáp ứng được nhu cầu của cư dân. Và điều đáng mừng là thông qua việc bảo tồn và phát huy di sản này, đại bộ phận người dân đã có thu nhập đáng kể và thậm chí nhiều người đã khá giả và giàu lên”, ông Ánh nói.

Thực tế là khu phố cổ Hội An bây giờ đã trở thành điểm đến được yêu thích của đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Lượng khách đến tham quan ngày càng đông, năm sau luôn cao hơn năm trước. Sự phát triển kinh tế “quá nóng” thời du lịch thịnh hành ngay trong lòng di sản đã trở thành nguy cơ “tự đánh mất” của Hội An trong tương lai nếu không kịp điều chỉnh, thiết lập quy củ. Là vùng động lực, tạo sức lan tỏa trong quá trình phát triển du lịch của cả thành phố nhưng cũng từ đó đã đặt ra thách thức lớn. Khoảng cách phát triển, sự phân cực giàu nghèo giữa cộng đồng dân cư nội thành và ngoại ô, giữa phố cổ với phần còn lại của thành phố cũng đang là vấn đề không dễ khỏa lấp. Mật độ dân số trong phố cổ và của thành phố hiện cũng tăng cao gấp 7 – 8 lần mức bình quân của cả nước và gấp khoảng 40 lần so với mật độ chuẩn trên thế giới đang cảnh báo chính quyền sở tại hằng ngày. Cạnh đó là ảnh hưởng của tình trạng biến đổi khí hậu, lũ lụt thường xuyên đe doạ vùng đô thị cửa sông – ven biển này. Bờ biển Cửa Đại đang bị xâm thực nặng nề cũng là vấn đề quá nan giải, chưa có phương án hữu hiệu. Giao thông đô thị ngày càng quá tải, tăng áp lực cho cuộc sống nhân dân và sự phát triển của thành phố… Ông Trần Chương – Trưởng Phòng Quản lý đô thị thành phố cho biết:“Thành phố xác định, khi nâng lên đô thị loại 2 trong thời gian đến thành phố cố gắng để vừa có một quy hoạch chung hợp lý, quy hoạch về kiến trúc xanh và tạo cơ sở hạ tầng hợp lý để thoát ra khỏi ách tắt giao thông hiện nay”.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVII đã xác định, Hội An có 3 khu vực phát triển gồm: đô thị, biển đảo và làng quê luôn gắn kết, tương tác với nhau tạo động lực để phát triển đồng đều và ổn định. Hội An trong tương lai phát triển theo định hướng trở thành thành phố “sinh thái – văn hoá và du lịch” giàu bản sắc. Sinh thái và văn hóa là 2 giá trị để phát triển du lịch và kinh tế xã hội thành phố một cách bền vững. Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Trần Ánh nói: “Rút kinh nghiệm từ sự phát triển của các đô thị khác, phát triển rất nhanh rất “nóng” nhưng thiếu tính bền vững thì Hội An đang quyết tâm thực hiện, đảm bảo cho sự phát triển nhưng phát triển không “nóng”, phát triển theo tính bền vững, phát triển phù hợp với nguồn tài nguyên của mình. Chúng tôi cố gắng vừa bảo tồn phát huy các di sản văn hóa, vừa bảo tồn phát huy các di sản thiên nhiên: sông nước, cây cỏ, biển đảo…”

Để bảo đảm phát triển hiệu quả, thành phố tập trung điều chỉnh, bổ sung quy hoạch chung, trọng tâm là quy hoạch không gian phát triển du lịch; ban hành các cơ chế chính sách phát triển vùng kinh tế sông nước, làng quê, biển đảo…

 Đỗ Huấn

Hội An Phát Triển Du Lịch Bền Vững / 2023

Từ khi khu phố cổ được công nhận di sản văn hóa thế giới (1999) du lịch Hội An phát triển khá nhanh với tốc độ tăng trưởng khoảng 15%/năm

Báo cáo của Phòng VHTT TP Hội An cho biết, kể từ khi khu phố cổ được công nhận Di sản văn hóa thế giới (1999) du lịch Hội An phát triển khá nhanh với tốc độ tăng trưởng khoảng 15%/năm. Thống kê 5 năm gần đây cho thấy, khách du lịch đến Hội An tăng gấp 2 lần, từ khoảng 1,6 triệu lượt (2013) lên trên 3,3 triệu lượt (2017), tốc độ phát triển bình quân 5 năm (2013 – 2017) gần 119%.

Riêng 9 tháng đầu năm 2018, Hội An đã đón 4,55 triệu lượt khách, tăng 76,84% so với cùng kỳ. Mặc dù khách lưu trú tăng 18,29% đạt con số 1,32 triệu lượt khách, tuy nhiên số ngày lưu trú khách có chiều hướng giảm. Nếu năm 2013, bình quân ngày lưu trú của khách là 2,3 ngày thì năm 2017 con số này đã giảm xuống còn 2,11 ngày.

Hiện nay Hội An đang bị quá tải giao thông và ô nhiễm môi trường

Bên cạnh đó, thị trường khách truyền thống Hội An là châu Âu, Bắc Mỹ đang sụt giảm mạnh, ngược lại khách Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc tăng nhanh.

Đặc biệt, sức cạnh tranh của du lịch Hội An còn yếu, chất lượng phát triển chưa cao, chưa có nhiều sản phẩm chủ lực; hạ tầng đường sá thiếu đồng bộ; mật độ dân số cao, (gấp 7 -8 lần bình quân cả nước và khoảng 40 lần so với mật độ chuẩn trên thế giới), riêng mật độ dân trong khu phố cổ hiện đã hơn 10 nghìn người/km², dẫn đến quá tải giao thông, ô nhiễm môi trường…

Quang cảnh buổi tọa đàm

Một số ý kiến doanh nghiệp cho rằng, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên thể hiện ở công tác quản lý nhà nước chưa theo kịp với sự phát triển nhanh của du lịch.

Theo ông Kiều Cư, Bí thư Thành ủy Hội An, sắp đến thành phố sẽ xây dựng 3 trung tâm đón tiếp khách, ngoài ra cũng sẽ mở rộng phố đi bộ xuống đường Phan Bội Châu để giảm áp lực phố cổ. Đồng thời cũng sẽ xây dựng các sản phẩm du lịch Hội An đặc thù dựa trên những giá trị văn hóa của Hội An để níu chân du khách, hướng đến sự phát triển bền vững.

NGỌC PHÚC

Phát Triển Du Lịch Huế Bền Vững / 2023

Đến Huế sẽ được đạp sẽ trên những con đường rợp bóng mát

Xanh và sạch

Gần đây, trong chuyến đến Huế để khảo sát các điểm du lịch mới, Tổng Giám đốc Công ty Du lịch Việt, ông Trần Văn Long có chia sẻ, sau một thời gian dài quay lại, Huế vẫn yên bình với những con đường phủ cây xanh, cảnh quan thiên nhiên không bị phá vỡ, là thế mạnh để phát triển du lịch.

