Chính Sách Phát Triển Du Lịch Nhật Bản Và Những Bài Học Cho Xây Dựng Chính Sách Phát Triển Du Lịch Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Sự Phát Triển Thần Kỳ Của Du Lịch Nhật Bản
  • Học Hỏi Các Chính Sách Phát Triển Du Lịch Từ Nhật Bản
  • Nhật Ký Du Lịch Bụi Lào (7): Gia Đình Người Úc
  • Du Lịch Cần Giờ Có Điểm Đến Nào Hấp Dẫn?
  • Ngày 5: Tham Quan Di Tích Lịch Sử Hiroshima
  • Khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt kỷ lục 28,7 triệu lượt năm 2022, tăng 19% so với năm trước và đang dần tiến tới mục tiêu của chính phủ Nhật là đón 40 triệu lượt khách du lịch quốc tế đến năm 2022.

    Chi tiêu của khách du lịch quốc tế đến Nhật năm 2022 đạt 4.400 tỷ Yên, tăng 17% so với năm 2022. Du lịch quốc tế hiện là nhân tố chính khiến giá đất tại Nhật tăng cao ở các điểm đông khách du lịch.

    Hoa anh đào nở rộ bên bờ sông Matsukawa ở Toyama (JNTO)

    Theo Cơ quan du lịch quốc gia Nhật Bản, khoảng 75% khách du lịch quốc tế đến Nhật chọn lưu trú tại khách sạn, 18% ở tại các khách sạn kiểu Nhật, 12% ở nhà dân và phòng trọ gọi là “minpaku” cho khách du lịch thuê. Tỷ lệ kín phòng ở các khách sạn trong thành phố và khách sạn công vụ đạt khoảng 80% trên toàn quốc, nhưng thường kín phòng tại Tokyo và các thành phố chính như Nagoya, Osaka và Fukuoka và các khu vực phụ cận. Tuy nhiên, tỷ lệ kín phòng của các khách sạn truyền thống kiểu Nhật vẫn khá thấp, đạt khoảng 50-60%, lý do thường bởi các khách sạn này không ở địa điểm thuận tiện hoặc có dịch vụ phù hợp với khách du lịch nước ngoài.

    Chiến lược phát triển Du lịch Mới của Nhật Bản nhằm thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản (tháng 3/2016)

    Chiến lược đặt mục tiêu: ” Ngành công nghiệp du lịch đẳng cấp thế giới!” Nhật Bản sẵn sàng đón khách du lịch quốc tế trên toàn quốc gia. Chính phủ mong muốn khuyến khích sự giao lưu văn hóa đa quốc gia để Nhật Bản có thể thực sự mở cửa với thế giới, nhanh chóng phát triển dịch vụ mới và các sáng kiến trong lĩnh vực du lịch để từ đó hình thành động lực cho phát triển kinh tế và công nghiệp của các vùng.

    – Lượng khách du lịch quốc tế đến đạt 40 triệu người năm 2022, 60 triệu người năm 2030 (Mục tiêu cũ: 20 triệu năm 2022 và 30 triệu năm 2030)

    – Chi tiêu của khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt 8.000 tỷ Yên năm 2022, 15.000 tỷ Yên năm 2030 (Mục tiêu cũ: 4.000 tỷ Yên trong năm đầu tiên có 20 triệu khách QT)

    – Số đêm khách quốc tế nghỉ ngoài 3 khu đô thị chính đạt 70 triệu đêm/2020 và 130 triệu đêm/2030.

    – Lượng khách du lịch quốc tế quay lại Nhật đạt 24 triệu năm 2022 và 36 triệu năm 2030.

    – Chi tiêu của khách du lịch nội địa cho du lịch đạt 21.000 tỷ Yên năm 2022 và 22.000 tỷ Yên năm 2030.

    Để đạt được các mục tiêu đề ra và khắc phục vấn đề hiện tại, chiến lược đưa ra 3 tầm nhìn và 10 vấn đề cần cải cách:

    – Tầm nhìn 1: Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng.

    + Thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế vào tham quan các điểm di sản công

    + Điều chỉnh sự cân bằng trong chính sách di sản từ “chỉ tập trung vào công tác bảo tồn” sang khuyến khích khách du lịch tìm hiểu nhiều hơn về điểm di sản (sử dụng tài sản văn hóa là cốt lõi cho 200 trung tâm du lịch; hình thành khoảng 1.000 dự án xây dựng hướng dẫn thông tin dễ hiểu cho du khách đa ngôn ngữ).

