Top 7 # Xem Nhiều Nhất Định Hướng Du Lịch Việt Nam Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Tuvanduhocsing.com

Định Hướng Cho Phát Triển Du Lịch Nông Nghiệp Việt Nam

Chiều 30/3/, tại Hà Nội, TCDL phối hợp với Báo Nông thôn Ngày nay tổ chức hội thảo “Định hướng phát triển du lịch nông nghiệp từ góc độ sản phẩm và thị trường”.

Tham dự hội thảo có đại diện TCDL, T.Ư Hội Nông dân Việt Nam, UBND và Sở Du lịch, Sở VHTTDL các tỉnh/thành phố, Văn phòng Điều phối Nông thôn mới T.Ư, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cùng nhiều doanh nghiệp du lịch, lữ hành và 50 cơ quan báo chí truyền thông tại Hà Nội.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Tổng cục trưởng TCDL Nguyễn Văn Tuấn nhấn mạnh: “Ngành du lịch và nông nghiệp cần có sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa, đồng thời phải dựa trên những giá trị khác biệt và nổi bật của nông nghiệp để tạo các sản phẩm du lịch gắn với nông nghiệp mang tính đặc thù, hấp dẫn và có phương thức tiếp thị, quảng bá, xúc tiến hiệu quả để mang lại sự phát triển xứng tầm cho du lịch nông nghiệp Việt Nam”.

Tổng cục trưởng TCDL Nguyễn Văn Tuấn Phát biểu khai mạc hội thảo

Sau phát biểu khai mạc của Tổng cục trưởng TCDL, hội thảo đã nghe Vụ trưởng Vụ Lữ hành TCDL, Nguyễn Quý Phương báo cáo tổng quan về phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam hiện nay.

Báo cáo chỉ rõ: Du lịch và nông nghiệp là hai ngành mũi nhọn được Đảng và Nhà nước xác định ưu tiên phát triển trong định hướng phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Nhiều năm qua hoạt động du lịch nông nghiệp đã được khai thác mạnh mẽ ở nhiều địa phương, tạo thành những sản phẩm du lịch chủ đạo trong việc thu hút khách, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế ,xã hội của các địa phương. Nhiều sản phẩm du lịch mang đặc thù văn hóa nông nghiệp các vùng miền trải dài từ Bắc tới Nam đã được hình thành. Một số chương trình đã trở thành thương hiệu với khả năng thu hút khách hàng trong nước và quốc tế như khám phá miệt vườn sông nước Cửu Long, tour “Một ngày làm nông” ở Quảng Nam…

Theo đó, trong giai đoạn tới, chính sách xây dựng nông thôn mới, phát triển nông nghiệp chất lượng cao của ngành nông nghiệp sẽ là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch. Việc đẩy mạnh khai thác các giá trị của ngành nông nghiệp để tạo thành sản phẩm du lịch chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh là hướng đi tất yếu.

Cũng tai đây, các đại biểu đã nghe giới thiệu nhiều mô hình, sản phẩm du lịch nông nghiệp hiệu quả, như: Mô hình du lịch nông nghiệp tại các làng nông nghiệp truyền thống vùng Ba Vì (Hà Nội) của Trang trại Đồng quê Ba Vì; Du lịch nông nghiệp đồng bằng sông Hồng của Công ty Du lịch Ngôi sao Ninh Bình; Mô hình du lịch cộng đồng của Công ty CBT Travel Việt Nam…

Toàn cảnh hội thảo

Phát biểu tổng kết hội thảo, Phó Tổng cục trưởng TCDL Ngô Hoài Chung cho rằng: Mặc dù tài nguyên để phát triển du lịch nông nghiệp của chúng ta còn lớn nhưng việc khai thác sản phẩm du lịch nông nghiệp dù có cố gắng nhưng mới ở giai đoạn bước đầu, giá trị của du lịch nông nghiệp nhỏ bé, quá trình phát triển còn mang tính tự phát, chưa tương xứng với tiềm năng cũng như kỳ vọng của chúng ta. Chính vì vậy, qua các ý kiến, các bài viết cũng như tham luận tại hội thảo, ngành Du lịch cần có thêm những sản phẩm khác biệt và nổi trội có vai trò to lớn. Phát triển sản phẩm du lịch gắn với cộng đồng. Phát triển du lịch trong nông nghiệp không chỉ góp phần thuần túy về kinh tế mà còn giúp bảo tồn giá trị văn hóa tốt đẹp của người Việt Nam.