Nghiên cứu của Khoa Du lịch- Đại học Huế gần đây về khả năng thu hút khách của điểm đến Huế cho thấy, phong cảnh thiên nhiên, hấp dẫn về văn hóa và an ninh, an toàn là ba yếu tố quan trọng nhất khiến du khách chọn Huế. Với ba yếu tố này vẫn có sự dịch chuyển khác nhau giữa khách quốc tế và nội địa, riêng phong cảnh thiên nhiên được cả hai dòng khách lựa chọn đầu tiên.

Ngày 28/6/2016, Huế đã vượt qua 125 thành phố trên toàn thế giới, được Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế vinh danh là “Thành phố Xanh quốc gia”. Và với những nỗ lực để gìn giữ cảnh quan thiên nhiên, vệ sinh môi trường, cuối tháng 12/2017, Tổng cục Du lịch thông báo, Huế vinh dự đạt giải thưởng “Thành phố Du lịch sạch ASEAN”. Giải thưởng này sẽ được trao cho Huế tại diễn đàn Du lịch Đông Nam Á – ATF 2018, diễn ra ngày 26/1 tới ở Chiang Mai, Thái Lan.

Hiện nay, khá nhiều công ty du lịch ở Huế triển khai những tour tuyến, phát triển du lịch dựa trên yếu tố bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên. Ông Trần Quang Hào, Giám đốc Huetourist cho biết, lý do hình thành tour “Sáng Thủy Biều – Chiều Tam Giang” là giúp du khách có trải nghiệm gần với thiên nhiên, đây cũng là xu hướng phát triển du lịch xanh trên thế giới. Theo đó, nguồn năng lượng để phục vụ du khách ở homestay Thủy Biều hoàn toàn sử dụng bằng năng lượng mặt trời. Khi đến đây, du khách còn tham gia làm vườn, trồng cây, tận hưởng những giá trị sống gắn với thiên nhiên.

Ông Nguyễn Văn Phúc, Phó Giám đốc Sở Du lịch nhận định, du lịch xanh đang phát triển tại Huế và ngày càng thu hút được du khách. Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, sự phát triển du lịch xanh đã và đang mang lại những lợi ích, tạo cơ hội tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân các địa phương. Ngoài ra, du lịch xanh còn góp phần nâng cao dân trí và sức khoẻ cộng đồng thông qua các hoạt động bảo vệ môi trường và nghỉ ngơi giải trí.

Hàng cây mới được trồng tạo bóng mát trên tuyến đường tham quan Đại Nội Phát triển du lịch Huế bền vững

Nguyễn Diễn, Phó Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chi nhánh Đà Nẵng cho hay, tốc độ phát triển của du lịch đang khiến nhiều địa phương phải “khổ sở”. Chẳng hạn như ở Hội An. Nhiều người nơi khác đến Hội An mua đất, xây nhà và kinh doanh dịch vụ homestay. Khi phát triển quá nhanh đã làm mất đi các giá trị, khiến UBND tỉnh Quảng Nam ban hành một quy định được xem là vi hiến, trái pháp luật. Một loạt yêu cầu bắt buộc khi kinh doanh, như: Nhà ít nhất có 2 thế hệ, có thành viên ở tại đó, có bàn thờ tổ tiên… quy định này ở cấp độ địa phương là không thể.

Cũng theo ông Nguyễn Diễn, sự phát triển du lịch gây ra nhiều tác động tiêu cực tới môi trường và biến đổi khí hậu. Phát triển du lịch bền vững được xác định là yêu cầu cấp bách của toàn cầu nói chung, của Việt Nam nói riêng và Huế không ngoại lệ. Phát triển bền vững được hiểu đó là sự phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.

Ông Nguyễn Văn Phúc cho biết, từ năm 2008, tỉnh đã có kế hoạch phát triển bền vững giai đoạn 2008 – 2020, trong đó, đã ý thức rõ việc cần bảo vệ tài nguyên du lịch của địa phương, nhất là yếu tố môi trường tự nhiên và di sản văn hóa, với những định hướng phát triển bền vững du lịch.

“Để du lịch phát triển bền vững và hiệu quả theo định hướng, ngành du lịch Huế đã, đang tập trung thực hiện các giải pháp, lập kế hoạch phát triển từng sản phẩm du lịch một cách cẩn thận từ lúc bắt đầu để mang lại những lợi ích cho cộng đồng địa phương, tôn trọng văn hoá, bảo tồn nguồn lợi tự nhiên; nâng cao năng lực cạnh tranh với các điểm đến du lịch khác trong khu vực, thông qua việc nghiên cứu xu hướng, nhu cầu của du khách, lồng ghép các nguyên tắc bảo tồn văn hóa và thiên nhiên đặc hữu để tạo ra những sản phẩm mới, hấp dẫn, đáp ứng đúng nguyện vọng. Mang đến sự hài lòng cho du khách mà vẫn đảm bảo tính toàn vẹn của văn hóa địa phương, các giá trị thiên nhiên và giá trị di sản”, ông Nguyễn Văn Phúc chia sẻ.

Cũng theo lãnh đạo Sở Du lịch, một trong những định hướng phát triển du lịch của Huế là bảo tồn những giá trị địa phương thông qua việc phát triển những ngành nghề thân thiện với môi trường và sử dụng một cách tiết kiệm nhất các năng lượng không có khả năng tái tạo; chú trọng bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại các điểm du lịch, mỗi một doanh nghiệp khi tổ chức tour tuyến mới phải duy trì hệ sinh thái tự nhiên vốn có tại các điểm du lịch.

Phát triển du lịch là tất yếu và bảo vệ môi trường thiên nhiên sẽ giúp phát triển bền vững, điều này Huế đang làm rất tốt.

Bảy chương trình hành động của Huế khi nhận danh hiệu “Thành phố Xanh quốc gia”: Tăng cường xanh hoá đô thị thông qua việc trồng thêm nhiều diện tích cây xanh, bảo vệ diện tích mặt nước tự nhiên; xây dựng và cải thiện công tác giám sát, xử lý nước thải và chất thải rắn của thành phố; áp dụng hệ thống chiếu sáng thông minh hiệu suất năng lượng cao; thúc đẩy phát triển du lịch bền vững cho thành phố, trong đó chú trọng vào việc tổ chức xây dựng các tuyến thăm quan nhà vườn và các công trình di tích, hệ thống sông hồ, thủy đạo; đẩy mạnh sử dụng năng lượng tái tạo vào các hoạt động du lịch và dịch vụ; sử dụng vật liệu tự nhiên, vật liệu xây dựng không nung để xây dựng các công trình, cơ sở công cộng và tư nhân/hộ gia đình; tiến hành khẩn trương xóa, giảm và di dời các cơ sở ô nhiễm môi trường ra

Phát Triển Bền Vững Du Lịch Nha Trang / 2023

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ___________________________

Nguyễn Trịnh Ngọc Hiền

Chuyên ngành : Địa lý học Mã số : 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN ĐỨC TUẤN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2009

 Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Khoa học Công nghệ và Sau Đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Địa lí và các Thầy Cô trong khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.  Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Đức Tuấn – Thầy đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn.  Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các bạn đồng nghiệp công ty Polaris đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn.  Cuối cùng, Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, những người thân yêu, bạn hữu đã dành tình cảm, động viên và giúp đỡ trong những ngày học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.

