Top 15 # Xem Nhiều Nhất Du Lịch Cao Bằng Tháng 12 / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Tuvanduhocsing.com

Du Lịch Cao Bằng Tháng 12 Nên Ở Khách Sạn Nào? / 2023

Tháng 12 đông đến, tiết trời se lạnh càng làm cho Cao Bằng thêm thi vị, nên thơ. Tọa lạc ở vị trí địa đầu Tổ Quốc, mảnh đất này được thiên nhiên ưu ái ban tặng vẻ đẹp ngoạn mục với núi non hùng vĩ. Du lịch Cao Bằng, bạn còn được khám phá các địa danh lịch sử giá trị như suối Lê Nin, hang Pắc – Pó…

Những khách sạn mùa đông được yêu thích ở Cao Bằng

Địa chỉ: Số 01 Phố Hồng Việt, Tổ 31, P.Hợp Giang, chúng tôi Bằng

Khách sạn Sơn Tùng nằm ngay trung tâm thành phố Cao Bằng, gần các điểm tham quan nổi tiếng như: rừng Trần Hưng Đạo, khu di tích lịch sử Pác Bó, hồ Thang Hen, Cổng Trời và Thác Bản Giốc…

Phòng ngủ trẻ trung, sang trọng – Ảnh: Internet

Sơn Tùng Hotel được thiết kế theo phong cách hiện đại kết hợp truyền thống, mỗi phòng trang bị đầy đủ tiện nghi hiện đại giúp bạn thư giãn, tận hưởng trọn vẹn 24 giờ.

Những rừng hoa dã quỳ và tam giác mạch tháng 12 nở rộ khắp núi rừng. Còn gì tuyệt vời hơn khi được dạo chơi khắp cánh đồng hoa tuyệt đẹp, ngắm thác tung bọt trắng xóa, dòng sông duyên dáng uốn lượn và thưởng thức những món ăn ngon…

Địa chỉ: Số 155 Kim Đồng, P.Hợp Giang, chúng tôi Bằng

Du lịch trong nước đi Cao Bằng, quý khách đừng quên chọn khách Sạn Kim Đồng làm điểm dừng chân. Nằm ở vị trí đắc địa, cách không xa các điểm tham quan là mấy, khách sạn này hiện đang “làm mưa làm gió” tại P.Hợp Giang.

Phòng ngủ thoáng đãng, view hướng ra ngoài lãng mạn – Ảnh: Internet

Với hệ thống thiết bị tân tiến, tiện nghi hiện đại, Kim Đồng hotel luôn đáp ứng mọi nhu cầu của du khách từ ăn uống, nghỉ dưỡng đến giải trí và thư giãn…

Được đánh giá cao về chất lượng, khách sạn Kim Đồng còn cung cấp dịch vụ giặt là, thu đổi ngoại tệ và thường xuyên có chương trình ưu đãi cho khách thuê dài hạn.

Địa chỉ: Số 131 Kim Đồng, P.Hợp Giang, Tp. Cao Bằng

Phòng ngủ khách sạn 3 sao đẹp lung linh – Ảnh: Sưu tầm

Nằm trên đường Kim Đồng, Hoàng Anh Hotel xây dựng theo kiến trúc thanh lịch, hiện đại. Khách sạn Cao Bằng giá tốt này có tất cả 30 phòng tiêu chuẩn cao, phòng trang bị đầy đủ tiện nghi chất lượng. Không chỉ đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, khách sạn còn cung cấp các dịch vụ du lịch giá rẻ, gợi ý điểm tham quan vô cùng hữu ích.

Khách sạn Á Đông Cao Bằng

Địa chỉ: Tổ 6, Phường Ngọc Xuân, Thành phố Cao Bằng

Khách sạn Á Đông là nơi lưu trú hoàn hảo mà Dideden muốn giới thiệu đến bạn. Nằm ở vị trí thuận lợi, gần các điểm tham quan như động Ngườm Ngao, thác Bản Giốc và hang Pác Pó… giúp bạn dễ dàng đi lại ngắm cảnh.

Không gian ấm cúng, thích hợp để trốn ở tiết trời se lạnh – Ảnh: Internet

Đặc biệt, với tiêu chí “khách hàng là thượng đế”, khách sạn trang bị đầy đủ tiện nghi, hiện đại. Đặt phòng trực tuyến khách sạn Á Đông, quý khách sẽ có ngay cơ hội thư giãn, tận hưởng với nhiều dịch vụ giải trí như hát Karaoke, massage… Chưa hết, dịch vụ bán vé máy bay, thu đổi ngoại tệ, đặt tour du lịch và đưa đón tại nhà ga… đều có trong danh sách phục vụ của khách sạn này.