Hồng Lụa

Định Vị Du Lịch Biển Việt Nam

Định vị sản phẩm du lịch

Du lịch ngày nay đã trở thành một sản phẩm quan trọng trong tiêu dùng của con người. Trên phạm vi thế giới, thu nhập từ riêng ngành du lịch (phản ánh mức chi tiêu trực tiếp của người tiêu dùng) chiếm 2,8% GDP toàn cầu. Chi tiêu cho du lịch ngày càng tăng và dự đoán thu nhập của riêng ngành du lịch sẽ tăng lên mức 4,1% GDP năm 2011 (WTTC, 2011). Trong khía cạnh sản xuất, phần đóng góp của du lịch cho GDP thậm chí là lớn hơn với mức 9,1% năm 2011 và sẽ là 9,6% năm 2020.

Du lịch là một ngành đang phát triển nhanh trên phạm vi thế giới với tốc độ tăng trưởng lượng khách trung bình 7 – 8%/năm. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương là nơi có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất, tới 13% trong năm 2010. Có một thực tế là tuy lượng khách du lịch quốc tế tăng lên nhanh chóng, cạnh tranh thu hút khách du lịch không vì thế mà giảm đi, ngược lại ngày càng trở nên gay gắt giữa các quốc gia. Ưu tiên hàng đầu trong phát triển du lịch của nhiều quốc gia: cùng với việc xây dựng các chiến lược phát triển hiện thực, là phát triển các chương trình hành động cụ thể, nâng cao sức cạnh tranh của du lịch quốc gia. Các hoạt động này gắn liền với việc xác định và tạo lập một vị trí, hình ảnh, thương hiệu du lịch riêng có của quốc gia trên bản đồ thế giới. Nói cách khác, trong quá trình xây dựng chiến lược và chương trình phát triển, xúc tiến du lịch quốc gia, định vị sản phẩm du lịch quốc gia là một vấn đề luôn được tập trung cân nhắc.

Định vị sản phẩm là việc lựa chọn, tạo lập một ví trí riêng biệt về sản phẩm trong suy nghĩ của khách hàng mục tiêu, giúp khách hàng biết và phân biệt được công ty và sản phẩm của công ty với các đối thủ cạnh tranh khác, thấy được cách thức sản phẩm của công ty đáp ứng nhu cầu và mong muốn của họ. Đây là một hoạt động quan trọng trong marketing và trong kinh doanh nói chung. Một sản phẩm nếu không có một chiến lược định vị hiệu quả sẽ không thuyết phục được khách hàng rằng sản phẩm đó đáp ứng nhu cầu thực sự của họ; không cho phép sản phẩm có thể cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại vì nó không có được vị trí ưu tiên trong danh sách mua sắm của khách hàng.

Đối với các sản phẩm du lịch nói chung và các điểm đến du lịch nói riêng, những sản phẩm có tính đồng nhất tương đối nhiều và có khả năng dễ thay thế. Việc xây dựng một hình ảnh đặc trưng của sản phẩm trở nên rất quan trọng trong kinh doanh. Định vị hiệu quả cho phép sản phẩm du lịch tiếp cận được chính xác nhu cầu của các đối tượng khách du lịch cụ thể bởi nhu cầu của khách du lịch khá đa dạng và phong phú. Ví dụ như cùng một nhu cầu nghỉ biển, nhưng sở thích của khách du lịch có thể đa dạng hơn rất nhiều. Có người tới nghỉ biển để thưởng thức ánh nắng, bãi tắm và đồ ăn thức uống. Sự ồn ào, náo nhiệt của biển là yếu tố không thể thiếu. Có khách lại xem biển là nơi nghỉ ngơi, tắm mát đơn thuần. Một chuyến du lịch biển sẽ tốt hơn nếu được kết hợp với các loại du lịch khám phá khác… Trong khi du lịch biển phát triển ở nhiều nơi trên thế giới thì điều quan trọng với một nước là xác định cho mình một vị trí riêng sao cho khi nói tới du lịch biển của nước đó, những đặc trưng riêng của sản phẩm quốc gia đó hiện lên và tạo ra sức hút mạnh với nhóm khách du lịch có nhu cầu và đặc điểm tiêu dùng tương ứng.