    + Nâng cấp các vườn quốc hiện tại thành các vườn quốc gia đẳng cấp thế giới (mục tiêu 5 vườn quốc gia của Nhật Bản).

    + Xây dựng các kế hoạch cải tạo cảnh quan cho các khu vực du lịch chính.

    – Tầm nhìn 2: Tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo trong du lịch để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế và đưa du lịch thành một trong những ngành công nghiệp chính.

    + Rà soát các quy định và quy tắc để ngành du lịch đạt hiệu quả cao hơn.

    + Tập trung phát triển các thị trường mới, thời gian lưu trú dài ngày hơn (thị trường Châu Âu, Mỹ, Úc; thị trường khách MICE).

    + Cải tạo và nâng cấp các khu resort nước suối khoáng nóng và các khu thị trấn địa phương thông qua cải cách phương án quản lý (xây dựng các mô hình DMOs đẳng cấp thế giới).

    – Tầm nhìn 3: Đảm bảo tất cả du khách có trải nghiệm thoải mái, thỏa mãn và stress-free.

    + Nâng cấp toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng cứng và mềm đề khách du lịch có thể hưởng thụ môi trường cơ sở lưu trú tốt nhất trên thế giới.

    + Hoàn thành việc xây dựng “hành lang khôi phục cấp vùng” để khách du lịch có thể di chuyển một cách thoải mái tới tất cả các điểm đến trên nước Nhật (khách du lịch quốc tế được mua Thẻ đi tàu toàn quốc khi tới Nhật, nâng cấp các tuyến tàu cao tốc Shinkansen, xây mới các sân bay nội địa).

    + Hoàn thiện hệ thống “ngày làm việc” và “ngày nghỉ” tạo điều kiện cho người dân Nhật có kỳ nghỉ dài để đi du lịch.

    Để thực hiện các tầm nhìn và giải pháp trên, mỗi tầm nhìn sẽ có 8 đến 10 Dự án chính để có thể triển khai Chiến lược đạt mục tiêu đề ra. Các Dự án chính được thực hiện bởi nhiều dự án nhỏ với thời gian, địa điểm và quy mô dự án cụ thể được đưa ra.

    Ví dụ: với Tầm nhìn 1 – Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng, hành động cần làm là Thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế vào tham quan các điểm di sản công.

    Dự án cần thực hiện sẽ là: Các điểm di sản nổi bật về giá trị lịch sử và truyền thống của Chính phủ sẽ được mở cửa cho tất cả các đối tượng du khách, như Nhà khách chính phủ ở Kyoto, Nhà khách Chính phủ ở Akasaka.

    Các dự án nhỏ: 1) Mở cửa tự do cả năm vào thăm Nhà khách Chính phủ ở Akasaka, bắt đầu từ 19/4/2016, trừ khi nơi này được sử dụng cho các sự kiện của chính phủ; 2) Mở cửa thử nghiệm từ ngày 28/4 đến 9/5 cho Nhà khách chính phủ ở Kyoto, dựa vào đó, mở cửa quanh năm muộn nhất vào cuối tháng 7/2016; 3) Việc mở cửa tự do cho các điểm của chính phủ khác sẽ được cân nhắc nếu có giá trị khai thác cho du lịch.

    Một số chính sách cụ thể hỗ trợ phát triển du lịch của Chính phủ Nhật Bản thời gian qua

    – Coi du lịch là động lực để phát triển cho các khu vực phụ cận vào nông thôn (không phải là các trung tâm đô thị chính);

    – Năm 2013, thực hiện thỏa thuận “Bầu trời mở”, cho phép tăng chuyến bay tới các sân bay quốc tế;

    – Năm 2014, miễn thị thực cho công dân của Thái Lan và Malaysia. Năm 2022, đơn giản hóa thủ tục xin visa cho công dân Trung Quốc, theo đó, người Trung Quốc với mức thu nhập trên mức quy định có thể có visa 5 năm vào Nhật Bản;

    – Hạ giá trị đồng Yên xuống 30% so với đồng Đô la Mỹ trong giai đoạn 2012-2015

    Bài học kinh nghiệm cho du lịch Việt Nam

    – Xây dựng chiến lược với tầm nhìn, giải pháp, kế hoạch thực hiện nhất quán, đồng bộ để đạt được mục tiêu chung đề ra.