Du Lịch Cao Bằng Tháng 4 Có Gì Đẹp / 2023

Du Lịch Cao Bằng Tháng 4 Có Gì Đẹp

Nếu bạn là người ưa khám phá thì nhất định không thể bỏ qua “Viên ngọc xanh” vùng Đông Bắc Việt Nam. Đó là Cao Bằng. Nói đến tỉnh Cao Bằng chắc hẳn ai cũng nghĩ đến với thác Bản Giốc . Nhưng không chỉ với Bản Giốc mà tỉnh Cao Bằng cũng nổi tiếng với bề dày lịch sử. Vì đây là địa điểm đầu tiên Bác Hồ đặt chân khi trở về Việt Nam vào tháng 12 năm 1941 thông qua Trung Quốc. Nằm ngay trên đường biên giới với Trung Quốc nên nơi này là vùng tranh chấp giữa hai nước. Nó cũng đóng một vai trò quan trọng trong phong trào, làm cơ sở cho những người cách mạng Bắc Việt và có biệt danh là Cái nôi của Phong trào Cách mạng.

Du lịch Cao Bằng tháng 2 – xứ sở tuyệt đẹp vùng Đông Bắc

Do nằm ở phía bắc, mảnh đất này mát hơn so với các khu vực còn lại của Việt Nam với nhiệt độ trung bình từ 25-28 độ vào mùa hè và 16-17 độ vào mùa đông. Một số đỉnh núi đôi khi nhìn thấy tuyết vào khoảng thời gian đặc biệt lạnh. Khí hậu nơi đây so với những địa danh khác thì mát mẻ hơn, những khu rừng trù phú và không khí trong lành khiến Cao Bằng trở thành một nơi trốn thoát thiên nhiên khiến du khách cảm thấy sảng khoái và tràn đầy cảm kích trước vẻ đẹp của thiên nhiên.

Từ tháng 4, mọi thứ nhanh chóng bắt đầu nóng lên ở nơi này và nhiệt độ đạt mức cao từ 20 đến giữa 30 trong ngày. Đây là một trong những tháng lí tưởng để du khách đến với Cao Bằng bởi tiết trời đã ấm lên, khí hậu ôn hòa, khô ráo. Du khách như bị lạc vào chốn tiên cảnh khi đặt chân đến thác Bản Giốc hùng vĩ và nên thơ, được trải bước chân trần xuống dòng nước mát của suối Lê nin, khám phá di tích lịch sử nổi tiếng Pác Pó hay khu di tích lịch sử Kim Đồng, Pháo Đài, Nà Sác,…

Được mệnh danh là thác nước lớn thứ 4 Thế giới trong số những thác nước đẹp nằm ở biên giới giữa các quốc gia, đây cũng là một trong những thác nước đẹp nhất Việt Nam và là điểm du lịch nổi tiếng nhất của vùng này . Một địa điểm bạn không thể bỏ qua khi tới đây.

Chỉ cách thác Bản Giốc 3km , kinh nghiệm hành trình của chúng tôi sẽ bật mí là bạn nên một lần trải nghiệm động Ngườm Ngao. Đặc biệt, với những ai thích tưởng tượng, thì hoạt hình sẽ là điểm đến hấp dẫn. Bởi động được hình thành từ những khối thạch nhũ lâu đời với nhiều hình thù đặc biệt, khác lạ tạo nên một tổng thể độc đáo mà chỉ động Ngườm Ngao mới có.

Suối Lê-Nin, hang Pác Bó là di tích lịch sử nổi tiếng, nơi Bác Hồ chọn làm nơi làm việc và trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau hơn 30 năm bôn ba ở nước ngoài. Suối Lê-Nin và hang Pác Bó là hai địa danh rất đỗi quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam từ thuở cắp sách đến trường.

Nơi đây còn là một thắng cảnh tuyệt đẹp với núi non trùng điệp, suối mát, sơn thủy hữu tình. Nằm giữa rừng già, khu di tích có bầu không khí mát mẻ, lộng gió…

Thang Hen là hồ nước ngọt lớn nhất trong số 36 hồ nước ngọt của huyện Trà Lĩnh. Mặc dù chúng được ngăn cách trong nhiều hồ nhỏ. Nhưng nó được kết nối bởi các hang động ngầm. Thời điểm đẹp nhất để ngắm cảnh ở hồ Thang Hen là bình minh và hoàng hôn. Khi mặt trời vừa khuất sau dãy núi là thời điểm lý tưởng nhất để bạn được đắm chìm trong tiên cảnh nơi đây.