Định vị điểm đến du lịch thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cũng như nhà quản lý du lịch, được xác định như một chiến lược quan trọng đối với các điểm đến. Việc định vị điểm đến du lịch được tiếp cận theo hai phương pháp. Phần lớn các nghiên cứu dựa trên cách định vị truyền thống, tức là dựa trên đặc điểm hấp dẫn của chính sản phẩm. Một số nghiên cứu khác tập trung vào việc xác định những thuộc tính trong nhận thức của khách du lịch về điểm đến và coi đây là cơ sở cho việc định vị điểm đến du lịch. Định vị điểm đến theo cách này gắn liền xây dựng một hình ảnh (image) hay một thương hiệu (brand) cho điểm đến. Trong quá trình đó, việc xác định nhận thức của khách du lịch về sản phẩm du lịch chiếm một vị trí quan trọng.

Định vị sản phẩm du lịch biển một số nước trong khu vực Đông Nam Á

Các nước ASEAN nằm trong khu vực có tốc độ phát triển du lịch cao nhất thế giới. So với các nước trong khu vực, Du lịch Việt Nam bắt đầu phát triển muộn hơn nhưng cũng đã đạt được những kết quả rất khả quan trong những năm gần đây, đặc biệt trong năm 2010 (Bảng 1). Tuy vậy, so với các nước như Singapore, Thái Lan hay Malaysia, sự phát triển của Du lịch Việt Nam còn khá khiêm tốn.

Bảng 1: Số lượng khách quốc tế tới ASEAN

Nguồn: ATF 2010

Sản phẩm du lịch của các nước trong khu vực Đông Nam Á khá đa dạng, từ du lịch văn hóa, mua sắm, hội nghị tới sinh thái, khám phá, nghỉ dưỡng. Với vùng biển ấm, nằm ở khu vực nhiệt đới, du lịch biển là một trong những thế mạnh của các nước Đông Nam Á. Hai quốc gia có sản phẩm du lịch biển nổi bật là Indonesia và Thái Lan.

Du lịch biển là một trong những sản phẩm du lịch chính của Thái Lan từ nhiều thập kỷ nay và đã trở thành một thương hiệu, một hình ảnh sản phẩm riêng, được khách du lịch quốc tế biết tới. Có thể nói, phát triển du lịch biển ở Thái Lan có lịch sử lâu hơn cả so với các nước trong khu vực. Trong quá trình phát triển, Thái Lan xây dựng cho mình một hình ảnh du lịch biển năng động và một hệ thống dịch vụ biển phong phú.

“Vui vẻ, mặt trời, lướt sóng và yên bình – Những khu nghỉ dưỡng biển cho du lịch quốc tế và nội địa của Thái Lan từ lâu đã được ưu chuộng” (Fun, Sun, Surf and Serenity of Thai Beaches – the long-standing popularity of Thai Beach resorts for international and domestic tourism) là những hình ảnh du lịch biển Thái Lan muốn tạo lập trong các chiến lược xúc tiến gần đây. Sản phẩm định vị khá rõ ràng là loại sản phẩm du lịch biển phổ biến với những khu nghỉ dưỡng biển (resort), thích hợp cho nhiều đối tượng khách du lịch.

Định vị sản phẩm biển của Thái Lan được xác định từ hàng chục năm gần đây và trên cơ sở đó họ đã phát triển các sản phẩm và dịch vụ du lịch cụ thể, hướng tới việc xây dựng một hình ảnh du lịch phổ biến. Các khu nghỉ biển thường gắn liền với một hệ thống dịch vụ du lịch lớn. Trong con mắt người nước ngoài, du lịch biển Thái Lan là một sản phẩm đáp ứng nhu cầu đi nghỉ và vui chơi đại chúng, một sản phẩm mà khách du lịch có thể nghĩ tới đầu tiên khi nghĩ tới đi biển và chưa cân nhắc tới một yêu cầu đặc biệt, cụ thể nào khách (như thăm thú, văn hóa…).