Thành phố Hồ Chí Minh 2009 Tác giả

Nguyễn Trịnh Ngọc Hiền

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Xu thế toàn cầu hoá đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch trên phạm vi toàn cầu phát triển nhanh, đem lại nhiều lợi ích cho các quốc gia đồng thời cũng góp phần làm trầm trọng hơn nạn ô nhiễm môi trường khiến các hệ sinh thái bị huỷ hoại. Không những vậy, đôi khi du lịch còn là tác nhân gây mất ổn định về đời sống văn hoá, xã hội. Chính vì vậy, các nhà du lịch thế giới đang tỏ ra quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu các tác động xấu do du lịch gây ra đối với môi trường và đề xuất một chiến lược phát triển mới đảm bảo sự phát triển bền vững của môi trường. Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, du lịch ở Việt Nam được chú ý đầu tư phát triển, góp phần quan trọng làm tăng trưởng kinh tế – xã hội của nước nhà. Thành phố biển Nha Trang với tiềm năng và khả năng phát triển du lịch đã nhanh chóng trở thành một điểm du lịch hấp dẫn không chỉ du khách trong nước mà cả du khách nước ngoài. Tuy nhiên, sự phát triển đó cũng đồng thời kéo theo nhiều tác động tiêu cực đối với môi trường. Do đó, để đạt tới sự hài hoà giữa phát triển mạnh ngành du lịch mà không làm tổn hại đến môi trường sinh thái thì chúng ta đặt ra mục tiêu phát triển du lịch bền vững. Đây là một đề tài nóng hổi trong giai đoạn hiện nay và được nhiều người quan tâm, ủng hộ. Xuất phát từ cơ sở lý luận và những bài học rút ra từ thực tiễn phát triển du lịch bền vững trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng, cũng như do tính cấp thiết của vấn đề, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển bền vững du lịch biển Thành phố Nha Trang”. 2. Mục tiêu của đề tài Đề tài tập trung vào việc vận dụng những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững du lịch trên thế giới và Việt Nam soi sáng cho việc đánh giá khả năng phát triển loại hình du lịch này tại Nha Trang, góp phần phát triển du lịch tại thành phố biển xinh đẹp này theo hướng bền vững.

3. Nhiệm vụ của đề tài Đề tài tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau: – Tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn vế phát triển du lịch bền vững trên thế giới và Việt Nam, vận dụng vào thực tế phát triển du lịch biển tại thành phố Nha Trang. – Phân tích tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch biển ở Nha Trang theo hướng bền vững – Trên cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững, các định hướng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, của khu vực, kiến nghị một số giải pháp phát triển du lịch bền vững ở thành phố Nha Trang. 4. Nội dung nghiên cứu Luận văn tập trung vào việc tổng quan các cơ sở lý luận cho việc phát triển bền vững du lịch biển thành phố Nha Trang. Phân tích tiềm năng, hiện trạng và đề xuất một số giải pháp để phát triển bền vững du lịch biển ở thành phố Nha Trang. 5. Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề du lịch biển trên địa bàn thành phố Nha Trang từ năm 2000 đến nay trên quan điểm phát triển bền vững. 6. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6.1. Trên thế giới Ngay từ những năm 1980, khi các vấn đề về phát triển bền vững bắt đầu được đề cập đã có nhiều nghiên cứu khoa học được thực hiện nhằm phân tích những ảnh hưởng của du lịch đến sự phát triển bền vững. trọng tâm của các nghiên cứu này nhằm giải thích cho sự cần thiết phải đảm bảo tính vẹn toàn của môi trường sinh thái trong khi tiến hành các hoạt động khai thác tài nguyên phục vụ phát triển du lịch tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững. Krippendorf (1975) và Jungk (1980) là những nhà khoa học đầu tiên trên thế giới cảnh báo về những suy thoái do hoạt động du lịch gây ra và đưa ra khái niệm “du lịch rắn” (hard tourism) để chỉ kiểu du lịch ồ ạt và “du lịch mềm” (soft tourism) để chỉ một chiến lược du lịch mới tôn trọng môi trường.

Ngày 14/6/1992, tại Hội nghị của Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển (UNCED) đã diễn ra hội nghị thượng định về Trái đất (The Earth summit). Tại hội nghị này 182 chính phủ đã thông qua Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21), một chương trình hành động toàn diện nhằm đảm bảo một tương lai bền vững cho nhân loại bước vào thế kỷ XXI. Chương trình nghị sự 21 đã nêu ra các vấn để liên quan đến môi trường và phát triển có nguy cơ gây ra những tác động nguy hại về kinh tế và sinh thái từ đó đề ra chiến lược nhằm hướng tới các hoạt động mang tính bền vững hơn. Từ đầu những năm 1990, nhiều nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch, đảm bảo sự phát triển lâu dài. Một số loại hình du lịch quan tâm đến môi trường đã bắt đầu xuất hiện như: du lịch sinh thái, du lịch gắn với thiên nhiên, du lịch khám phá, du lịch thay thế, du lịch mạo hiểm, … đã góp phần nâng cao hình ảnh về một loại hình du lịch có trách nhiệm, đảm bảo sự phát triển bền vững. Năm 1996, hưởng ứng chương trình Nghị sự Trái đất, ngành du lịch toàn cầu đại diện bởi ba tổ chức quốc tế gồm: Hội đồng lữ hành du lịch thế giới (WTTC), Tổ chức du lịch thế giới (WTO) và Hội đồng Trái đất (Earth council) đã ứng dụng những nguyên tắc của Agenda 21 vào du lịch, phối hợp xây dựng một chương trình hành động với tên gọi “Chương trình nghị sự 21 về du lịch: Hướng tới sự phát triển về môi trường”. Chương trình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp du lịch, các chính phủ, các cơ quan du lịch quốc gia, các tổ chức thương mại và người đi du lịch. Chương trình nghị sự 21 về du lịch đã đưa ra các lĩnh vực ưu tiên hành động với mục đích xác định và dự kiến các bước tiến hành. Chương trình này nhấn mạnh sự cần thiết phối hợp hành động giữa các chính phủ, phân tích tầm quan trọng về chiến lược và kinh tế của ngành du lịch, đồng thời nêu bật những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch theo hướng bền vững.