Nép mình dưới chân núi Phà Hùng (Núi To) của xã vùng 3 Quốc Dân, huyện Quảng Uyên, Cao Bằng, Phia Thắp được biết đến với nghề làm hương truyền thống từ bao đời nay. Với thành phần nguyên liệu hoàn toàn từ tự nhiên, những que hươngPhia Thắp tạo nên mùi cay cay, nồng nồng do thành phần từ lá của cây trầm. Nhiều khách du lịch đến với làng Phia Thắp đều được người dân bản địa cho trải nghiệm việc làm hương. Trải nghiệm làm hương là một trong những chương trình hấp dẫn du khách tới đây.

Nhắc đến đặc sản Cao Bằng. Phải kể đến bánh trứng kiến. Cứ đến tháng 4, tháng 5 hàng năm, đồng bào Tày ở tỉnh nơi này lại cùng nhau vào rừng tìm trứng kiến ​​đen về làm bánh. Bánh trứng kiến ​​(tiếng Tày gọi là bánh tẻ) được làm từ gạo nếp, trứng kiến ​​và lá non của cây vả. Trứng kiến ​​đen rừng nơi đây rất mỏng, béo và nhiều đạm.

Nó còn có tên là rau Bố Khai, tiếng Tày – Nùng gọi là Phắc Điền, thường mọc hoang ở các vùng núi đá. Đây là loại cây rất giòn, dễ gãy. Chùm ngây trở thành một loại rau đặc sản của mảnh đất này. Vào mùa xuân và mùa hè, ở các khu vực thị trấn cũng như các nơi khác. Hầu như không có bữa tiệc nào mà không có món rau xào thịt bò, thịt lợn…

Nếu Thái Bình nổi tiếng với bánh Cáy thì Thanh Hóa nổi tiếng với bánh chè lam. Nhưng bánh Khảo là đặc sản của Cao Bằng. Với nguyên liệu làm bánh từ bột nếp kết hợp với thịt mỡ, lạc hoặc vừng làm nhân, bánh có mùi thơm ngon, bánh được biết đến như một món ăn dân dã nhưng chứa đựng một sức mạnh.

Bạn chỉ có thể tìm thấy một quả trám ngon ở các vùng núi phía Bắc nước ta. Vì vậy, khi đến với mảnh đất này, món ăn cần phải thử là các món chế biến từ trám, trong đó ngon nhất là xôi trám. Khi tiết trời sang thu, bà con các dân tộc Tày, Nùng vùng Đông Bắc lại vào rừng hái trám.

Thịt lợn đen chua là món ngon đặc sản vùng này nhất định phải có trong mâm cỗ của người Tày. Thịt lợn đen muối chua là một món ăn truyền thống độc đáo của người dân tộc Tày ở đây. Thịt chua thường được dùng như một món ăn trong mâm cỗ của người Tày trong những ngày rằm, ngày Tết trong năm.

Làm thịt chua không khó nhưng đòi hỏi phải có nhiều thời gian. Để có được món thịt chua hấp dẫn, người dân dùng thịt ba chỉ có cả nạc lẫn mỡ từ loại lợn đen để chế biến, giống lợn này thịt chắc, thơm ngon.

Bánh cuốn là món ngon đặc sản mảnh đất này có lớp vỏ bánh dẻo dai ăn cùng với nước xương ninh béo ngậy gây thương nhớ. Bánh cuốn Cao Bằng có màu trắng đục chứ không trắng tinh như những nơi khác. Đó là bởi vì loại bột làm bánh được làm từ loại gạo đặc trưng nơi đây, gạo Đoàn Kết. Hạt gạo dài, màu trắng ngà. Chỉ có đất nơi này mới có thể làm ra loại gạo như thế này. Điều đặc biệt hơn nữa là sau khi gặt người ta không dùng máy để xay xát mà là tự tay giã cho hạt vỡ ra. Chính vì vậy hạt gạo vẫn giữ được vị ngọt thanh nhẹ nhàng. Đó là lý do khiến bánh cuốn nơi đây có vị rất khác với bánh cuốn tại những nơi khác.

Bánh Coóng phù là món ngon đặc sản vùng này còn được biết đến với tên gọi quen thuộc là bánh trôi. Đây là món ăn vặt ở vùng này cực thích hợp cho những ngày đông lạnh.