Trong khi đó, cũng hướng khai thác mạnh giá trị của du lịch biển nhưng Bali (Indonesia) nổi bật với vị trí “Hòn đảo của hàng triệu phép màu” (Bali-the island of million miracles). Điểm khác biệt ở đây là Bali định vị sản phẩm du lịch biển của mình kết hợp với du lịch văn hóa của hòn đảo. Sản phẩm du lịch biển của Bali được xây dựng trong một không gian liên kết giữa bãi biển và khu nghỉ dưỡng gần với thiên nhiên, các dịch vụ du lịch biển và các sản phẩm du lịch văn hóa. Ngoài sức hấp dẫn của bãi biển và sóng biển (lướt sóng), Bali còn nổi bật với đa sắc màu của văn hóa bản địa đa dạng. Những văn hóa này đã được tập hợp và phát triển như một sản phẩm du lịch.

Bali được định vị vào các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng biển kết hợp với các loại hình du lịch khác như sinh thái, văn hóa… Các dịch vụ và sản phẩm du lịch được phát triển có chiều sâu vào trong đất liền, tạo nên một hệ thống liên hoàn, kết nối nhiều loại hình du lịch. Các sản phẩm này mang đậm màu sắc văn hóa, được xây dựng và phát triển khéo léo, tạo nên một đặc trưng khác của Bali. Hòn đảo du lịch này không chỉ là một điểm du lịch biển thuần túy mà còn trở nên quyến rũ với nhiều giá trị du lịch văn hóa và sinh thái khác.

Tiềm năng du lịch biển Việt Nam

Nếu xét trên khía cạnh phong phú của tài nguyên, du lịch biển Việt Nam không thua kém gì các nước trong khu vực. Trải dài từ Bắc tới Nam, từ vùng ven biển tới hải đảo, Việt Nam có một dải các vùng tài nguyên biển phong phú. Hệ thống biển miền Bắc nổi lên với Hạ Long, điểm du lịch thắng cảnh biển. Tuy vậy, hệ thống bãi tắm ở vùng này không thỏa mãn nhu cầu phát triển du lịch nghỉ dưỡng biển nơi đây.

Hệ thống tài nguyên du lịch biển càng trở nên phong phú khi đi dọc vào Nam và đặc biệt tập trung nhiều ở vùng Nam Trung bộ. Các vùng biển duyên hải Bắc Trung bộ bắt đầu có những bãi biển có giá trị khai thác du lịch với quy mô lớn. Tuy vậy, điều kiện thời tiết có mùa đông ở đây cũng ít nhiều là một trở ngại cho phát triển du lịch biển, mặc dù biển Việt Nam là vùng biển ấm. Từ Trung Trung bộ trở vào trong, du lịch biển cho phép khai thác khách cả năm, với một dải bãi biển đẹp vào tới tận gần TP. Hồ Chí Minh. Du lịch biển Việt Nam còn có giá trị hơn với hệ thống đảo mang giá trị du lịch cao như khu vực Khánh Hòa (Nha Trang), Côn Đảo, Phú Quốc…

Việt Nam là nước khai thác du lịch muộn hơn so với các nước trong khu vực. Chính vì vậy, điều kiện phát triển Du lịch Việt Nam còn hạn chế so với các nước khác. Chỉ xét riêng du lịch biển, dù có những bước phát triển mạnh mẽ gần đây, điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du lịch cho du lịch biển còn nhiều hạn chế so với các nước trong khu vực. Nhưng bù lại, Việt Nam có những bãi biển còn khá nguyên sơ hoặc chưa khai thác nhiều, ít bị ô nhiễm. Tại một số khu vực, hệ thống tài nguyên du lịch biển gắn liền với các giá trị tài nguyên du lịch văn hóa và danh thắng trong đất liền, như hệ thống biển miền Trung. Đây là những lợi thế cho phát triển du lịch biển Việt Nam.

Mặc dù tài nguyên du lịch biển Việt Nam là rất lớn nhưng có thể nói, du lịch biển Việt Nam chưa tạo lập cho mình một chỗ đứng, một vị thế rõ ràng trong tâm trí khách du lịch quốc tế. Khi đem so sánh với các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, du lịch biển Việt Nam, với tư cách là một sản phẩm du lịch có sức cạnh trạnh rất hạn chế và có phần bị che lấp, không tạo được một hình ảnh riêng biệt. Mặc dù các nước này có hàng chục năm kinh nghiệm phát triển du lịch nhưng thế mạnh đó không phải là lợi thế cạnh tranh tuyệt đối. Vấn đề nằm ở chiến lược phát triển sản phẩm du lịch biển, mà một trong những yếu tố đầu tiên là định vị và xây dựng một hình ảnh của sản phẩm du lịch biển Việt Nam riêng biệt, độc đáo, hấp dẫn với du khách quốc tế.