6.2. Ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về du lịch mới được quan tâm nhiều từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây cùng với sự khởi sắc của du lịch nước ta. Các công trình nổi bật như: Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995 – 2000, Cơ sở địa lý du lịch, Địa lý du lịch, Du lịch sinh thái,… và nhiều công trình khác, tập trung nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn với quy mô và phạm vi lãnh thổ khác nhau. Trong những năm gần đây, các tác động của du lịch đối với môi trường tự nhiên và xã hội đã ngày càng trở nên nghiêm trọng và thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Điều đó cũng cho thấy yêu cầu cấp thiết của việc xây dựng và phát triển du lịch bền vững. Các cuộc hội thảo như Hội thảo quốc tế về phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam do tổng cục Du lịch Việt Nam kết hợp với Quỹ Hanns Seidel (CHLB Đức) tổ chức tại Huế (tháng 5/1997), Hội thảo về du lịch sinh thái với phát triển bền vững ở Việt Nam (tại Hà Nội, tháng 4/1998),… du lịch bền vững đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế đề cập, thảo luận. Qua sơ lược lịch sử các nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch bền vững, chúng ta có thể khái quát thành những điểm sau: – Trên thế giới, lĩnh vực du lịch và du lịch bền vững đã được nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu. Các ấn phẩm về lý luận và thực tiễn về vấn đề phát triển du lịch bền vững là những tài liệu bổ ích cho việc nghiên cứu và vận dụng cho các quốc gia bắt đầu tham gia tìm hiểu về loại hình du lịch này. – Ở Việt Nam, du lịch bền vững là một lĩnh vực còn mới mẻ, các vấn đề về lý luận của du lịch bền vững đang tiếp tục được thảo luận để đi đến thống nhất về nhận thức và quan điểm trong các nhà nghiên cứu và điều hành du lịch. Từ đó, tiến hành đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển Việt Nam

nói chung và thành phố Nha Trang nói riêng dựa trên quan điểm phát triển bền vững.

Tiếp thu các nghiên cứu đi trước, tôi mạnh dạn chọn hướng nghiên cứu còn khá mới mẻ này: Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé của mình, cũng như hy vọng đề tài của mình thực sự có ý nghĩa thực tiễn nhằm làm cho du lịch ở thành phố quê hương phát triển ngày một bền vững hơn, góp phần tạo nên sự phát triển bền vững của đất nước. 7. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7.1. Cơ sở phương pháp luận 7.1.1. Quan điểm hệ thống Hệ thống lãnh thổ du lịch được cấu thành bởi nhiều phân hệ khác nhau về bản chất nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Quan điểm hệ thống giúp chúng ta nắm bắt và điều khiển được hoạt động của mỗi phân hệ nói riêng và toàn bộ hệ thống du lịch nói chung. Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống phức tạp gồm nhiều thành phần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đây là một dạng đặc biệt của địa hệ mang tính chất hỗn hợp, có đầy đủ các thành phần: tự nhiên, kinh tế, xã hội và chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản. Vì vậy, quan điểm hệ thống luôn được quán triệt trong nghiên cứu luận văn. Du lịch biển Nha Trang là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống lãnh thổ du lịch Việt Nam và đồng thời cũng chính là một hệ thống lãnh thổ du lịch gồm nhiều thành phần. 7.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ Các đối tượng nghiên cứu của địa lý không thể tách rời một lãnh thổ cụ thể với những đặc trưng riêng. Lãnh thổ du lịch được tổ chức như một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và trên cơ sở các nguồn tài nguyên, các dịch vụ cho du lịch. Quan điểm này được vận dụng vào luận văn thông qua việc phân tích các tiềm năng và các tác động nhiều mặt đối với lãnh thổ du lịch Nha Trang, kết hợp có quy luật trên cơ sở phân tích, tổng hợp các thành phần của hệ thống lãnh thổ du lịch, phát hiện và xác định những điểm đặc thù của chúng.

7.1.3. Quan điểm lịch sử – viễn cảnh Mọi sự vật, hiện tượng đều có sự vận động, biến đồi và phát triển. Nghiên cứu quá khứ để có cơ sở cho việc đánh giá đúng hiện tại, phân tích nguồn gốc phát sinh, phát triển tạo tiền đề cho việc dự báo tương lai, dự báo các xu hướng phát triển. Quan điểm này được vận dụng trong quá trình phân tích các giai đoạn chủ yếu của quá trình hình thành, phát triển hệ thống du lịch, các phân hệ cũng như xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ. 7.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Phát triển du lịch đi đôi với bảo vệ môi trường là một bộ phận không thể thiếu của chính sách sinh thái toàn vẹn. Mục tiêu của du lịch bền vững là bảo vệ tài nguyên và môi trường, tăng cường bảo tồn và đóng góp lợi ích cho cộng đồng, đảm bảo sự phát triển bền vững. Với quan điểm này, tính toàn vẹn lãnh thổ của hệ sinh thái phải được coi trọng, trong đó các tác động của du lịch đối với khả năng chịu đựng của hệ sinh thái cần được tính đến, đảm bảo sự phát triển du lịch trên cơ sở môi trường được bảo vệ một cách có hiệu quả và bền vững. 7.2. Cơ sở phương pháp nghiên cứu 7.2.1. Phương pháp thống kê Các tài liệu thống kê được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau: tài liệu lưu trữ quốc gia và trung ương, tài liệu của các cơ quan cấp tỉnh, của ngành du lịch và các tài liệu có liên quan khác. Các tài liệu thống kê luôn được bổ sung, cập nhật và được chọn lọc để thực hiện các nghiên cứu trong luận văn. 7.2.2. Phương pháp biểu đồ, bản đồ Đây là phương pháp đặc thù của địa lý nói chung và địa lý du lịch nói riêng. Phương pháp này được sử dụng từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng của quá trình tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu. Các mối liên hệ về thời gian, không gian, số lượng, chất lượng của đối tượng địa lý du lịch được thể hiện trong luận văn được thể hiện một cách rõ nét hơn thông qua ngôn ngữ phi lời của hệ thống các bản đồ, biều đồ.

7.2.3. Phương pháp khai thác thông tin địa lý (GIS) Đây cũng là một trong những phương pháp đặc thù của địa lý. Phương pháp này được sử dụng trong việc xây dựng các cơ sở dữ liệu, quản lý dữ liệu, cập nhật, xử lý các dữ liệu và thiết kế các bản đồ phục vụ cho nội dung đề tài nghiên cứu. 7.2.4. Phương pháp điều tra thực địa Đây cũng là một phương pháp truyền thống và đặc trưng của địa lý. Phương pháp này được xem là đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu khoa học nhằm tích luỹ tư liệu thực tế về đặc điểm hình thành, phát triển của lãnh thổ du lịch. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, phương pháp này luôn được chú trọng thực hiện để đạt được tính thực tiễn về đặc trưng của lãnh thổ. Trong nghiên cứu du lịch, các thông tin thu thập được qua điều tra thực tế giúp các nhà nghiên cứu tổng hợp được nhiều ý kiến và quan điểm của các du khách, các nhà quản lý du lịch một cách khách quan. 7.2.5. Phương pháp đánh giá tổng hợp Các tài liệu đã được tác giả thu thập, điều tra, thống kê sẽ được tổng hợp, phân tích với quan điểm hệ thống để làm cơ sở nghiên cứu nội dung đề tài. 7.2.6. Phương pháp điều tra và lấy ý kiến chuyên gia Trong quá trình nghiên cứu tác giả luôn tranh thủ ý kiến của giáo viên hướng dẫn đồng thời cũng tham khảo ý kiến của các chuyên gia về du lịch, các nhà điều hành du lịch ở thành phố Nha Trang và tỉnh Khánh Hoà. 8. Những nội dung cơ bản của luận văn, dự kiến các chương mục Phần mở đầu Phần nội dung Chương 1 : Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững Chương 2 : Tiềm năng và thực trạng phát triển bền vững du lịch biển thành phố Nha Trang Chương 3 : Định hướng và một số giải pháp phát triển bền vững du lịch biển ở thành phố Nha Trang Kết luận và kiến nghị