Nguyên liệu làm bánh khá đơn giản và dễ chuẩn bị bao gồm gạo nếp, đường, lạc, vừng, gừng. Lạc để làm nhân bánh, gạo nếp xay nhuyễn làm vỏ bánh. Vừng phủ lớp ngoài và gừng, đường để nấu nước cốt chan lên. Điều làm nên đặc trưng của bánh trôi mảnh đất này đó là bột bánh rất dẻo, mềm và có vị ngọt đặc trưng. Nước đường thơm ngon đạt đến sự hòa quyện của vị ngọt của đường và vị cay của gừng.

PV&BT: Trần Thị Thùy Linh

Xe Hải Phòng Cao Bằng Và Cao Bằng Hải Phòng / 2023

Saomaifly xin giới thiệu cho các bạn nhà xe Thịnh Hưng sẽ giúp cho các bạn dễ dàng hơn trong việc di chuyển từ Hải Phòng sang Cao Bằng. cam kết tuyệt đối an toàn, uy tín, chất lượng, phục vụ nhiệt tình và dịch vụ cực kỳ tốt. Di chuyển bằng phương tiện xe khách sẽ giúp các bạn tiết kiệm chi phí và thoải mái hơn trong chuyến du lịch.

Dịch vụ xe khách giường nằm cao cấp, uy tín, an toàn

Hành trình: Hải Phòng – Thái Nguyên – Cao Bằng

Chiều dài tuyến đường: 247 km

Thời gian xuất phát: 7h40

Thời gian di chuyển: 3 giờ

Giá vé trung bình: 250.000 VNĐ

Số lượng chuyến xe: 1 chuyến

Số lượng nhà xe: 1 nhà xe

Nhà xe tuyến Hải Phòng – Thái Nguyên – Cao Bằng khởi hành vào lúc 7h40. Đặt vé 1900599997

Tại sao lại đặt xe khách Hải Phòng Cao Bằng tại Saomaifly ?

Tất cả đều là xe đời mới Tất cả những xe đưa rước tạiSaomai đều là xe đời mới để cho du khách có những trải nghiệm tốt nhất trong suốt quá trình di chuyển. Những loại xe đời cũ thường hay gặp các vấn đề như: máy không êm, xe hay bị xóc, điều hòa không tốt, không gian chật hẹp, xe hao tốn nhiên liệu,…

Giá cả hợp lý Giá cả luôn là những ưu tiên hàng đầu của du khách nên Saomaifly cung cấp những nhà xe uy tín và chất lượng nhất được kí kết hợp đồng rõ ràng giữa 2 bên.

Hãy liên hệ ngay tới hotline 1900599997 của Saomaifly để nhận được những chuyến xe sớm nhất và nhiều ưu đãi hấp dẫn.

Dành cho những bạn chưa biết thì Cao Bằng nằm ở phía bắc vùng Việt Bắc, nơi địa đầu Tổ quốc, Cao Bằng được thiên nhiên ưu đãi những tiềm năng du lịch phong phú. Ở Cao Bằng, mỗi mùa lại có một vẻ đẹp riêng. Nếu chưa từng đến đây, thì dù bạn đi du lịch mùa nào Cao Bằng cũng mang đến cho bạn những cảm nhận mới mẻ và vô cùng đặc biệt.

Tuy vậy, theo kinh nghiệm du lịch Cao Bằng của Sao Mai, Cao Bằng thu hút du khách nhất vào hai thời điểm trong năm. Với những người muốn ngắm thác Bản Giốc đổ dài con nước và trong xanh tuyệt đẹp sẽ chọn thời điểm tháng 8-9 hàng năm. Tháng 11-12 là khi Cao Bằng cũng ngợp trời hoa tam giác mạch và dã quỳ vàng rực các cung đường.

Du Lịch Bụi Cao Bằng / 2023

Tỉnh Cao Bằng nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang, phía nam giáp tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Lạng Sơn. Phía bắc và phía đông giáp các địa cấp thị Bách Sắc và Sùng Tả của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc).

Mã vùng điện thoại: 026

Biển số xe: 11

Tổ chức hành chính: Tỉnh Cao Bằng bao gồm 1 thành phố (Thành phố Cao Bằng) và 12 huyện (Huyện Bảo Lạc, Huyện Bảo Lâm, Huyện Hạ Lang, Huyện Hà Quảng, Huyện Hòa An, Huyện Nguyên Bình, Huyện Phục Hòa, Huyện Quảng Uyên, Huyện Thạch An, Huyện Thông Nông, Huyện Trà Lĩnh, Huyện Trùng Khánh).