Định vị du lịch biển Việt Nam

Du lịch biển Việt Nam gặp phải những thách thức cạnh tranh lớn, đặc biệt từ những nước trong khu vực Đông Nam Á, những nước đã có những sản phẩm du lịch biển nổi tiếng từ lâu. Một phương án định vị hiệu quả là bước đầu tiên cho phép Việt Nam tạo lợi thế cạnh tranh trong thị trường sản phẩm du lịch biển. Đứng trên góc độ lợi thế cạnh tranh, việc định vị sản phẩm du lịch biển của Việt Nam cần khai thác được những đặc trưng của du lịch biển Việt Nam nổi bật hơn so với những đối thủ cạnh tranh trong khu vực. Các đặc điểm này không chỉ nằm ở bãi biển, nước biển, bờ biển, mà còn ở cảnh quan, môi trường và văn hóa xung quanh. Bên cạnh đó, việc định vị cũng cần tham khảo hình ảnh sẵn có và kỳ vọng của khách du lịch với sản phẩm du lịch Việt Nam nói chung và du lịch biển nói riêng. Định hướng phát triển du lịch biển bền vững, lâu dài và đáp ứng những trào lưu trong nhu cầu khách du lịch như hướng tới thiên nhiên hoang sơ, tìm kiếm điểm du lịch mới lạ… cũng cần được xem xét.

Hình ảnh Du lịch Việt Nam đối với khách du lịch quốc tế

Một hình ảnh nổi trội của Việt Nam là văn hóa và con người (hình 1, 2). Không chỉ văn hóa hàng nghìn năm cùng với lịch sử hào hùng chống giặc ngoại xâm của Việt Nam, mà con người Việt Nam thân thiện với khuôn mặt rạng rỡ là đặc điểm lôi cuốn khách du lịch quốc tế.

Một điểm cần lưu ý là trên thực tế hình ảnh Du lịch Việt Nam nói chung và nhất là du lịch biển chưa được biết tới nhiều trong con mắt khách du lịch quốc tế. Trong khi những hồi ức và di tích chiến tranh tại Việt Nam vẫn được xem là một điểm hấp dẫn nổi trội (đứng thứ 4/5 yếu tố đầu tiên trong số 25 yếu tố được chọn) thì bãi biển Việt Nam lại không được biết tới nhiều. Đứng trên khía cạnh tuyên truyền, những hình ảnh du lịch biển Việt Nam chưa được xây dựng là một yếu thế. Tuy vậy, nếu xét theo nhu cầu của khách du lịch nghỉ dưỡng, muốn khám phá và trải nghiệm những điều mới lạ, du lịch biển Việt Nam lại có thể xem là một điểm hấp dẫn mới.

Đặc điểm nổi bật của sản phẩm du lịch biển Việt Nam

Xét trên góc độ tài nguyên và hiện trạng phát triển, du lịch biển Việt Nam có không ít những đặc điểm nổi bật hấp dẫn khách du lịch quốc tế. Trước hết, đó là tài nguyên du lịch biển chưa được khai thác nhiều, có nhiều nơi còn tương đối nguyên sơ và chưa bị ô nhiễm. Nhược điểm của vấn đề này là khả năng phục vụ du lịch hạn chế, trong khi du lịch nghỉ biển thường yêu cầu nhiều về dịch vụ. Nhưng ngược lại, vẻ đẹp nguyên sơ của biển Việt Nam rất thu hút đối tượng du khách nghỉ biển hướng tới nghỉ dưỡng môi trường tự nhiên thuần túy, thay cho việc sử dụng nhiều dịch vụ và tiện nghi nhân tạo. Hình ảnh du lịch biển Việt Nam nguyên sơ có thể là điểm nhấn trong một thời gian dài trước mắt.

