Top 13 # Xem Nhiều Nhất Du Lịch Tỉnh An Giang / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Tuvanduhocsing.com

Tìm Hiểu Du Lịch Tỉnh An Giang / 2023

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ- DU LỊCH

TRÀ XUÂN MAI

TÌM HIỂU DU LỊCH TỈNH AN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DU LỊCH

Cần Thơ, tháng 5/2010

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ- DU LỊCH

TRÀ XUÂN MAI MSSV: 6062719

TÌM HIỂU DU LỊCH AN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DU LỊCH

GV hướng dẫn: Th.s Trần Thị Phụng Hà

Lời cảm ơn Phần 1: MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………….1 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài …………………………………………1 3. Đối tượng nghiên cứu ………………………………………………….1 4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………….2 4.1.Phương pháp thưc tế………………………………………………….2 4.2.Thu thập, xử lí thông tin, phân tích và tổng hợp tài liệu……………..2 4.3.Phương pháp bản đồ………………………………………………….2 5. Quan điểm nghiên cứu………………………………………………….2 5.1.Quan điểm tổng hợp lãnh thổ…………………………………………..2 5.2.Quan điểm lịch sử………………………………………………… …..2 5.3.Quan điểm viễn cảnh……………………………………………………3 Phần 2: NỘI DUNG………………………………………………………………..4 Chương 1: LÍ LUẬN CHUNG…………………………………………………….4 1.1.Khái niêm du lịch và tài nguyên du lịch……………………………………….4 1.1.1.Khái niệm du lịch……………………………………………………..4 1.1.2.Khái niêm tài nguyên du lịch…………………………………………5 1.2.Vai trò, ý nghĩa của du lịch và tài nguyên du lịch……………………………..5 1.2.1.Vai trò, ý nghĩa của du lịch……………………………………………5 1.2.2.Vai trò, ý nghĩa của tài nguyên du lịch……………………………….7 1.3.Đặc điểm và phân loại tài nguyên du lịch………………………………………7 1.3.1.Đặc điểm………………………………………………………………7 1.3.2.Phân loại…………………………………………………………… ..8 a. Tài nguyên du lịch tự nhiên………………………………….8 b. Tài nguyên du lịch nhân văn………………………………..11 Chương 2: TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH AN GIANG………………………15 2.1.Khái quát về tỉnh An Giang…………………………………………………..15 2.1.1.Lịch sử hình thành vùng đất An Giang………………………………15 2.1.2.Vị trí địa lí……………………………………………………………15 2.1.3.Đặc điểm tự nhiên……………………………………………………16 a. Địa hình……………………………………………………16 b. Khí hậu……………………………………………………16 c. Sông, hồ, kênh, rạch………………………………………16 2.1.4.Đặc điểm kinh tế- xã hội……………………………………………17 a. Phân chia đơn vị hành chính………………………………17

b. Dân cư và sự phân bố dân cư……………………………..18 c. Kinh tế- du lịch……………………………………………18 2.2.Tài nguyên du lịch của tỉnh An Giang………………………………………..21 2.2.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên…………………………………………21 a. Địa hình……………………………………………………21 b. Khí hậu……………………………………………………21 c. Sinh vật……………………………………………………22 d. Nước………………………………………………………23 2.2.2.Tài nguyên du lịch nhân văn…………………………………………24 a. Di tích lịch sử- văn hóa- khảo cổ học……………………..24 b. Các lễ hội………………………………………………….24 c. Làng nghề thủ công truyền thống…………………………28 d. Các đối tượng gắn với dân tộc học………………………..29 e. Các đối tượng văn hóa thể thao và hoạt động nhận thức khác………………………………………………….32 2.3.Một số điểm du lịch tiêu biểu của tỉnh An Giang………………… ……….. 32 2.3.1.Các điểm du lịch tự nhiên……………………………………………32 a. Búng Bình Thiên- Đệ nhất hồ trời…………………………32 b. Thế giới nước Trà Sư……………………………………..33 c. Thất sơn hùng vỹ- trữ tình…………………………………34 2.3.2.Các điểm du lịch nhân văn…………………………………………..35 a. Đồi Tức Dụp………………………………………………35 b. Cụm di tích núi Sam………………………………………37 c. Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng…………………..39 d. Thánh đường Hồi giáo Mubarak………………………….39 e. Chùa Xà Tón( Xayvon)…… …………………………….40 @Đánh giá chung về tài nguyên du lịch tỉnh An Giang……………………….41 Chương 3: HIỆN TRẠNGVÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH AN GIANG 3.1.Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục du lịch…………………………43 3.1.1.Cơ sở hạ tầng………………………………………………………..43 a. Giao thông…………………………………………………43 b. Vận tải…………………………………………………….44 c. Thông tin liên lạc…………………………………………44 3.1.2.Cơ sở vât chất kỹ thuật………………………………………………45

a. Cơ sở lưu trú………………………………………………………45 b. Mạng lưới thương mại mua sắm hang lưu niệm…………………..45 c. Cơ sở y tế………………………………………………………….45 d. Cơ sở ăn uống……………………………………………………..45 e. Nguồn nhân lực phục vụ du lịch…………………………………..45 3.2.Hiện trạng hoạt động du lịch và định hướng phát triển du lịch An Giang……46 3.2.1.Tình hình khách du lịch tỉnh An Giang……………………………..46 3.2.2.Thuận lợi và khó khăn trong hoạt động du lịch tỉnh An Giang……..47 a. Thuận lợi……………………………………………………………47 b. Khó khăn……………………………………………………………48 3.2.3.Định hướng phát triển du lịch An Giang……………………………49 Phần 3: KẾT LUẬN…………………………………………………………… 51 1. Kết quả đạt được…………………………………………………………..51 2. Ý kiến đề xuất………………………………………………………… …51