Khí hậu Cao Bằng có khí hậu cận nhiệt đới ẩm với địa hình đón gió nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các đợt không khí lạnh từ phương bắc. Mùa hè ở đây có đặc điểm nóng ẩm, nhiệt độ cao trung bình từ 30 – 35 °C và thấp trung bình từ 23 – 25 °C, nhiệt độ không lên đến 39 – 40 °C. Vào mùa đông, do địa hình Cao Bằng đón gió nên nó có kiểu khí hậu gần giống với ôn đới, nhiệt độ trung bình thấp từ 5 – 8 °C và trung bình cao từ 18 – 22 °C, đỉnh điểm vào những tháng 12, 1 và 2 nhiệt độ có thể xuống thấp hơn khoảng từ 2 – 3 °C, độ ẩm thấp, trời hanh khô. Mùa xuân và mùa thu không rõ rệt, thời tiết thất thường; mùa xuân thường có tiết trời nồm, mùa thu mát, dễ chịu.

Diện tích: 6.707,9 km²

Dân số: Dân số của tỉnh Cao Bằng năm 2011 là 515.000 người. Mật độ dân số: 77 người/km².

Thành phần dân tộc: Các dân tộc ở Cao Bằng gồm Tày, Nùng, H’Mông, Dao, Việt, Sán Chay,… Có 11 dân tộc có dân số trên 50 người.

Lịch sử: Thời tiền sử Phía Nam sông Dương Tử và vùng gọi là Lĩnh Nam, theo sử liệu Trung Hoa là nơi cư ngụ của các giống dân gọi chung là Bách Việt. Ngày nay chúng ta đã biết rõ là giống dân bách Việt đã đóng góp lớn trong sự thành lập của nền văn minh Trung Hoa bắt đầu từ đời Thương. Nguồn gốc của dân Bách Việt và văn minh của họ ra sao từ thời kỳ đá mới (7,000 đến 1200BC) tới thời đại đồ đồng, nhất là ở khu vực từ Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông hiện nay đến đồng bằng Bắc Việt Nam? Ta hãy tóm tắt sơ lược những gì đã được biết hiện nay. Meacham cho ta thấy là biển Nam Hải tiến lên nhanh vào khoảng 4000 BC, làm ngập lụt các vùng bờ biển có khi đến cả tám dặm sâu vào đất liền và sự kiện này đã làm ta mất đi các dấu vết khảo cổ của văn hoá thời kỳ trung đại đá mới, văn hoá này có tính cách gần môi trường biển (tuy vậy ta vẫn tìm thấy được một số di chỉ của văn hoá này ở Việt Nam, văn hoá Quỳnh Văn). Vì thế ở các vùng núi sâu trong lục điạ, ta sẽ dễ tìm thấy di tích của thời sơ khai đá mới hơn. Hai địa điểm khảo cổ thời sơ khai đá mới biết nhiều đến ở Quảng Tây là Bái Lương động (Bailian Dong) gần Lưu Châu và Zhenpi Yan gần Quế Lâm (Guilin). Động Bái Lương được các người tiền sử cuối thời đá cũ đến đầu thời đá mới cư trú. Các đồ đá được xác định bằng Carbon 14 là vào khoảng từ 30000 đến 7500BC. Địa điểm Zhenpi Yan được xác định vào khoảng 10000BC. Có hơn 400 mộ được coi là của tổ tiên người Nùng – Zhuang được phát hiện ở vùng này. Trong mộ các xác người được chôn ở vị trí nằm co, một kiểu chôn rất hiếm ở Trung Hoa nhưng rất nhiều và phổ thông ở Việt Nam. Như các mộ trong các hang Đắng, Mộc Long tìm thấy ở rừng Cúc Phương, thuộc văn hoá Hoà Bình, người chết chôn nằm co, bôi thổ hoàng đỏ và có các công cụ đá. Điều này chứng tỏ là cư dân ở vùng này có nguồn gốc phương Nam và rất gần với văn hoá Hoà Bình (9000 đến 5600BC) và Bắc Sơn (8300 đến 5900) ở Việt Nam. Từ văn hoá Hoà Bình, văn hoá Bắc Sơn đã tiến tới đồ đá mài với đặc điểm rìu mài gọi là rìu Bắc Sơn, các đồ gốm, trang sức vỏ sò được tìm thấy nhiều ở các hang, di chỉ vùng Lạng Sơn, như hang Làng Cườm, Bó Lúm, Bó Nam… Ở Quảng Tây, cũng tìm thấy được di chỉ của văn hoá Bắc Sơn vùng Nam Ninh, dọc các sông Ung, Zua, You với các vỏ trang sức, đồ gốm, đất màu hoàng thổ, đồ đá với loại rìu văn hoá Bắc Sơn. So sánh với các di chỉ như Hemudu ở vịnh Hàng Châu, tỉnh Triết Giang và các di chỉ bắc Quảng Đông, thì các di chỉ vùng biển xa phía nam sông Dương Tử, vùng đông nam (Phúc Kiến, Quảng Đông) và tây nam (Quảng Tây, Vân Nam) có liên hệ gần gũi với các di chỉ ở Việt Nam. Qua thời kỳ đá mới, vào khoảng thời nhà Thương , một di chỉ phía nam sông Dương Tử đáng chú ý là Wucheng ở Giang Tây (Jiangxi), quận Thanh Giang nơi sau này là lãnh thổ của nước Việt miền Triết Giang, cạnh nước Chu. Di chỉ này gần sông Tống (Song), dễ dàng thông thương với các lãnh thổ Việt ở vùng Lĩnh Nam (Quảng Tây và Quảng Đông). Tại đây, tìm thấy nhiều chữ viết được tìm thấy trên các mảnh gốm, đồ đồng, rất khác với chữ viết ở phía bắc, cho thấy một ngôn ngữ và văn hoá hoàn toàn khác và độc lập với văn hoá trung tâm phía bắc. Đây là chữ viết cổ nhất của ngôn ngữ Việt cổ. Tư liệu sử của thời Chiến quốc cho thấy từ ngữ, văn phạm khác với tiếng Hán xưa. Có vài tác giả cho rằng tiếng nói xưa của người Việt là thuộc Thái ngữ, gần với tiếng nói của cư dân miền Lĩnh Nam, mà hậu duệ hiện nay là người Nùng – Zhuang ở biên giới Việt-Trung ngày nay, và người Việt ở đồng bằng sông Hồng. Cả hai thuộc vào họ Bách Việt mà ta có thể xếp vào nhóm Lạc Việt (Luo Yue) ở đông nam Quảng Tây và bắc Việt Nam và Tây Âu (Xi Ou) ở miền Quế Giang và Tây Giang của Quảng Tây. Và chính tại các vùng này từ Lĩnh Nam, Vân Nam và bắc Việt Nam mà ta tìm thấy trống đồng nhiều nhất, một văn hoá trống đồng rực rỡ mà ta gọi là văn hoá Đông Sơn toả ra từ Bắc Việt Nam. Các hình vẽ người, thú, thuyền, trống… nổi tiếng trên vách đá ở biên giới Việt – Trung, dọc sông Zuo, Quảng Tây mang đậm nét hình trên trống đồng Đông Sơn của người Lạc Việt. Cũng như các vật tổ của người Nùng – Zhuang như cóc, ếch đều có thể hiện trên trống đồng.