Nằm trong một đất nước nhiệt đới (đặc biệt là khu vực phía Nam), biển Việt Nam tràn ngập ánh nắng quanh năm với những bãi cát dài. Biển Việt Nam cho phép khách du lịch có thể vui chơi, nghỉ dưỡng quanh năm. Hệ thống bãi biển cũng nằm gần với những trung tâm du lịch văn hóa của Việt Nam, cho phép du khách có thể mở rộng hành trình khám phá tới những điểm du lịch khác. Dựa trên những đặc điểm nổi bật này, chúng ta có thể định vị sản phẩm du lịch biển Việt Nam:

“Du lịch biển Việt Nam nguyên sơ, tràn ngập nắng, cát và con người thân thiện – những trải nghiệm và khám phá mới”

(Đề xuất trong bản Kế hoạch Marketing Du lịch Việt Nam 2008 – 2015 biên soạn theo một nghiên cứu của Cơ quan Hợp tác Tây Ban Nha và Tổng cục Du lịch, “nụ cười” (smiles) là điểm nhấn trong định vị và thương hiệu du lịch của Việt Nam. “Nụ cười” (smiles) có thể thay “con người thân thiện” (friendliness) trong đề xuất định vị ở đây).

Một số gợi ý, kiến nghị

TS. Phạm Trương Hoàng

Cẩm Nang Hướng Dẫn Du Lịch Việt Nam

Việt Nam là đất nước có bề dày lịch sử, đa dạng dân tộc, nhiều lễ hội, nhiều món ăn ngon, phong tục tập quán mỗi vùng miền cũng biến đổi độc đáo, phong phú. Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng. Du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế. Du lịch đang ngày càng nhận được sự quan tâm của toàn xã hội. Chất lượng du lịch Việt Nam đang dần tốt lên, đi vào chiều sâu thay vì chiều rộng theo đúng định hướng trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh”.

Sách Cẩm Nang Hướng Dẫn Du Lịch Việt Nam

Sách giới thiệu về du lịch của 63 tỉnh, thành phố trong cả nước theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Việt để thuận tiện cho việc tra cứu thông tin. Qua cuốn sách, độc giả có thể tra cứu thông tin về mỗi Tỉnh thành về diện tích, dân số, điều kiện tự nhiên, tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch, tra cứu những đường giao thông thuận tiện đi qua mỗi tỉnh, thành phố. Bên cạnh đó là những thông tin hữu ích về những đặc sản địa phương, các địa điểm tham quan, thời gian tổ chức các lễ hội, địa chỉ của các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi bật cũng như thông tin liên hệ các khách sạn, vướng mắc khi gặp sự cố (tìm kiếm cứu nạn,lực lượng cảnh sát phản ứng nhanh, cấp cứu y tế, gọi khẩn cấp công an từng địa phương), khu du lịch nghỉ dưỡng của từng Tỉnh, Thành phố.

Để giúp các đơn vị sở, phòng, ban, hành chính, sự nghiệp, các cơ quan quản lý giáo dục và đông đảo bạn đọc thuận tiện trong việc áp dụng tìm hiểu triển khai thực hiện Hướng dẫn du lịch Văn hóa. Ngoài ra cuốn sách còn in các văn bản pháp luật về du lịch còn hiệu lực, có thể vận dụng để bạn bạn đọc tham khảo và áp dụng trong công việc, là tài liệu thực sự cần thiết đối với lãnh đạo và cán bộ, công chức và người lao động của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể. Hy vọng cuốn sách này rất hữu ích cho các bạn có nhu cầu sử dụng.Sách được in với hình thức đẹp, bìa cứng, In và nộp lưu chiểu quý III/2017.