LỜI CÁM ƠN Trong suốt bốn năm rèn luyện và học tập trên giảng đường đại học, với sự dìu dắt và truyền thụ kiến thức của thầy cô, tôi đã có được những hành trang bổ ích để bước vào đời. Có thể nói, luận văn tốt nghiệp là công trình nghiên cứu có giá trị đầu tiên đối với mỗi sinh viên. Với công trình này, chúng tôi có dịp vận dụng những kiến thức đã được trang bị và trau dồi suốt bốn năm qua. Trải qua thời gian nỗ lực tìm tòi nghiên cứu, đề tài ” TÌM HIỂU DU LỊCH AN GIANG” đã hoàn thành. Trang viết đầu tiên này tôi xin gởi lời cám ơn chân thành đến cô Trần Thị Phụng Hà- Cán bộ hướng dẫn chính cho bài luận văn này, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài. Đạt được kết quả này còn nhờ sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, đơn vị khác. Tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô Bộ môn Lịch sửĐịa lí- Du lịch, Sở Văn hóa- Thể thao- Du lịch An Giang, Cục Thống kê An Giang cùng các bạn lớp Cử nhân du lịch khóa 32. Chúc sức khỏe và thành đạt đến quý thầy cô, các cơ quan và tất cả các bạn! Vì thời gian và kiến thức bản thân có hạn nên chắc chắn đề tài này sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để luận văn tốt nghiệp này hoàn chỉnh hơn.

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Quê hương tôi có cánh đồng xanh biếc Có cánh cò và có cả dòng sông Những người dân bàn chân đất ra đồng Tờ mờ sáng họ đi trong sương lạnh Mặt trời mọc là bức tranh ngoạn cảnh Đẹp tuyệt vời như họa sĩ vẻ ra Thương biết mấy những con người quê nội Đất An Giang tôi yêu mến muôn đời! (Sáng tác) Là một người con của mảnh đất An Giang, tôi tự hào bởi quê hương trù phú, nơi được đặc ân ưu đãi của thiên nhiên. Hệ thống sông Tiền và sông Hậu tạo cho An Giang một mùa nước nổi rất riêng biệt. An Giang còn sở hữu nhiều nét văn hóa phong phú đa dạng, nhiều di tích lịch sử đặc sắc, lâu đời gắn với thiên nhiên sông núi hữu tình, hùng vĩ. An Giang còn được mệnh danh là vùng “địa linh” với nhiều tín ngưỡng văn hóa đặc thù của các dân tộc. Giàu đẹp là thế, nhiều tiềm năng là thế. Nhưng hiện nay du lịch An Giang vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Vậy phải làm thế nào để đưa du lịch An Giang trở thành thế mạnh của tỉnh? Đây không chỉ là vấn đề bức xúc của riêng bản thân tôi mà còn là của các ngành, các cấp lãnh đạo trong hoạt động du lịch của tỉnh. Là sinh viên năm cuối chuyên ngành hướng dẫn viên, tôi hy vọng qua đề tài “TÌM HIỂU TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH AN GIANG” sẽ đưa hình ảnh du lịch tỉnh nhà giao lưu, hội nhập với các tỉnh bạn để du lịch An Giang có thể phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có, từng bước tạo thương hiệu cho mình và góp phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch Việt Nam. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI: Tìm hiểu tài nguyên du lịch tỉnh An Giang nhằm mục đích tìm hiểu những tìêm năng của một số tài nguyên có tác động đến hoạt động du lịch của một địa phương nói riêng và của tỉnh An Giang nói chung. Qua đó có những đánh giá về những tiềm năng du lịch của tỉnh và vạch ra phương hướng phát triển nhằm thúc đẩy ngành du lịch An Giang phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn trong tương lai. Song song đó, đề tài cũng giúp tôi củng cố lại những kiến thức đã học, bổ sung thêm những kiến thức mới nhằm nâng cao sự hiểu biết để phục vụ cho nghề nghiệp sau này.

cứu phải tìm ra điểm độc đáo của lãnh thổ du lịch, sự hấp dẫn, nét riêng biệt của vùng, của điểm du lịch vùng này với điểm du lịch vùng khác. 5.2. Quan điểm lịch sử: Tất cả các sự vật hiện tượng đều có quá trình xuất hiện và phát triển, vì thế khi nghiên cứu tài nguyên du lịch người nghiên cứu cần phải tìm hiểu nguồn gốc lịch sử dẫn đến sự hình thành tài nguyên du lịch để thấy được những bước khác nhau của nó trong những hoàn cảnh địa lí khác nhau, trong những khoảng thời gian khác nhau. Khi nghiên cứu chúng ta cần đặt theo một cấu trúc logic để lí giải nguyên nhân hình thành và phát triển. Quan điểm này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn động về sự vật, nghĩa là chúng ta phải luôn đặt chúng trong quá trình vận động và từ đó có thể thấy được những bước phát triển trong tương lai. 5.3. Quan điểm viễn cảnh: Quan điểm này giúp người nghiên cứu định hướng được, dự đoán được những bước phát triển kế tiếp của các loại tài nguyên du lịch trong tương lai khi nhìn nhận đầy đủ bản chất cũng như quy luật vận động và phát triển của các loại tài nguyên du lịch ở quá khứ và hiện tại. Trong nghiên cứu du lịch thì quan điểm này kế thừa quan điểm lịch sử, nghĩa là khi áp dụng quan điểm viễn cảnh, người nghiên cứu phải căn cứ vào xu hướng vận động của các sự vật hiện tượng để lập dự báo, căn cứ có khoa học trong tương lai. Quan điểm này đảm bảo tính sáng tạo, tính tích cực của ngành Địa Lý và Du Lịch, đảm bảo tính kế thừa và phát triển trong tương lai.

trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức-văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về kinh tế, tự nhiên, văn hóa”. Nhìn chung, du lịch có thể được định nghĩa như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. (Điều 10Pháp lệnh du lịch Việt Nam- 1999). Thông qua một số định nghĩa trên, có thể nói rằng du lịch là một dạng hoạt động đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa- xã hội. 1.1.2. Khái niệm tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lich hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình và được phân loại thành nhiều tài nguyên gắn liền với các nhân tố con người và xã hội. Khái niệm tài ngyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch. Pháp lệnh du lịch Việt Nam (1999) định nghĩa như sau: “Tài nguyên du lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn du lịch”. Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch. Thực tế cho thấy, tài nguyên du lich càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. 1.2. VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA DU LỊCH VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH 1.2.1. Vai trò, ý nghĩa của du lịch: Du lịch có những chức năng nhất định. Có thể xếp các chức năng ấy thành bốn nhóm: xã hội, kinh tế, sinh thái và chính trị. Thông qua những chức năng này có thể thấy được vai trò rất lớn của du lịch và hoạt động du lịch. a. Chức năng xã hội: Thể hiện ở vai trò của du lịch trong việc giữ gìn, hồi phục sức khỏe và tăng cường sức sống cho nhân dân. Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người.