    – Các giải pháp/hành động cụ thể, rõ ràng, với hoạt động cụ thể, thực hiện được, xác định được thời gian.

    – Các chính sách phát triển được thực hiện đồng bộ, sự kết hợp liên ngành thể hiện rõ ràng trong từng chính sách, trong đó đặt phát triển du lịch là trọng tâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Úc
  • Dịch Vụ Làm Visa Đi Nhật Trọn Gói Tại Tphcm
  • Khi Nhận Hồ Sơ Xin Visa Du Lịch Nhật Bản, Happyvisa Cam Kết Đậu 99,9%
  • Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Nhật Bản
  • Nhận Làm Visa Du Lịch Hàn Quốc Vắng Mặt
  • Thể Chế Chính Sách Mở Đường Cho Du Lịch Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 10 Địa Điểm Du Lịch Mạo Hiểm Thú Vị Nhất Ở Việt Nam 2022
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Sinh Thái Long Việt Ba Vì
  • Những Địa Danh Du Lịch Hấp Dẫn Nhưng Ít Người Biết Đến Ở Việt Nam
  • Những Địa Danh Du Lịch Đẹp Nao Lòng Trên Màn Ảnh Phim Việt
  • 5 Địa Điểm Du Lịch Đẹp Nhất Mùa Thu
  • Để phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, cần triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, thể chế chính sách được coi là nhân tố quan trọng nhất, có ý nghĩa mở đường cho du lịch phát triển.

    1. Thể chế, chính sách với phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay

    “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 30 tháng 12 năm 2011 (Quyết định số 2473/QĐ-TTg) và “Quy hoạch Tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030” được phê duyệt ngày 22 tháng 01 năm 2013 ( Quyết định số 201/QĐ-TTg) là những mốc quan trọng đối với sự phát triển của ngành du lịch. Để cụ thể hoá các định hướng của Chiến lược và Quy hoạch tổng thể cấp quốc gia, giai đoạn 2013 – 2022 công tác quy hoạch cấp vùng, các khu du lịch quốc gia, các địa phương đã được quan tâm triển khai thực hiện và đạt được những kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy du lịch phát triển ở cả cấp độ quốc gia, cấp vùng và địa phương.

    Tuy nhiên, giai đoạn 2011 – 2014 là giai đoạn khó khăn của ngành du lịch do nhiều yếu tổ chủ quan và khách quan mang lại. Các chỉ tiêu tăng trưởng du lịch đều rất thấp. Năm 2014, ngành Du lịch đã đón được 7,87 triệu lượt khách quốc tế (tăng 3,96% so với năm 2013, trong 4 năm mới tăng khoảng 1,8 triệu lượt) và phục vụ khoảng 38.5 triệu lượt khách nội địa (tăng 10% so với năm 2013). Mức tăng trưởng khách bình quân cho cả giai đoạn đạt khoảng 9,4% đối với khách quốc tế và 8,67% đối với khách nội địa. Tổng thu từ khách du lịch năm 2014 đạt 230 nghìn tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2013, tăng trưởng trung bình cho cả giai đoạn đạt 20,9%.

    Trước bối cảnh khó khăn của ngành du lịch chưa có lối thoát, ngày 8/12/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 92/NQ-CP về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch trong thời kỳ mới. Nghị quyết đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng yếu, mang tính đột phá nhằm thúc đẩy du lịch phát triển như: Nâng cao nhận thức của xã hội về phát triển du lịch; Tăng cường hỗ trợ của nhà nước cho phát triển du lịch; Tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm an ninh, an toàn để thu hút khách và phát triển du lịch; Hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp du lịch;

    quản lý nhà nước về du lịch ở một số địa phương, khu, điểm du lịch còn chưa nghiêm, còn để xảy ra nhiều tình trạng ăn theo du lịch như cò mồi, chèo kéo, trộm cắp, cướp giật tài sản của khách, ăn xin,… gây ảnh hưởng lớn tới hình ảnh du lịch quốc gia; chất lượng dịch vụ du lịch còn nhiều hạn chế; môi trường du lịch, vệ sinh, an toàn chậm được cải thiện; sức cạnh tranh còn thấp, du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và thiếu bền vững. Chỉ thị số 14/CT-TTg về việc tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch. Chỉ thị 14 được triển khai trong thực tế đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề tồn tại của ngành du lịch, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch và phát triển du lịch.