An Dương Vương và Tây Âu của Tày – Nùng Hiện nay, chúng ta đã rõ về An Dương Vương Thục Phán từ Tây Âu chinh phục nước Văn Lang của người Lạc Việt đời các vua Hùng. Tây Âu là một nhánh của Lạc Việt ở miền núi trung du, hay gọi là Âu Việt. Người Âu Việt đây chính là người Tày cổ. Theo truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” (chín chúa tranh vua) của đồng bào Tày ở Cao Bằng thì Thục Phán là con của Thục Chế thủ lãnh vùng Nam Cương ở Cao Bằng, Quảng Tây gồm 9 xứ Mường. Vào cuối đời Hùng Vương, Thục Phán hãy còn ít tuổi lên thay vua cha vừa mất. Các chúa Mường kéo quân về đòi chia và nhường vua. Tuy ít tuổi, nhưng thông minh, Thục Phán đã bày ra các cuộc thi, đua sức đua tài và hẹn ai thắng sẽ nhường vua cho. Ông dùng mưu kế làm cho họ mất nhiều công sức mà không ai thắng cuộc. Cuối cùng các chúa phải qui phục Thục Phán. Khi Nam Cương cường thịnh lúc Văn Lang suy yếu, Thục Phán đã đánh chiếm và tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa, gần Hà Nội. Đây là một truyền thuyết dân gian ở Cao bằng, được Lê Sơn viết thành trường ca hơn ngàn câu viết bằng tiếng Tày. Lã Văn Lô dịch ra bằng tiếng Việt năm 1963 và đăng trong Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử. Theo Phan Huy Lê, vào khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, một số tác giả người Pháp khi viết về lịch sử người Tày, có nhắc đến truyền thuyết này, nhưng không công bố tư liệu.