1.2.2. Vai trò, ý nghĩa của tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến cấu trúc và chuyên môn hóa của vùng du lịch. Quy mô hoạt động du lịch của một vùng, một quốc gia được xác định trên cơ sở khối lượng nguồn tài nguyên du lịch quyết định tính mùa vụ, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch. Sự hấp dẫn của vùng du lịch phụ thuộc nhiều vào tài nguyên du lịch. Số lượng tài nguyên du lịch vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia. Một lãnh thổ nào đó có nhiều tài nguyên du lịch, các loại có chất lương cao có sức hấp dẫn du khách lớn và mức độ kết hợp các loại tài nguyên phong phú thì sức thu hút khách du lịch càng mạnh. 1.3. ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN DU LỊCH 1.3.1. Đặc điểm: Để khai thác và sử dụng tốt nhất các tài nguyên du lịch, trước hết cần tìm hiểu và nghiên cứu các đặc điểm nguồn tài nguyên này. Tài nguyên du lịch có những đặc điểm chính sau: Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch. Thời gian khai thác xác định tính mùa của du lịch, nhịp điệu của dòng khách. Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó. Vốn đầu tư tương đối thấp và giá thành chi phí sản xuất không cao cho phép xây dựng tương đối nhanh chóng cơ sở hạ tầng và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên. Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các quy định về sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ chung. Muốn đánh giá tài nguyên du lịch cần phải tổng hợp nhiều tri thức của các lĩnh vực khoa học: sinh lý học, tâm lý học, địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế, lịch sử văn hóa và nghệ thuật, kiến trúc và đô thị, kế hoạch hóa lãnh thổ và kế hoạch du lịch. Khía cạnh lãnh thổ của các đánh giá tài nguyên du lich là nhiệm vụ của địa lý du lịch. 1.3.2. Phân loại tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch có thể chia làm hai nhóm như sau:

 Tài nguyên du lịch tự nhiên  Tài nguyên du lịch nhân văn a. Tài nguyên du lịch tự nhiên: Là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta và tác động đến người quan sát qua hình dạng bên ngoài của bản thân nó. Các tài nguyên du lịch tự nhiên luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên cũng như lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội và chúng được khai thác đồng thời với các tài nguyên du lịch nhân văn. Các yếu tố tự nhiên được khai thác để phục vụ cho hoạt động du lịch đó là: địa hình, khí hậu, nước, sinh vật.  Địa hình: Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của phong cảnh nơi đó. Đối với du lịch, các dấu hiệu bên ngoài của địa hình càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫn du khách. Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng, chúng được phân biệt bởi độ chênh cao của địa hình. – Địa hình đồng bằng với độ cao tương đối dưới 10 mét, địa hình này tương đối đơn điệu về mặt ngoại hình, ít gây cảm hứng cho khách tham quan du lịch. Song, đồng bằng là nơi thuận lợi cho hoạt động kinh tế, là nơi quần cư đông đúc, tạo ra đặc điểm văn hóa của các dân tộc, các hoạt động gắn liền với cuộc sống của người dân. Địa hình đông bằng có ảnh hưởng gián tiếp đến du lịch. – Địa hình vùng đồi với độ cao từ 10 đến 100 mét thường tạo ra một không gian thoáng đãng bao la… tác động mạnh đến tâm lý của khách ưa thích dã ngoại, rất thích hợp với loại hình cắm trại, tham quan…. – Địa hình vùng núi với độ cao trên 100 mét thường có nhiều ưu thế đối với hoạt động du lịch vì có sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, vừa thể hiện vẻ đẹp hùng vỹ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ, không khí trong lành. Ở miền núi có nhiều đối tượng cho hoạt động du lịch, đó là các sông, suối, hang động, thác nước, rừng cây với thế giới sinh vật tự nhiên vô cùng phong phú. Miền núi còn là nơi cư trú của các dân tộc ít người với đời sống và nền văn hóa đa dạng, đặc sắc. Ở miền núi với sự kết hợp của địa hình, khí hậu, nước, tài nguyên sinh vật và bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc ít người đã tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch khác nhau và có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách. Ngoài các dạng địa hình trên, địa hình karst và địa hình ven bờ cũng có ý nghĩa rất lớn cho tổ chức du lịch.