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.1. Khái niệm về du lịch bền vững 1.1.1. Khái niệm về du lịch Theo thời gian, qua từng thời đại khác nhau, có những quan niệm khác nhau về du lịch. Ở thời kỳ đồ đá, con người “đi” vì sự sinh tồn, vì tránh đói, tránh rét, tránh sợ hãi. Đến thời kỳ cường thịnh của đế quốc La Mã, các chuyến du ngoạn bằng ngựa đã mang mục đích tiêu khiển của những tầng lớp thống trị. Sự ra đời của tàu hỏa vào thế kỷ XIX đã tạo động lực cho giao thông phát triển, đồng thời cũng tạo điều kiện cho du lịch phát triển hơn. Sau đó đến sự có mặt của tàu thủy, ô tô, máy bay,… làm cho du lịch ngày càng trở nên gần gũi với con người hơn. Năm 1925, Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch được thành lập tại Hà Lan, đánh dấu bước ngoặt trong việc thay đổi, phát triển các khái niệm về du lịch. Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc nhóm người, rời khỏi nơi ở của mình trong khoảng thời gian ngắn, đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh. Năm 1985, I.I. Pirogionic đưa ra khái niệm: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến việc di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất, tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức, văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”. Ở Việt Nam, theo luật Du lịch ban hành vào tháng 6 – 2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006, “du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”.

WTO định nghĩa “Du lịch theo nghĩa hành động, được định nghĩa là một hoạt động di chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và tổ chức các dịch vụ xung quanh hoạt động này. Người đi du lịch là người đi ra khỏi nơi mình cư trú một quãng đường tối thiểu là 80 km trong khoảng thời gian hơn 24 giờ với mục đích giải trí, tiêu khiển”. Tuy có khá nhiều các quan điểm khác nhau về du lịch nhưng vẫn chưa có sự thống nhất chung. Do đó, tác giả mong muốn được áp dụng một quan điểm mới của Ts. Nguyễn Đức Tuấn với nội dung khá đầy đủ về du lịch như sau: “Du lịch là sự ra đi của các cư dân và tạm trú cách xa (khoảng 600m) nơi ở thường xuyên của mình để tạo ra các mối quan hệ với nhà cung ứng dịch vụ du lịch, chính quyền và dân địa phương nơi đến, nhằm mục đích phục vụ cho việc nghỉ ngơi, giải trí, tham quan các danh lam thắng cảnh, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, đoàn tụ gia đình, và thực hiện các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, tôn giáo, thể thao có tác dụng nâng cao chất lượng cuốc sống của con người. Ngoài ra, du khách phải nghỉ đêm và mua các dịch vụ ở nơi đến”. 1.1.2. Quan niệm về phát triển bền vững

Từ thế kỷ XIX, qua thực tiễn quản lý rừng ở Đức, người ta đã đề cập tới sự “phát triển bền vững”. Nhưng mãi đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, khái niệm này mới được phổ biến tương đối rộng rãi. Năm 1980, IUCN cho rằng “phát triển bền vững” phải và cân nhắc đến việc khai thác các tài nguyên có khả năng phục hồi và không phục hồi, cần xem xét các điều kiện khó khăn cũng như thuận lợi trong việc tổ chức xen kẽ các hoạt động ngắn hạn và dài hạn. Đến năm 1987, Ủy ban môi trường và phát triển thế giới WCED do bà Grohalem Brundtland thành lập đã công bố thuật ngữ “phát triển bền vững” trong bản báo cáo “Tương lai chúng ta” như sau: “Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng những điều kiện hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.

Theo ơng Jordan Ryan – đại diện thường trú của UNDP tại Việt Nam thì “phát triển bền vững là một q trình đảm bảo tăng tối đa phúc lợi của xã hội và xóa bỏ đói nghèo thơng qua việc quản lý ở mức tối ưu và có hiệu quả tài ngun thiên nhiên”. Ơng khẳng định phát triển bền vững nằm ở phần giao nhau của 3 vòng tròn: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về mơi trường. Cũng theo ơng, chúng ta khơng nên coi phát triển bền vững như một phương tiện thuận lợi để gom tất cả các vấn đề về kinh tế, xã hội và mơi trường lại với nhau, mà cần có một quan điểm tồn diện để đảm bảo các chính sách có tác dụng hỗ trợ thay vì mâu thuẫn nhau.

Hình 1.1. Mơ hình phát triển bền vững mơ phỏng theo quan điểm của Jordan Ryan

Trong Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất tháng 6/1992 tại Rio De Janeiro, “phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp giữa ba hệ thống là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội”. Bà Nguyễn Ngọc Lý (Trưởng ban Phát triển bền vững – UBND thành phố Hà Nội) cũng đồng ý với các định nghĩa về phát triển bền vững của hội nghị Rio De Janeiro, cho rằng khái niệm về phát triển bền vững cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng thời điểm lịch sử, từng nền kinh tế – xã hội khác nhau và tùy theo những nền văn hóa khác nhau của các quốc gia. Ngồi ra, còn có một số tác giả cho rằng: “phát triển bền vững bên cảnh yếu tố là bền vững về kinh tế, xã hội và mơi trường, cần phải có cả sự bền vững về an Hệ kinh tếHệ tự nhiênHệ xã hộiPhát triển bền vững

ninh, chính trị và bảo đảm công bằng xã hội. Khái niệm phát triển bền vững mang tính chất toàn cầu nên không thể hiểu phát triển bền vững chỉ trong phạm vi một nước mà phải tính đến những yếu tố hợp tác quốc tế, yếu tố phối hợp phát triển giữa các quốc gia, nhất là những ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường. Ngày nay, tất cả các quốc gia đều đề cập đến “phát triển bền vững” trong quá trình hoạch định chính sách và quản lý phát triển kinh tế với ý muốn nhấn mạnh phương thức và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển. Tuy hiện có khá nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững, song tựu trung, tất cả đều thống nhất ở các nội dung sau: ” Phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa cả về 3 mặt: Kinh tế – xã hội môi trường để đáp ứng những nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại, gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế – xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng cuộc sống của các thế hệ trong tương lai”. Như vậy, để PTBV thì phải cùng đồng thời thực hiện 3 mục tiêu: (1) Phát triển có hiệu quả về kinh tế; (2) Phát triển hài hòa các mặt xã hội; nâng cao mức sống, trình độ sống của các tầng lớp dân cư; (3) Cải thiện môi trường môi sinh, bảo đảm phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau. Thể hiện qua hình 1.2 và hình 1.3 sau đây:

Mục tiêu kinh tế

Phát triển bền vững

Mục tiêu xã hội Mục tiêu sinh thái

Hình 1.2: Mô hình phát triển bền vững của ngân hàng Thế giới World Bank

Giá trị máy móc Cạnh tranh quốc tế

Kinh tế Nông nghiệp bền vững Bảo vệ nguồn nước Kiểm soát thuốc BVTV Bảo vệ cuộc sống, văn hóa trong nông nghiệp