Về sự việc cắt đất cho nhà Minh của họ Mạc Trong một số sách sử, sự kiện nhà Mạc qua Mạc Đăng Dung dâng đất cho nhà Minh là một trong vài lý do mà qua các triều đại sau này (ngay cả cho đến cách đây không lâu) đã lên án gay gắt. Nhưng sự thật thì không đúng vậy và lý do chính là sự thù hận và thiên vị của các người chiến thắng viết sử về sau đối với một triều đại mà họ gọi là “Nguỵ triều” trong lịch sử Việt Nam. Sự bảo lưu của tư tưởng này kéo dài từ Lê – Trịnh đến nhà Nguyễn, qua các sách sử từ “Đại Việt thông sử” của Lê Quí Đôn, “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên cho đến sử quán nhà Nguyễn đối xử với “nghịch thần” và “nguỵ quyền”. Với những lăng kính như vậy, các sự kiện đều bị thiên vị và mang tính chất cảm năng hơn là sự kiện trung thật theo lý trí. Ngày nay qua các nghiên cứu và không còn vướng với gánh nặng ý thức hệ của lịch sử, chúng ta được biết vấn đề hoàn toàn khác với kết luận của sử cũ. Đặc biệt là vấn đề “dâng đất”, chỉ có hai quyển sử viết và kết tội về việc này : Đại Việt Sử ký Toàn thư và Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim. Ngay cả các sách của Lê Quý Đôn và của sử quán nhà Nguyễn thiên vị chống “nguỵ triều” cũng không viết đến các đất dâng (Lê Quý Đôn) hay dè dặt và nghi ngờ là sự dâng đất là không đúng sự thật (Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương). Các sách của sử quán nhà Nguyễn thường dẫn lại các thư tịch Trung quốc và vì thế hoài nghi sự dâng cắt đất trong Toàn thư. Theo “Đại Việt Sử ký Toàn thư” (Toàn thư) thì “Năm Mậu Tý (1528) : Đăng Dung sợ nhà Minh đem quân hỏi tội, bèn lập mưu cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận và hai hình người bằng vàng và bạc, cùng là châu báu, của lạ, vật lạ. Vua Minh thu nhận. Từ ấy Nam Bắc lại sai thống sứ đi lại”. Giáo sư Đào Duy Anh, khi hiệu đính bản dịch Toàn thư đã chú thích việc này là “Hai châu Quy, Thuận thì nhà Tống đã chiếm từ đời nhà Lý nước ta rồi”. Vả lại “Minh sử” không hề chép chuyện này. Hai châu Quy Hoá và Thuận An, do hai thủ lãnh Nùng Chí Hội, Nùng Tôn Đản đời Lý quy phục nhà Tống và nộp cho họ, về sau trở thành hai châu Quy Thuận (Quy Dịn theo tiếng Tày-Nùng-Zhuang) thuộc tỉnh Quảng Tây. Toàn thư lại viết : “Năm Canh Tý (1540), mùa đông tháng 11, Mạc Đăng Dung … đến bò rạp ở mạc phủ nước Minh, rập đầu quỳ hàng, dâng tờ biểu xin hàng, biên hết đất đai, quân dân, quan chức trong nước để xin xử phân, nộp các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của Châu Vĩnh An trấn Yên Quảng cho xin nội thuộc, lệ vào Khâm Châu” (Nguyễn Đức Hiệp chú thích : từ động, tiếng Tày-Nùng-Zhuang có nghĩa là ấp, làng. Tiếng Việt cổ cũng có nghĩa tương tự như vậy). Việc “xin hàng” này “Minh sử” quyển 32 có chép, nhưng không hề chép việc cắt đất mà chỉ viết vào năm Gia Tĩnh 20(1541), Mao Bá Ôn về triều tâu là Mạc Đăng Dung “đã trả lại đất 4 động đã xâm chiếm, xin nội phụ xưng thần”. Theo như vậy thì nhà Mạc chỉ trả lại đất xâm lấn, chứ không cắt đất cho nhà Minh. Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn đã không nói gì đến việc nhà Mạc dâng các động cho nhà Minh. Việc này ông có giải thích tai sao trong Kiến Văn tiểu lục: “Đọc Thù vực chu tư lục của Nghiêm Tòng Giản đời Minh biết được đầu cuối việc nhà Mạc hàng nhà Minh”. Lê Quý Đôn là người học rộng tham khảo và đọc rất nhiều sách Trung quốc. Theo thư tịch Trung quốc như Khâm Châu chí và An Nam chí, ta xác định là đây là những đất (động) “của” nhà Minh trước đó do các trưởng động người Nùng không chịu thần phục nhà Minh, đã đến xin nhập vào đất Việt Nam thời nhà Lê và họ Mạc, sau đó trả lại. Khâm Châu chí chép : “Bảy động Chiêm Lãng, Thì La, Tư Lặc, Liễu Cát, Cổ Sâm, Tư Lẫm, La Phù nguyên là đất ba quận Thì La, Chiêm Lãng, Như Tích đời Tuyên Đức nhà Minh, bọn Hoàng Kim Quảng, trưởng động Tư Lẫm làm phản, chiếm cứ Tư Lẫm, La Phù, Liễu Cát, Cổ Sâm nhân đấy uy hiếp cả động Tư Lặc cùng tuần ty kênh Phật đào gồm chín thôn, dăng dài hơn hai trăm dặm để phụ về nước An Nam. Họ Lê phong cho các chức Kinh lược sứ, Kinh lược đồng tri và Thiêm sự mà vẫn nối đời giữ đất và thuộc vào châu Vạn Ninh…” Đại Nam nhất thống chí dưới triều Nguyễn cũng thừa nhận sự kiện trên và viết thêm : “nhà Mạc xin nộp các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát.. thuộc châu Tĩnh Yên, trấn Yên Quảng, nguyên thuộc về Khâm Châu”. Lịch triều hiến chương, phần Bang giao chí đã trích lời trong tờ biểu nhà Mạc dâng vua Minh năm 1540 : “còn như việc quan thú Khâm Châu thuộc Quảng Đông tâu rằng bốn động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát thuộc hai đô Như Tích và Thiếp Lãng là đất cũ của Khâm Châu, Quảng Đông, nếu quả thực như lời ấy thì đó lại là cái lỗi mạo nhận của họ Lê trước, nay thần xin trao trả lại để thuộc về Khâm Châu”. Xưa kia Nhà Tây Sơn cũng bị quốc sử quán nhà Nguyễn xuyên tạc khá nặng, vì đối với họ Tây Sơn là một “ngụy triều” cũng như nhà Mạc trước kia. Tuy vậy giờ đây đa số người Việt hiện nay cho là nhà Tây Sơn là một triều đại chính thống và anh hùng trong lịch sử Việt Nam, không phải là một “nguỵ triều” nữa. Đó cũng là một phần do ảnh hưởng của cụ Trần Trọng Kim viết “Việt nam sử lược” đã giải cho Nhà Nguyễn Tây Sơn khỏi phải lăng kính cực thiên vị của các sách sử chính thống của nhà Nguyễn theo nguyên tác. Tuy vậy, cụ Trần Trọng Kim đã không làm một việc làm tương tự, nghiên cứu kỹ hơn, đối với một “nguỵ triều” xa hơn nữa trong lịch sử Việt nam : Nhà Mạc. Ông Lê văn Hoè trong bài nghiên cứu đăng ở báo Thời Mới năm 1951 đã tranh luận về đánh giá nhà Mạc sau khi Việt Nam Sử lược được xuất bản và cho thấy Trần Trọng Kim đã sai và chưa công tâm khi đã nặng lời biếm nhục Mạc Đăng Dung một cách khắt khe gay gắt. Hiện nay đã có một số lượng khá lớn nghiên cứu và viết lại đúng hơn về nhà Mạc kể cả các thành tựu về tư tưởng, văn hoá, văn học xứng đáng là một triều đại chính thống và anh minh.