– Địa hình karst là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước trong các đá dễ hòa tan (đá vôi, dolomite, đá phấn, thạch cao, muối mỏ…) ở Việt Nam chủ yếu là đá vôi. Hang động karst là một kiểu karst được quan tâm đối với du lịch vì cảnh quan thiên nhiên của các hang động karst rất thu hút khách du lịch. Nhiều hang động có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ và rất kỳ ảo do tạo hóa sinh ra. Nhiều hang động chứa những di tích khảo cổ, di tích lịch sử văn hóa. Không ít hang động đã được con người xây dựng thêm các công trình kiến trúc như chùa chiền để thờ tự, tạo nên một thế giới tâm linh đầy bí ẩn…. Như vậy, có thể nói hang động karst là một loại tài nguyên du lịch- một loại hàng hóa đặc biệt có thể sinh lợi cao. Hiện nay ở nước ta đã có nhiều hang động được khai thác để phục vụ du lịch như: Phong Nha, Tam Cốc- Bích Động, Hương Tích, Thiên Cung…. Ngoài hang động karst, còn có kiểu địa hình karst ngập nước tiêu biểu là vịnh Hạ Long- một di sản thiên nhiên thế giới; kiểu địa hình karst đồng bằng tiêu biểu là ở vùng Ninh Bình được mệnh danh là “vịnh Hạ Long cạn” cũng rất có giá trị về du lịch. – Địa hình ven bờ cũng có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch. Nước ta có đường bờ biển dài 3.260 km với nhiều bãi tắm vẫn còn ở dạng sơ khai, chưa bị ô nhiễm, độ dốc trung bình từ 10 đến 30 và một hệ thống đảo ven bờ, trong đó một số đảo có giá trị về du lịch. Từ Móng Cái đến Hà Tiên với rất nhiều bãi tắm đẹp như: Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Lăng Cô, Đại Lãnh, Nha Trang, Vũng Tàu…. Đây là tiềm năng lớn để tạo nên các khu du lịch biển có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực.  Khí hậu: Khí hậu cũng được coi là một dạng tài nguyên du lịch. Trong các chỉ tiêu về khí hậu, đáng lưu ý nhất là nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác như gió, áp suất khí quyển, ánh sáng mặt trời, các hiện tượng thời tiết đặc biệt. Bảng 1.1: Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người

Hạng

Ý nghĩa

Thích nghi Khá thích nghi Nóng

Rất nóng Không thích nghi

( Nguồn: Địa lý du lịch- Nguyễn Minh Tuệ) Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ du lịch. Nhìn chung, những nơi có khí hậu ôn hòa thường được du khách ưa thích. Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp cho hoạt động du lịch. Mỗi loai hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Chẳng hạn du khách đi nghỉ biển mùa hè thường chọn những dịp ít mưa, nắng nhiều nhưng không gắt, nước mát, gió vừa phải. Tính mùa của khí hậu ảnh hưởng rất rõ rệt đến tính mùa vụ trong du lịch. Các vùng khác nhau trên thế giới có mùa du lịch khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu. Sự phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện khí hậu, hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng. Mùa du lịch cả năm thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh ở suối khoáng, du lịch trên núi (cả mùa đông và mùa hè). Mùa đông là mùa du lịch trên núi, du lịch thể thao mùa đông. Mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất vì nó có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch biển, các loại hình du lịch trên núi và khu vực đồng bằng, đồi, khả năng du lịch ngoài trời rất phong phú và đa dạng.  Nguồn nước: Đối với du lịch thì nước mặt có ý nghĩa quan trọng. nó bao gồm nước đại dương, biển, song, hồ, suối phun, thác nước…. Tài nguyên nước mặt không chỉ có tác dụng hồi phục trực tiếp mà còn ảnh hưởng nhiều dến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt nó làm dịu đi khí hậu ven bờ. Nước ngầm nhìn chung ít có giá trị đối với du lịch, tuy nhiên cần phải nói đến tài nguyên nước khoáng. Đây là nguồn tài nguyên có giá trị an dưỡng và chữa bệnh. Những nước có nhiều tài nguyên nước khoáng là: Liên Bang Nga, Bungari, Italia… cũng là những nước phát triển loại hình du lịch chữa bệnh. Ở Việt Nam, theo các nhà địa chất thủy văn có trên 400 điểm nước khoáng có giá trị du lịch như: Vĩnh Hảo, Kim Bôi, Quang Hanh, Hội Vân…  Sinh vật: Con người cũng như mọi sinh vật đều được phát sinh và phát triển trong môi trường tự nhiên- nguyên thủy-một môi trường hàn toàn trong lành và ổn định. Con người đã thích nghi với môi trường đó. Giờ đây, sống trong một xã hội phát

triển có những điều kiện thuận lợi do con nguười tạo ra, nhưng đồng thời môi trường lại bị ô nhiễm, biến đổi bất lợi cho cuộc sống của con người, vì vậy con người muốn trở về với thiên nhiên. Như vây có thể nói, cảnh quan thiên nhiên có một vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe con người và là nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái. Động vật là một trong những nhân tố góp phần thu hút khách du lịch. Nhiều loài động vật có thể là đối tượng cho săn bắn du lịch, những động vật quý hiếm là đối tượng để nghiên cứu, có những loài có thể khai thác làm đặc sản phục vụ nhu cầu du lịch. Nước ta đã thành lập được 105 khu bảo vệ tự nhiên, bao gồm 27 vườn quốc gia, 44 khu bảo tồn tự nhiên và 34 khu rừng văn hóa lịch sử, môi trường với tổng diện tích khoảng 2.092 hecta (thống kê năm 2003). b. Tài nguyên du lịch nhân văn: Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là do con người sáng tạo ra. Theo quan điểm chung được chấp nhận hiện nay, toàn bộ những sản phẩm có giá trị vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra được xem là những sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên không phải sản phẩm văn hóa nào cũng được xem là tài nguyên du lịch nhân văn, chỉ những sản phẩm văn hóa nào có giá trị phục vụ du lịch mới được xem là tài nguyên du lịch nhân văn. Hay nói cách khác, những tài nguyên du lịch nhân văn chính là những giá trị văn hóa tiêu biểu cho mỗi dân tộc. Thông qua những hoạt động du lịch dựa trên việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn, khách du lịch có thể hiểu những đặc trưng cơ bản về văn hóa của dân tộc, địa phương nơi mình đến. Là những sản phẩm văn hóa nên nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên cũng rất đa dạng và phong phú. Chúng có thể được phân thành các dạng chính như sau:  Các di tích lịch sử- văn hóa: Di tích lịch sử-văn hóa là tài sản văn hóa quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, cụ thể, xác thực nhất về đặc điểm văn hóa của mỗi nước. Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, những trí tuệ, những tài năng, giá trị văn hóa nghệ thuật của mỗi quốc gia. Di tích lịch sử- văn hóa có giá trị rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người, phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dan tộc, mỗi đất nước. Như vậy, di tích lịch sử- văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan trong đó chứa đựng những giá trị lịch sử điển hình do tập thể hoặc cá

nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại. Theo những thang bậc giá trị khác nhau, những di tích lịch sử- văn hóa được phân thành những dạng khác nhau: các di tích có giá trị đặc biệt được xem là các di sản thế giới, các di tích cấp quốc gia và địa phương. Các di sản văn hóa thế giới: là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hóa của một dân tộc, nó có giá trị rất lớn đối với nhân loại. Nó là nguồn tài nguyên vô giá có sức thu hút du khách rất cao, đặc biệt là khách du lịch nước ngoài. Ví dụ như: phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, cố đô Huế…. Các di tích lịch sử- văn hóa danh thắng cấp quốc gia và địa phương: mỗi di tích có nội dung, giá trị văn hóa, lượng thông tin riêng biệt khác nhau. Có thể chia ra thành: – Di tích văn hóa khảo cổ – Di tích lịch sử – Di tích văn hóa nghệ thuật – Các danh lam thắng cảnh Để đánh giá đúng ý nghĩa của các di tích lịch sử văn hóa phục vụ cho mục đích du lịch, cần chú ý số lượng và chất lượng của di tích. Tài nguyên này có thể tận dụng để phát triển nhiều loại hình du lịch cũng như kết hợp các loại tài nguyên du lịch khác tạo ra sức hấp dẫn to lớn đối với du khách.  Lễ hội: Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt của tập thể nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc đó còn là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được. Các lễ hội đã tạo nên một môi trường mới, huyền diệu giúp cho người tham dự có điều kiện tiếp xúc với bí ẩn của nguồn khởi điểm mọi sinh vật sinh sống. Lễ hội dân tộc trở thành dịp cho con người hành hương về với cội nguồn. Trong kho báu các di sản quá khứ để lại cho hôm nay, các lễ hội dân tộc có lẽ là những thứ quý báu nhất. Và vì thế lễ hội dân tộc lành mạnh không bị mất đi mà ngày càng được nhân rộng, phát triển cả về hình thức lẫn nội dung. Nội dung lễ hội bao gồm hai phần: Phần lễ: đó là những nghi thức nghiêm túc, trọng thể mở đầu cho ngày hội theo không gian và thời gian. Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng lỗi lạc có ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội. Phần nghi lễ nhằm bày tỏ lòng tôn

kính đối với các bậc thánh hiền và thần linh cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hòa và sự phồn vinh hạnh phúc. Nó tạo thành nên móng vững chắc, tạo một yếu tố văn hóa thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ đối với toàn thể cộng đồng người đi hội trước khi chuyển sang phần xem hội. Phần hội: là phần tổ chức những trò chơi, thi đấu, biểu diễn…. Mặc dù cũng hàm chứa những yếu tố văn hóa truyền thống, nhưng phạm vi nội dung của nó không khuôn cứng mà hết sức linh hoạt, luôn luôn được bổ sung bởi những yếu tố văn hóa mới. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy nếu nơi nào bảo tồn và phát triển được những nét văn hóa truyền thống trong phần hội với những trò chơi mang tính dân gian thì lễ hội nơi đó có giá trị hơn, có sức hấp dẫn hơn. Thông thường phần hội gắn với tình yêu, giao duyên nam nữ. Cũng có những lễ hội mà ở đó phần lễ và phần hội hòa quyện với nhau, trong đó trọng tâm là phần hội nhưng bản thân phần hội đã mang trong nó ý nghĩa tâm linh của phần lễ. Như vậy, lễ hội là tài nguyên du lịch quan trọng góp phần làm tăng hấp dẫn du khách trong hoạt động du lịch. Ở nước ta có rất nhiều lễ hội của nhiều dân tộc thu hút đông đảo khách du lịch như: lễ hội chùa Hương, lễ hội vía Bà Chúa Xứ An Giang, lễ Cholchnamthmay của người Khơ me…  Nghề và các làng nghề thủ công truyền thống: Đây cũng là tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng. Thông thường nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo không chỉ thể hiện tài khéo léo tinh xảo của nhân dân lao động mà còn thể hiện những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người. Đây cũng chính là đặc tính riêng của nền văn hóa và cũng chính là sức hấp dẫn của các nghề và làng nghề thủ công truyền thống.  Các đối tượng gắn với dân tộc học: Các đối tượng gắn với dân tộc học bao gồm các điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng, địa bàn cư trú nhất định, kinh nghiệm sản xuất…. Các đối tượng gắn với dân tộc học có ý nghĩa du lịch là các tập tục về cư trú, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, các trang phục dân tộc…. Những điều đó đã tạo nên nét văn hóa độc đáo thu hút du khách.  Các đối tượng văn hóa thể thao và các hoạt động nhận thức khác: Những đối tượng văn hóa như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các trung tâm thư viện lớn, các nhà bảo tàng,… đều có sức thu hút khách du lịch

Bản Đồ Tỉnh Bắc Giang / 2023

Đôi nét về tỉnh Bắc Giang

Trên tấm bản đồ tỉnh Bắc Giang, chúng ta có thể thấy rõ vị trí địa lý của tỉnh Bắc Giang. Hình ảnh tỉnh Bắc Giang hiện lên trên vùng Đông Bắc nước ta. Năm 2012, tỉnh nằm trong đối tượng quy hoạch của thủ đô Hà Nội. Bốn phía tỉnh được tiếp giáp cụ thể như sau: Phía Bắc giáp với Lạng Sơn. Phía Nam giáp với Bắc Ninh, Hải Dương. Phía Đông giáp với Quảng Ninh. Phía Tây giáp với Thái Nguyên, Sóc Sơn Hà Nội. Không cần tìm mua bản đồ hà nội làm gì, với bản đồ Bắc Giang, ta cũng có thể xem được đường đi dẫn tới thủ đô qua các tuyến đường kết nối.