Phát triển Hệ thống quata Hợp tác nông trại

Chính sách thu nhập Nghiên cứu phát triển

Phát triển bền vững

Sinh thái

Xã hội Bảo vệ Bả ệ habitat o v

Bình ổn giá Du lịch sinh thái Chất lượng cảnh quan Quản lí và bảo vệ MT vùng nông thôn Chất lượng nước Đa dạng sinh học

Sức khỏe và sự an toàn

Các giá trị giải trí Chống thất nghiệp

Hình 1.3: Mô hình phát triển bền vững của Villen, 1990

1.1.3. Quan niệm về phát triển du lịch bền vững Xu thế phát triển du lịch thế giới nói chung và Việt nam nói riêng đang đứng trước sự bắt buộc phải sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của mình, đặc biệt là nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn. Khái niệm “phát triển du lịch bền vững” xuất hiện khoảng từ 10 năm trở lại đây trên cở sở cải thiện và nâng cấp khái niệm “du lịch mềm” (soft tourism), được nhiều quốc gia và hiệp hội du lịch lớn trên thế giới ủng hộ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất và đầy đủ về “du lịch bền vững”. Năm 1992, Tổ chức du lịch thế giới (WTO – the World Tourism Organisation) định nghĩa: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi vẫn duy trì được sự vẹn toàn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển

của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”. Năm 1996, Diễn đàn lãnh đạo các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp lữ hành – du lịch (WTTC – The World Travel and Tourism council) đưa ra khái niệm: “Du lịch bền vững là sự đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch mai sau”. Du lịch bền vững đòi hỏi các cấp và các đơn vị kinh doanh du lịch quản lý tất cả các dạng tài nguyên du lịch theo một cách nào đó để một mặt đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ, trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và các hệ thống sinh thái đảm bảo sự sống. (Theo Hens.L, 1998). Ở Việt Nam, phát triển bền vững được thể hiện trong chỉ thị 36CT của bộ Chính Trị, ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 25 tháng 6 năm 1998: Mục tiêu và các quan điểm cơ bản cho phát triển bền vững chủ yếu dựa vào hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên như một bộ phận cấu thành không thể tách rời của phát triển bền vững. Theo quan điểm của Tổng cục Du lịch Việt Nam, phát triển du lịch phải được định hướng và quản lý theo phương châm: Kết hợp hài hòa nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ sản xuất và tiêu dùng du lịch, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch tự nhiên; chú trọng bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của tài nguyên du lịch nhân văn; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tránh hiện đại hóa hoặc làm biến dạng môi trường, cảnh quan di tích, xây dựng và giữ gìn môi trường xã hội lành mạnh, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là ở các đô thị du lịch và các điểm tham quan du lịch. Theo điều 5, luật Du lịch Việt Nam: “Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo hài hòa giữa kinh tế – xã hội – môi trường, phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch – văn hóa, lịch sử, du lịch sinh thái, bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch. Đảm bảo chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Đảm bảo lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, lợi ích chính đáng và an ninh, an toàn cho khách du lịch, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch. Đảm bảo sự tham gia của các thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư trong phát triển du lịch. Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và giao lưu quốc tế để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Phát triển đồng thời du lịch trong nước và du lịch quốc tế, tăng cường thu hút ngày càng nhiều khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam. Từ đó, chúng ta có thể thấy mục tiêu của phát triển du lịch bền vững là: – Phát triển bền vững về kinh tế: du lịch là một ngành kinh tế nên phát triển du lịch bền vững cần phải bền vững về kinh tế, thu nhập phải lớn hơn chi phí, phải đạt được sự tăng trưởng cao, ổn định trong thời gian dài, tối ưu hóa đóng góp của ngành du lịch thu nhập quốc dân, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. – Phát triển bền vững về môi trường: phải sử dụng, bảo vệ tài nguyên và môi trường theo hướng tiết kiệm, bền vững, đảm bảo sự tái tạo và phục hồi của tài nguyên, nâng cao chất lượng của tài nguyên và môi trường, thu hút cộng đồng và du khách vào các hoạt động bảo tồn, tôn tạo tài nguyên.

– Phát triển bền vững về xã hội: thu hút cộng đồng tham gia vào các hoạt động du lịch, tạo nhiều việc làm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương, cải thiện tính công bằng xã hội, đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách. 1.2. Các yêu cầu để phát triển du lịch bền vững 1.2.1. Hệ sinh thái Hệ sinh thái đề cập đến việc duy trì các hệ thống trợ giúp cuộc sống (đất, nước, không khí, cây xanh), bảo vệ sự đa dạng và ổn định của các loài và hệ sinh thái. Tiêu chuẩn này đòi hỏi các hoạt động du lịch và cơ sở hạ tầng phải phù hợp với các điều kiện của môi trường.

Vì điều kiện của môi trường thay đổi theo không gian, do vậy mà các loại hình du lịch phải phù hợp với điều kiện môi trường của mỗi vùng. 1.2.2. Hiệu quả Đánh giá các phương thức và biện pháp phát triển về mặt đo lường chi phí, thời gian, tiền và lợi ích của xã hội và cá nhân. Trong phát triển du lịch phải đạt được hiệu quả về lượng vốn và lao động bỏ ra trong hoạt động kinh doanh. 1.2.3. Cân bằng Đảm bảo sự phát triển bình đẳng và thừa nhận các nhu cầu giữa cá nhân và hộ gia đình, các nhóm xã hội, giữa thế hệ hiện tại và tương lai, giữa con người và thiên nhiên. 1.2.4. Bản sắc văn hóa Đề cập đến việc bảo vệ và duy trì chất lượng cuộc sống, các truyền thống văn hóa đặc sắc như tôn giáo, nghệ thuật. Du lịch phải tăng cường bảo vệ văn hóa thông qua chính sách du lịch văn hóa. 1.2.5. Cộng đồng Du lịch phải tạo cơ hội cho công đồng địa phương tham gia vào các hoạt động du lịch sinh thái, bảo vệ môi trường thông qua đầu tư vào các hoạt động kinh doanh du lịch, thúc đẩy sự phát triển của các ngành có liên quan như công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, nông nghiệp,… 1.2.6. Công bằng Đề cập đến việc hòa nhập, cân bằng và hài hòa giữa các yếu tố (chẳng hạn như giữa kinh tế và môi trường, giữa nông nghiệp và du lịch, giữa các loại hình du lịch, …). 1.2.7. Phát triển Thực hiện các tiềm năng, thông qua đó mà khả năng được thúc đẩy để cải thiện chất lượng cuộc sống. Tăng trưởng là kết quả của sự phát triển nhưng không đồng nghĩa với khai thác triệt để và phá hủy môi trường.