Định Vị Thương Hiệu Du Lịch Văn Hóa Việt Nam

Khai thác tối đa thế mạnh

Theo Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch Hà Văn Siêu, trên thế giới, du lịch văn hóa từ lâu là dòng sản phẩm du lịch cơ bản. Đặc biệt đối với các quốc gia, vùng lãnh thổ có chiều sâu văn hóa đo bằng hệ thống di sản đậm đặc như nước ta, thì du lịch di sản trở thành một trong những thế mạnh nổi trội. Hiện tại, nhiều địa phương đã khai thác tốt thế mạnh này, coi di sản là cốt lõi để phát triển các loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, du lịch tham quan, trải nghiệm…

Đến nay, cả nước đã có 28 di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và di sản thiên nhiên được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh là di sản thế giới. Trong đó có 8 di sản thiên nhiên và di sản văn hóa vật thể (Vịnh Hạ Long, Hoàng thành Thăng Long, quần thể danh thắng Tràng An, thành Nhà Hồ, Phong Nha – Kẻ Bàng, Cố đô Huế, phố cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn); 13 di sản văn hóa phi vật thể (nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, dân ca quan họ, lễ hội Gióng, ca trù, hát xoan, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam, dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh, nghi lễ kéo co, đờn ca tài tử Nam Bộ, bài chòi Trung Bộ, hát Then) và 7 di sản tư liệu (mộc bản Triều Nguyễn, châu bản Triều Nguyễn, mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, bia đá các khoa thi Tiến sĩ triều Lê, Mạc, hệ thống thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế, mộc bản trường học Phúc Giang, Hoàng hoa sứ trình đồ). Hà Nội là địa phương sở hữu nhiều danh hiệu được UNESCO trao tặng nhất cũng như sở hữu nhiều di tích nhất, với gần 6.000 di tích lịch sử, văn hóa…

Đánh giá tiềm năng, thế mạnh của các di sản trong phát triển du lịch Thủ đô, Phó Giám đốc phụ trách Sở Du lịch Hà Nội Trần Trung Hiếu, khẳng định, đây là nguồn lực to lớn để thành phố xây dựng các sản phẩm du lịch truyền thống cũng như sản phẩm du lịch mới, đáp ứng nhu cầu tham quan, trải nghiệm của cả khách nội địa và quốc tế. Thực tế, các di sản của Hà Nội hiện đang được khai thác tối đa, thậm chí đang được nhiều công ty lữ hành đẩy mạnh phát triển, tạo nên dòng sản phẩm du lịch nổi trội. Mới đây, Công ty Lữ hành Hanoitourist đã phối hợp với Ban Quản lý di tích Nhà tù Hỏa Lò và Hoàng thành Thăng Long xây dựng tour khám phá về đêm. Một số địa phương cũng tập trung phát huy giá trị di sản, di tích để trở thành điểm nhấn du lịch, như: Lễ hội Tản Viên Sơn Thánh (huyện Ba Vì), lễ hội Gióng (huyện Sóc Sơn và huyện Gia Lâm)…

Hướng tới xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia

Mặc dù là nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch, nhưng việc khai thác các di sản vẫn tồn tại nhiều vấn đề. Theo Tiến sĩ Lê Thị Minh Lý, Phó Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam, du lịch đại trà đã và đang có những tác động tiêu cực tới di sản. Nhiều nơi xảy ra hiện tượng khai thác thương mại hóa quá mức, xâm hại di sản, phục dựng sai quy cách…

Theo Giám đốc Công ty Lữ hành Hanoitourist Phùng Quang Thắng, không phải di sản nào cũng được các địa phương khai thác tốt phục vụ cho du lịch. Phần lớn các địa phương mới tập trung phát huy thế mạnh của di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể, còn văn hóa phi vật thể vẫn chưa khai thác tương xứng tiềm năng. Hiện, chỉ có một số địa phương làm tốt việc khai thác thế mạnh di sản văn hóa phi vật thể trong phát triển du lịch, là: Tỉnh Thừa Thiên – Huế phát huy di sản nhã nhạc cung đình, tỉnh Bắc Ninh với di sản quan họ… “Nhiều địa phương vẫn loay hoay trong việc bảo tồn, phát huy di sản, thiếu kế hoạch cụ thể trong việc đưa di sản vào cuộc sống”, ông Phùng Quang Thắng cho biết.

Còn theo Phó Giám đốc phụ trách Sở Du lịch Hà Nội Trần Trung Hiếu, thành phố sẽ đẩy mạnh việc quản lý di sản bằng áp dụng công nghệ, số hóa các dữ liệu, đồng thời khuyến khích các địa phương, đơn vị xây dựng sản phẩm du lịch mới dựa trên giá trị di sản vốn có; tổ chức nhiều hoạt động, sự kiện, tăng tính trải nghiệm để thu hút, hấp dẫn du khách hơn.