Tỉnh có diện tích 3.823 km². Địa hình nơi đây khá phong phú. Bắc Giang là một tỉnh miền núi. Nơi đây vừa có núi cao, trung du xen kẽ giữa đồng bằng. Khí hậu nơi đây rất ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai hay hạn hán. Do đó đây là vùng đất lý tưởng để sinh sống và làm việc. Trong thời gian gần đây, tỉnh có nền kinh tế khác phát triển và vững mạnh. Nơi đây đang khẳng định vị trí là trung tâm kinh tế lớn thứ 2 của vùng trung du và miền núi phía Bắc.

Nhìn trên bản đồ tổng quan tỉnh Bắc Giang, chúng ta thấy hiện lên 3 con sông lớn đó là Lục Nam, sông Thương, sông Cầu. Tỉnh có tổng cộng 374km sông suối. Bên cạnh đó, tỉnh có nhiều hồ, sông và đầm. Trong đó phải kể đến hồ Cấm Sơn và Khuôn Thần khá nổi tiếng. Đây là địa điểm mà du khách rất thích trải nghiệm và khám phá.

Các đơn vị hành chính trên bản đồ tỉnh Bắc Giang

Trên bản đồ, chúng ta có thể thấy trên bảng ghi chú có ghi đầy đủ thông tin các đơn vị hành chính của tỉnh. Hiện tại, tỉnh có 10 đơn vị hành chính. Trong đó cụ thể như sau:

1 thành phố: Bắc Giang gồm có 10 phường và 6 xã

9 huyện: Hiệp Hòa (1 thị trấn, 25 xã), Lạng Giang (2 thị trấn và 21 xã), Lục Nam (2 thị trấn và 25 xã), Lục Ngạn (1 thị trấn và 29 xã), Sơn Động (2 thị trấn và 21 xã), Tân Yên (2 thị trấn và 22 xã), Việt Yên (2 thị trấn, 17 xã), Yên Dũng (2 thị trấn và 19 xã), Yên Thế (2 thị trấn và 19 xã)

Như vậy tỉnh có 227 đơn vị hành chính cấp xã trong đó có 204 xã, 10 phường và 16 thị trấn.

Tỉnh Bắc Giang hiện trên bản đồ với vị trí tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh – Lạng Sơn – Hải Phòng, sát vùng kinh tế trọng điểm của phía Bắc. Do đó tỉnh có rất nhiều lợi thế để tiến đến một nền kinh tế vững mạnh.

Hiện các khu công nghiệp của tỉnh tập trung nhiêu ở Việt Yên và Yên Dũng. Trong đó phải kể đến các cụm công nghiệp đó là: Đình Trám, Song Khê – Nội Hoàng, Quang Châu, Vân Trung,…Nhìn chung Bắc Giang đang có định hướng phát triển đúng đắn và có những bước phát triển vượt bậc trong thời gian gần đây

Sơ lược về tỉnh Bắc Giang

Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng đông bắc Việt Nam. Từ năm 2012 là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội. Bắc Giang chiếm phần lớn diện tích của vùng Kinh Bắc xưa nên có nền văn hoá phong phú, đặc trưng của Kinh Bắc, là cái nôi của Dân ca Quan họ với 23 làng quan họ cổ được UNESCO công nhận. Tỉnh lỵ là thành phố Bắc Giang, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50 km.

Trong những năm gần đây, Kinh tế của Bắc Giang phát triển khá toàn diện và đang khẳng định được vị thế là Trung tâm kinh tế lớn thứ hai của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Vị trí địa lý tỉnh Bắc Giang

Nhìn vào bản đồ chúng ta có thể xác định được Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng đông bắc Bắc Bộ và các vùng tiếp giáp:

Phía Bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn

Phía Nam giáp với tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hải Dương

Phía Đông giáp với giáp với tỉnh Quảng Ninh

Phía Tây giáp với tỉnh Thái Nguyên và thành phố Hà Nội

Các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Bắc Giang

Bắc Giang có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố và 9 huyện, được phân chia thành 227 đơn vị hành chính cấp xã gồm 10 phường, 16 thị trấn và 204 xã.

Bản đồ hành chính thành phố Bắc Giang

Bắc Giang là một đô thị loại II – trung tâm hành chính của tỉnh Bắc Giang, nằm cách trung tâm Hà Nội 50 km về phía Đông Bắc. Thành phố phấn đấu trước năm 2025, sẽ trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh Bắc Giang

Diện tích: 6.677,36 ha (2013)

Dân số: 210.000 người (2018)

Bản đồ hành chính huyện Hiệp Hòa

Hiệp Hòa là một huyện trung du thuộc tỉnh Bắc Giang, nằm ở đầu tỉnh Bắc Giang.

Diện tích: 201 km²

Dân số: 237.900 người (2017)

Bản đồ hành chính huyện Lạng Giang

Lạng Giang là một huyện miền núi thấp của tỉnh Bắc Giang.

Diện tích: 239,8 km²

Dân số: 191.048 người (2010)

Bản đồ hành chính huyện Lục Nam

Lục Nam là một huyện của tỉnh Bắc Giang

Diện tích: 597 km²

Dân số: 200.258 người (2009)

Bản đồ hành chính huyện Lục Ngạn

Lục Ngạn là một huyện miền núi thuộc tỉnh Bắc Giang và là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Bắc Giang

Diện tích: 1.012 km²

Dân số: 204.416 người (2009)

Bản đồ hành chính huyện Sơn Động

Sơn Động là một huyện của tỉnh Bắc Giang

Diện tích: 845,77 km²

Dân số: 68.724 người (2009)

Bản đồ hành chính huyện Tân Yên

Tân Yên là một huyện của tỉnh Bắc Giang

Diện tích: 203,7 km²

Dân số: 158.547 người (2009)

Bản đồ hành chính huyện Việt Yên

Diện tích: 174,1 km²

Dân số: 181 034 (2016)

Bản đồ hành chính huyện Yên Dũng

Yên Dũng là một huyện của tỉnh Bắc Giang

Diện tích: 185,9 km²

Dân số: 135.075 người (2010)