1.3. Những nguyên tắc đảm bảo phát triển du lịch bền vững 1.3.1. Khai thác, sử dụng các tài nguyên một cách hợp lý Phát triển bền vững chủ trương ủng hộ việc lưu lại cho các thế hệ tương lai một nguồn tài nguyên thiên nhiên không kém so với cái mà các thế hệ trước đã được hưởng, ngăn ngừa trước những thay đổi mà có thể tránh được đối với những tài nguyên môi trường không thể tái tạo, thay thế, tính vào chi phí các hoạt động

kinh tế, dịch vụ được môi trường thiên nhiên cung cấp, những dịch vụ này không phải là “hàng hóa cho không”. Các nguyên tắc như vậy cũng được áp dụng đối với tài nguyên nhân văn. Chúng ta cần trân trọng các nền văn hóa địa phương, truyền thống dân tộc, kế sinh nhai và đất đai mà người ta dựa vào để sống. Việc sử dụng tiết kiệm, bảo tồn và bảo vệ các nguồn lực này đang ngày càng được nhìn nhận như là vấn đề sống còn đối với việc quản lý hợp lý mang tính toàn cầu và nó cũng khiến cho việc kinh doanh phát triển lâu dài. 1.3.2. Hạn chế sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải Sự tiêu thụ tài nguyên quá mức các nguồn tài nguyên sẽ dẫn tới sự hủy hoại môi trường trên toàn cầu chúng ta và đi ngược lại với sự phát triển của du lịch. Kiểu tiêu thụ quá mức này là một đặc trưng của các nước có nền công nghiệp phát triển và đã lan rộng rất nhanh trên toàn cầu như là phong cách sống phương Tây. Các dự án du lịch được triển khai mà không có các đánh giá tác động môi trường hoặc không thực thi các kiến nghị về tác động môi trường của các dự án đó đã dẫn tới sự tiêu dùng lãng phí, vô trách nhiệm đối với các tài nguyên môi trường. Chính điều này đã gây ra sự ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và xáo trộn về mặt văn hóa và xã hội. Khai thác, sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát lượng chất thải từ du lịch góp phần dẫn đến suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là sự phát triển không bền vững của ngành du lịch nói riêng và kinh tế – xã hội nói chung. Việc giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải ra ngoài môi trường sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại môi trường và góp phần nâng

cao chất lượng du lịch. 1.3.3. Phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn tính đa dạng Tính đa dạng về thiên nhiên, văn hóa, xã hội là thế mạnh của mỗi quốc gia nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách về các sản phẩm du lịch. Đa dạng cũng là sự sống còn khi tránh được việc quá phụ thuộc vào một hay một vài nguồn lực sinh tồn. Phát triển bền vững cho chủ trương ủng hộ việc để lại cho thế hệ mai sau sự đa dạng cả về tài nguyên thiên nhiên và nhân văn không ít hơn những gì thế hệ trước được thừa hưởng. Chiến lược bảo tồn thế giới nhấn mạnh sự cần thiết bảo tồn đa dạng nguồn gen, từ đó, mục đích đã được mở rộng, trong đó có sự đa dạng cơ cấu chính trị, kinh tế – xã hội và các nền văn hóa. Việc duy trì và phát triển tính đa dạng của thiên nhiên, văn hóa và xã hội là yêu cầu rất quan trọng đối với việc phát triển du lịch bền vững, là chỗ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch. 1.3.4. Phát triển phải phù hợp với tổng thể kinh tế – xã hội Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng cao, chính vì vậy, mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp với các quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội của địa phương, của vùng kinh tế. Du lịch được thiết lập đúng đắn sẽ tăng cường các giá trị về tài sản môi trường, bảo vệ các loài quý hiếm và mang lại sự cải thiện đối với cộng đồng địa phương. Những nơi mà du lịch không kết hợp với các ngành khai thác thông qua quy hoạch có chiến lược thì du lịch sẽ bung ra nhanh chóng và khó kiểm soát được nền kinh tế địa phương. Hợp nhất phát triển du lịch vào trong khuôn khổ hoạch định chiến lược cấp quốc gia và địa phương, tiến hành đánh giá tác động môi trường làm tăng khả năng tồn tại lâu dài của ngành du lịch. 1.3.5. Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương Để phục vụ cho việc phát triển kinh tế – xã hội nói chung và từng ngành kinh tế nói riêng, việc khai thác các tài nguyên là tất yếu. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trên một địa bàn lãnh thổ, nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi ích của mình mà không có

sự chia sẻ, phối hợp với các ngành khác và không quan tâm đến lợi ích kinh tế chung cũng như quyền lợi của người dân địa phương thì tất yếu sẽ gây khó khăn cho cuộc sống của người dân địa phương. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến sự thuận lợi trong việc phát triển kinh tế của ngành đó mà còn đẩy người dân địa phương vào thế phải tăng cường khai thác các tài nguyên sẵn có của mình để đáp ứng các nhu cầu của cuộc sống, dẫn tới sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và sự phát triển kém ổn định, bền vững của địa phương. Do đó, du lịch phải làm nền cho sự đa dạng hóa kinh tế bằng hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Sự đầu tư có kế hoạch đúng đắn về hạ tầng cơ sở như đường sá, điện nước, thông tin liên lạc, … có thể phục vụ cho sự phát triển tổng thể, thông qua đó, thúc đẩy sự phát triển nhanh của du lịch. Du lịch cũng cần lưu tâm đến các chức năng kinh tế có tính chất quan trọng và hợp nhất các giá trị môi trường trong các quyết định đầu tư. Ngành du lịch hỗ trợ được các hoạt động kinh tế địa phương và có tính đến các giá trị và chi phí về mặt môi trường thì mới bảo vệ được nền kinh tế địa phương và tránh được sự tổn hại về môi trường. 1.3.6. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động du lịch Sự tham gia của cộng đồng địa phương là rất cần thiết cho ngành du lịch. Người dân địa phương với nền văn hóa bản địa, môi trường, lối sống và truyền thống của họ là những nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch đến với một điểm du lịch, đồng thời cũng hỗ trợ, đáp ứng nhu cầu sống của người dân địa phương, bảo vệ môi trường thiên nhiên và văn hóa của họ; và sự tham gia của cộng đồng địa phương cũng làm phong phú thêm các loại hình và sản phẩm du lịch. Hơn nữa, khi cộng đồng địa phương được tham gia chỉ đạo phát triển du lịch thì sẽ tạo ra được những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho du lịch bởi cộng đồng sở tại là chủ nhân và là người có trách nhiệm chính với tài nguyên và môi trường khu vực. Điều này sẽ tạo ra khả năng phát triển lâu dài của du lịch. Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch được thực hiện thông qua việc khuyến khích họ sử dụng các phương tiện, các cơ sở vật chất của mình để phục vụ khách du

lịch như chuyên chở, thuyết minh hướng dẫn du khách, cho thuê nhà ở, nấu ăn cho khách, sản xuất các hàng thủ công mỹ nghệ làm đồ lưu niệm. Khuyến khích cộng đồng địa phương cùng làm du lịch không chỉ qua những việc làm có thu nhập thấp, theo mùa và những việc phục vụ như bồi bàn, dọn phòng mà nên có những công việc ở mức cao hơn và những công việc quản lý có thu nhập cao thường do người nước ngoài làm thì người dân địa phương cũng có thể đảm đương bởi họ cũng có kinh nghiệm và sự hiểu biết đặc biệt về địa phương mình để góp phần không nhỏ cho sự phát triển du lịch của địa phương mình. Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào du lịch sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho họ và môi trường mà còn nâng cao chất lượng du lịch. 1.3.7. Thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến với cộng đồng địa phương