Khởi nghĩa Nông Văn Vân và tư tưởng Minh Mạng Ngược lại với tư tưởng nhà Lý và chính sách gắn liền bình đẳng với các dân tộc miền núi. Chính sách tập quyền theo nho học cứng rắn của Minh Mạng theo một mô hình truyền thống của Trung Hoa, không khoan nhượng với các sự khác biệt, coi thường các mọi tộc kể cả “Tây dương”, đóng cửa thương mại và đuổi người ngoài, đã đưa chính quyền nhà Nguyễn đến sự đụng độ không tránh khỏi về ý thức hệ và văn hoá với dân tộc miền Việt Bắc. Sau khi dẹp xong sự nổi dậy của Lê Văn Khôi ở Gia Định miền Nam chống lại sự bất công độc đoán của Minh Mạng, chính sách khắc nghiệt cứng rắn và coi thường miệt thị dân “Thổ” (Tày và Nùng ngày nay) của Minh Mạng đã đưa đến sự nổi dậy của người Tày-Nùng và người Kinh (Việt) ở Cao Bằng, Lạng Sơn dưới sự lãnh đạo của Nông Văn Vân. Một đoạn sau đây trong bài hịch của Nông Văn Vân phần nào nói lên lý do của cuộc khởi nghĩa

“Mười lăm năm đức chính có chi Kho hình luật vẽ nên hùm có cánh Ba mươi tỉnh nhân dân đều oán Tiếng oan hào kêu dậy đất không lông.”