Bản đồ hành chính huyện Yên Thế

Yên Thế là một huyện cực Bắc tỉnh Bắc Giang

Diện tích: 301,3 km²

Dân số: 102.574 người (2013)

Tiềm năng du lịch của tỉnh Bắc Giang

Qua đánh giá trên bản đồ, chúng ta thấy tỉnh Bắc Giang có khá nhiều tiềm năng để phát triển du lịch. Địa hình ở đây tương đối đa dạng. Nơi đây có vô số vùng trung du trải rộng xen kẽ với vùng đồng bằng phì nhiêu. Đặc biệt là rừng nguyên sinh nhiều vô kể. Trong đó phải kể đến rừng Khe Lỗ với 7.000 ha. Nơi đây có hệ thực động vật rất đa dạng. Cụ thể 200 loài thực vật, 250 loài dược liệu, 70 loài chim, 40 loài thú, 7 loài quý hiếm, 20 loài bò sát. Bên cạnh đó rừng Tây Yên Tử cũng khá ấn tượng và độc đáo với diện tích 15.000 ha.

Hệ thống sông ngòi của tỉnh khá phong phú. Trong đó phải kể đến hồ Cấm Sơn, Khuôn Thần, sông Sỏi,… Mỗi hồ đều mang một nét đẹp đặc trưng, ấn tượng du khách ngay từ cái nhìn đầu tiên. Đặc biệt suối Mỡ được xem là thắng cảnh với di tích văn hóa vô cùng hấp dẫn.

Tỉnh còn ấn tượng bởi những nông trại vải ngút tầm mắt. Một nền văn hóa quan họ ấn tượng. Chắc chắn nơi đây sẽ trở thành địa danh du lịch sinh thái cũng như thích hợp với dân phượt. Tại đây, có tới hơn 100 di tích lịch sử văn hóa như chùa Vĩnh Nghiêm, đình Phù Lão, Lỗ Hạnh, Tiên Lục, thành cổ Xương Giang, đồn Phồn Xương,… Tất cả đều tạo dấu ấn đặc biệt với du khách. Nơi đây khiến du khách không ngừng tò mò và khám phá. Bên cạnh đó, các lễ hội cổ truyền là điểm thu hút du khách nhiều tại tỉnh. Chúng vẫn được giữ nguyên bản sắc vốn có từ xưa. Bất cứ ai đến Bắc Giang vào dịp lễ hội sẽ hiểu hơn về cuộc sống và nét văn hóa của tỉnh.

Với tấm bản đồ tỉnh Bắc Giang, chúng ta được trải nghiệm nhiều điều thú vị. Mỗi loại bản đồ chi tiết về Bắc Giang mang đến một lượng kiến thức khác nhau. Tất cả đều chi tiết, rõ ràng cho đến tổng quan nhất. Tấm bản đồ du lịch hay là bản đồ hành chính đều là những công cụ tuyệt vời gắn liền với nhu cầu thiết yếu của người dân Việt Nam.

Bản đồ tỉnh Bắc Giang Online

Bản đồ tỉnh Bắc Giang Online

Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Tỉnh Kiên Giang / 2023

Kiên Giang luôn là điểm đến yêu thích cho du khách trong mỗi hành trình của mình. Nơi đây có những bãi biển, quần đảo hoang sơ tuyệt đẹp, những di tích hàng trăm năm tuổi, cuộc sống của người dân bình dị, chân chất. Hy vọng một số kinh nghiệm đi du lịch Kiên Giang sẽ giúp chuyến đi của du khách thêm phần thú vị hơn nữa.

Đi Kiên Giang như thế nào?

Kiên Giang là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long ở phía Nam của nước ta. Kiên Giang giáp với các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Cà Mau, Hậu Giang, vịnh Thái Lan và có đường biên giới với Campuchia. Kiên Giang là một điểm đến nổi tiếng với các tour du lịch biển đảo trong các tỉnh du lịch miền tây. Từ TP Hồ Chí Minh du khách đi theo QL1 qua các tỉnh Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang và tiế tục theo QL80 về với Rạch Giá và Hà Tiên. Du khách có thể đón xe bus tại bến xe miền tây. Các nhà xe uy tín chạy tuyến này như Phương Trang, Kum Ho, Mai Linh.

Nên đi Kiên Giang thời điểm nào?

Kiên Giang chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và do vị trí của mình, đây là nơi ảnh hưởng nhiều nhất của đợt gió mùa Tây Nam. Khí hậu ở Kiên Giang được chia ra thành hai mùa, mùa mưa và mùa khô. Du khách nên đi du lịch Kiên Giang vào mùa khô vì đây là thời điểm sóng yên, biển lặng, rất thuận tiện cho các chuyến du lịch tham quan đảo.

Tới Kiên Giang ở đâu?

Tham quan gì ở Kiên Giang?

Thị xã Hà Tiên: chùa Tam Bảo, lăng Mạc Cửu, núi Bình San, biển Mũi Nai, cửa khẩu Xà Xía, núi Đá Dựng, Thạch Động, đầm Đông Hồ.

Rạch Giá: đền thờ Nguyễn Trung Trực, khu lấn biển, đây là điểm trung chuyển du khách đi bằng tàu cánh ngầm ra Phú Quốc hoặc các quần đảo lân cận.

Phú Quốc: tham quan dinh Cậu, chùa Sùng Hưng, nhà tù Phú Quốc, bãi Sao, bãi Khem, bãi Dài, nhà thùng nước mắm, suối Tranh, làng chài Hàm Ninh, vườn tiêu khu Tượng.

Quần đảo An Thới.

Quần đảo Nam Du.

Quần đảo Bà Lụa.

Đảo Hải Tặc.

Vườn quốc gia U Minh Thượng.

Hòn Phự Tử, chùa Hang.