và các đối tượng liên quan Tham khảo ý kiến quần chúng là một quá trình nhằm dung hòa giữa phát triển kinh tế với những mối quan tâm lớn hơn của người dân địa phương và tác động tiềm ẩn của sự phát triển lên môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa. Ý kiến của người dân địa phương là cần thiết để đánh giá một dự án phát triển, các biện pháp để giảm thiểu tác động tiêu cực và tối đa hóa sự đóng góp tích cực của quần chúng địa phương. Du lịch còn đem lại sự tiếp xúc trực tiếp giữa du khách với người dân địa phương và những thay đổi tiềm ẩn do sự thay đổi nhanh chóng của ngành du lịch. Tham khảo ý kiến trên diện rộng với các chính quyền địa phương cũng như người dân để khuyến khích sự tham gia đóng góp ý kiến, lồng ghép các lợi ích của cá nhân và quần chúng. 1.3.8. Chú trọng đào tạo, nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường Một lực lượng lao động được đào tạo và có kỹ năng thành thạo, không những mang lại lợi ích về kinh tế cho ngành mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch. Việc đào tạo đúng mức và nhận thức của người học về tầm quan trọng và tính chất phức tạp của du lịch sẽ giúp cho việc nâng cao lòng tự hào nghề nghiệp và tăng cường sản phẩm du lịch đối với du khách, chủ nhà và ngành du lịch.

Việc đào tạo phải bao gồm cả giáo dục đa văn hóa nhằm tăng cường sự hiểu biết và cảm nhận khác nhau về văn hóa và làm cho nhân viên du lịch và học viên nắm được nhu cầu của khách và cả chủ nhà. Điều đó cũng góp phần loại bỏ các thành kiến không tốt và tư tưởng bài ngoại. Lợi ích lâu dài cho mọi người đòi hỏi việc đào tạo và sử dụng nhân viên là người địa phương, điều này được áp dụng đặc biệt đối với các cán bộ tổ chức và hướng dẫn viên có kiến thức sâu rộng có kiến thức sâu rộng và mối quan tâm lớn trong vùng và việc tham gia của họ sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ. Đào tạo nhân viên người địa phương không nên chỉ hạn chế trong những công việc đơn giản, có vị trí thấp và mức lương thấp. Việc đào tạo nhân viên, trong đó có lồng ghép vấn đề du lịch bền vững vào thực tiễn công việc, cùng với việc tuyển dụng lao động địa phương vào mọi cấp sẽ làm tăng chất lượng du lịch. 1.3.9. Tăng cường quảng bá tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm Tiếp thị và quảng cáo là những vũ khí lợi hại cho việc bán thành công bất cứ sản phẩm nào. Phát triển bền vững dựa trên sự tiếp thị đầy đủ và trung thực các thông tin về sản phẩm, bao gồm cả các tác động của chúng đối với nhân viên và môi trường. Điều đó nhằm nâng cao chất lượng môi trường tự nhiên, nhân tạo và mức sống có tính đến giá thành của các giá trị môi trường có xét đến nhu cầu của thế hệ hiện tại và tương lai. Chiến lược tiếp thị đối với du lịch bền vững bao gồm việc xác định, đánh giá và luôn rà soát lại mặt cung của những nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân văn và cá nguồn lực khác cũng như khía cạnh cung – cầu. Do sự tăng trưởng của du lịch và sự hoán vị của các điểm tham quan mà tiếp thị du lịch đặc biệt có tính cạnh tranh. Nó mang tính độc nhất và người tiêu dùng “nhắm mắt” mua sản phẩm vì người ta không thể khảo sát điểm tham quan trước khi mua, do đó, người tiêu dùng đến với sản phẩm và tiêu thụ nó ngay tại nguồn. Tiếp thị và quảng cáo du lịch một cách đầy đủ và có trách nhiệm giúp nâng cao hiểu biết, sự cảm kích, lòng tôn trọng văn hóa và môi trường địa phương và làm tăng sự

thỏa mãn toàn diện của du khách. 1.3.10. Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu Để ngành du lịch tồn tại và phát triển một cách bền vững, điều cốt yếu là cần có sự dự đoán vấn đề và nắm trước các chi phí giải quyết vấn đề. Tốc độ phát triển nhanh của du lịch tại những khu vực dễ bị tổn thương về mặt môi trường, kinh tế và xã hội. Những môi trường này thường có ít số liệu do khó khăn trong việc thu thập. Điều đó cho thấy nhu cầu cấp thiết cần thực hiện các nghiên cứu cơ bản hơn nữa để đảm bảo không chỉ cho hiệu quả kinh doanh mà còn cho sự phát triển bền vững trong mối quan hệ với cơ chế, chính sách, với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường. Việc nghiên cứu toàn diện đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa ngành du lịch với các trường đại học, viện nghiên cứu, chính phủ và các tổ chức phi chính phủ về tiềm năng, kỹ năng nghiên cứu và tổ chức cũng như thiện chí về chính trị, sự trung thực và cam kết về nghiệp vụ. Tiếp tục nghiên cứu và giám sát ngành du lịch thông qua việc sử dụng và phân tích có hiệu quả các số liệu là cần thiết để giúp cho việc giải quyết những vấn đề còn tồn đọng và mang đến lợi ích cho các điểm tham quan, cho cộng đồng địa phương, cho du lịch và cho du khách.

Kết luận chương 1

Cuộc sống con người ngày càng nâng cao thì các nhu cầu để thỏa mãn cuộc sống cũng ngày càng được cải thiện, trong đó, hoạt động du lịch cũng đòi hỏi phải được phát triển bền vững để không chỉ đáp ứng cho nhu cầu hiện tại mà cho cả trong tương lai. Hiện nay đã có một số nguyên tắc và yêu cầu được đưa ra để làm kim chỉ nam hoạt động nhằm đảm bảo cho sự phát triển được bền vững. Việt Nam nói chung và thành phố Nha Trang nói riêng, đã và đang tiếp thu kinh nghiệm trong phát triển du lịch, gắn du lịch với các hoạt động kinh tế – xã hội khác cũng như gắn với cộng đồng dân cư để tạo nên một tổng thể hoàn thiện phát triển bền vững.

Chương 2. TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN THÀNH PHỐ NHA TRANG

2.1. Tài nguyên du lịch biển Nha Trang 2.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên 2.1.1.1. Vị trí địa lý Thành phố Nha Trang là một thành phố biển nằm ở cực đông Việt Nam, là tỉnh lỵ của tỉnh Khánh Hòa, thuộc vùng Nam Trung bộ, có diện tích là 250.692 km2, trải dọc theo chiều dài của đất nước từ vĩ độ bắc 12o8’33” đến 12o25’18” và từ kinh độ đông 109o6’16” đến 109 o14’30”.

Hình 2.1: Bản đồ thành phố Nha Trang – Nguồn: www.lib.utexas.edu