Ẩm thực ở Kiên Giang

Kiên Giang nổi tiếng với các món ăn được chế biến từ các loại hải sản tươi ngon. Chúng ta có thể kể qua một số món như:

Tại Rạch Giá: lẩu rắn, lẩu trâu, lẩu gà đá, lẩu mắm, vịt nấu chao, cá sòng nướng cuốn bánh tráng, cá lóc nướng trui, canh chua cá bớp, bún cá Rạch Giá.

Tại Nam Du: cá xanh xương nướng, mực trứng hấp gừng, lẩu chua cá bớp, bún cá, sò điệp nướng mỡ hành, chả cá thu chiên, tôm nướng sả, nhum nướng mỡ hành, khô cá.

Tại Phú Quốc: ghẹ luộc Hàm Ninh, gỏi cá trích cuốn bánh tráng, ốc nhảy, gỏi ốc giác, còi biên mai nướng muối ớt, cá sòng nướng, nấm tràm.

Tại Hà Tiên: bún kèn, hủ tíu hấp, cà xỉu, ốc giác, bánh canh chả ghẹ, nem nướng, bánh tằm bì, cơm gà, bánh lọt xào, chả cá chiên.

Hội Nông Dân Việt Nam Tỉnh An Giang / 2023

09/01/2018

UBND tỉnh An Giang đã ban hành chương trình hành động về phát triển hạ tầng du lịch giai đoạn từ nay đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 nhằm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.

Vừa thu hút, vừa giữ chân du khách

Thời gian qua, du lịch An Giang đạt được một số thành tựu nhất định. Số lượng du khách đến tỉnh năm sau luôn cao hơn năm trước. Nếu năm 2010, An Giang đón 4,7 triệu lượt khách, năm 2015 đón 6,3 triệu lượt thì đến năm 2016 đã tăng lên khoảng 6,7 triệu lượt khách. Các sản phẩm dịch vụ du lịch từng bước được quan tâm đầu tư phát triển như: cáp treo Núi Cấm, công viên văn hóa Núi Sam, bến tàu du lịch Tân Châu… góp phần thu hút ngày càng nhiều du khách đến với An Giang.

Mới đây, UBND tỉnh An Giang đã ban hành chương trình hành động về phát triển hạ tầng du lịch giai đoạn từ nay đến năm 2020, định hướng đến năm 2025. Theo đó, mục tiêu đến năm 2020 tỉnh đề ra là “vừa thu hút, vừa giữ chân du khách” với các chỉ tiêu cụ thể như đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, tỷ trọng đóng góp trực tiếp trong GDP là 8,8%; dự kiến ngành du lịch đón trên 10 triệu lượt khách (tỷ trọng khách lưu trú chiếm 20%); có ít nhất một khu du lịch văn hóa tâm linh hỗn hợp quy mô lớn; có nhà hàng, khách sạn đạt chuẩn 3 – 4 sao; có các khu vui chơi, giải trí quy mô vừa; khai thác tốt tuyến du lịch kết nối nội vùng, ngoại vùng và tuyến du lịch xuyên biên giới Việt Nam – Campuchia – Thái Lan – Lào.

Trong giai đoạn 2021 – 2025, mục tiêu đề ra là “giữ chân du khách”, với các chỉ tiêu như tăng tỷ lệ đóng góp trực tiếp của ngành du lịch trong lên 15,3%; tốc độ tăng trưởng số lượt khách bình quân 5%/năm, dự kiến đón 12,9 triệu lượt khách vào năm 2025. Theo kế hoạch, An Giang sẽ có thêm ít nhất một khu du lịch văn hóa tâm linh hỗn hợp quy mô lớn; có nhà hàng, khách sạn đạt chuẩn 5 sao; có khu vui chơi, giải trí quy mô lớn tại các khu du lịch trọng điểm và các thành phố lớn như Long Xuyên, Châu Đốc.

Các giải pháp đột phá

Để thu hút du khách, UBND tỉnh xác định cần tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ và đường thủy; thu hút đầu tư nhanh vào lĩnh vực xây dựng nhà hàng, khách sạn đạt chuẩn từ 4 sao trở lên; xây dựng trung tâm thương mại, trung tâm hội nghị, khu vui chơi, giải trí tại các trung tâm, thành phố lớn của tỉnh; nâng cấp chỉnh trang đô thị, tôn tạo cảnh quan, xây dựng hình ảnh môi trường xanh – sạch – đẹp tại chúng tôi Xuyên và TP.Châu Đốc. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh thu hút đầu tư tại các khu, điểm du lịch được quy hoạch, chủ yếu tập trung vào 4 khu trọng điểm, có lợi thế cạnh tranh cao trong vùng như: Khu du lịch Núi Sam – miếu Bà Chúa Xứ (TP.Châu Đốc), Khu du lịch Núi Cấm – rừng tràm Trà Sư (H.Tịnh Biên), Khu du lịch Mỹ Hòa Hưng – cồn Phó Ba (TP.Long Xuyên) và Khu di tích văn hóa Óc Eo – Ba Thê (H.Thoại Sơn); đồng thời xây dựng khu du lịch nhà vườn kết hợp du lịch sinh thái vùng sông nước tại cù lao Ông Hổ – cồn Phó Ba.

Trong chương trình trên, UBND tỉnh An Giang còn đưa kèm các giải pháp như thuê tư vấn nước ngoài xây dựng quy hoạch, chiến lược phát triển đối với các địa bàn du lịch trọng điểm của tỉnh; ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù đối với doanh nghiệp, tổ chức đầu tư trong lĩnh vực hạ tầng du lịch; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh; thành lập quỹ hỗ trợ phát triển du lịch của tỉnh; xúc tiến, quảng bá, xây dựng thương hiệu và slogan cho du lịch An Giang. Ngoài ra còn đề ra các giải pháp về môi trường và đảm bảo an ninh trật tự tại các khu – điểm du lịch như: xây dựng môi trường du lịch an toàn, văn minh, thân thiện cho du khách; thành lập đường dây nóng, trung tâm hỗ trợ du khách, hỗ trợ cộng đồng và kiện toàn bộ máy ban quản lý các khu, điểm du lịch trọng tâm của tỉnh…