    Hiệu lực, hiệu quả của các Văn bản pháp quy được ban hành trong hai năm 2014, 2022 đã tạo chuyển biến tích cực trong ngành du lịch. Quản lý nhà nước về du lịch được nâng cao; hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch, chất lượng dịch vụ du lịch được cải thiện; những tiêu cực ở các khu, điểm du lịch gây ảnh hưởng tới khách du lịch giảm thiểu rõ rệt; với sự hỗ trợ tích cực của nhà nước, các hoạt động đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch ngày càng được cải thiện và nâng cao; công tác xúc tiến quảng bá được đẩy mạnh; môi trường kinh doanh du lịch được đảm bảo, năng lực cạnh tranh du lịch được nâng cao. Năm 2022, năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam tăng 5 bậc so với năm 2013, xếp hạng 75/141 quốc gia; khách quốc tế tuy tăng nhẹ so với năm 2014 (tăng 0,9%) nhưng khách nội địa đã tăng đột biến, đạt 57 triệu lượt khách (tăng 48% so với năm 2014); tổng thu từ khách du lịch cũng tăng đáng kể, đạt 337,83 nghìn tỷ đồng (tăng 46,9% so với năm 2014). Có thể coi năm 2022 là năm tạo đà cho sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam.

    Ngày 16/01/2017, Bộ Chính trịđã ban hànhNghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đây là văn kiện có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề hết sức quan trọng và tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của du lịch trong giai đoạn mới. Cũng trong năm 2022, Luật Du lịch sửa đổi (Luật số 09/2017/QH14 được ban hành ngày 19 tháng 6 với nhiều yếu tố mới , có độ cởi mở cao , đã trở thành khung pháp lý vững chắc cho sự phát triển của ngành du lịch trong bối cảnh, tình hình hiện nay.

    Để tăng cường thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế, việc tạo thuận lợi về thủ tục visa và nhập cảnh là hết sức quan trọng. Từ năm 2022 đến năm 2022, Chính phủ đã triển khai thí điểm các chính sách miễn thị thực và cấp thị thực điện tử cho khách du lịch của một số quốc gia trên thế giới. Cụ thể, và Nghị quyết số 39/NQ-CPNghị quyết số 46/NQ-CP của Chính phủ về việc miễn thị thực có thời hạn đối với công dân 6 nước; Nghị định số 0 7Nghị quyết số 124/NQ-CP của Chính phủ quy định cấp thị thực điện tử (e-visa) cho công dân 46 nước. Đây là điểm nhấn quan trọng về cơ chế chính sách, tạo điều kiện cho việc thu hút khách du lịch quốc tế.

    Các thể chế, cơ chế, chính sách của Đảng và Chính phủ đã được ban hành và triển khai vào thực tế trong 03 năm qua (2015-2017) đã mang lại hiệu quả rất lớn, tạo hiệu ứng tích cực đối với ngành du lịch, đưa du lịch Việt Nam vượt qua thời kỳ có khăn, bước vào gia đoạn phát triển mới, với diện mạo mới và vị thế mới trong khu vực và trên thế giới. Năm 2022, ngành du lịch đã thu hút được hơn 12,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 63% (5,03 triệu lượt khách) so với năm 2014 và phục vụ 73,2 triệu lượt khách nội địa, tăng 90% (34,7 triệu lượt khách) so với năm 2014. Tổng thu từ khách du lịch năm 2022 đạt 541 nghìn tỷ đồng, tăng 135,2% (311 nghìn tỷ đồng) so với năm 2014. Các chỉ số khác về cơ sở lưu trú, lao động du lịch, đóng góp của du lịch vào GDP cả nước,… cũng tăng lên đáng kể.

    Do xu thế phát triển nhanh chóng của du lịch cũng như những tác động của các vấn đề mới nảy sinh trên thế giới như cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hợp tác và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự phát triển nhanh chóng của ngành hàng không – đặc biệt là sự xuất hiện của hàng không giá rẻ, các chính sách nới lỏng về thị thực và nhập cảnh với khách du lịch, tác động của các vấn đề kinh tế – thương mại toàn cầu (chiến tranh thương mại), cạnh tranh du lịch quốc tế ngày càng trở nên khốc liệt,… đã đặt du lịch Việt Nam trước những thách thức to lớn để thích ứng và phát triển. Mặc dù hệ thống chính sách, pháp luật về du lịch của Việt Nam hiện nay tương đối hoàn chỉnh, cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành du lịch, tuy nhiên, thể chế, chính sách về du lịch của nước ta vẫn còn rất nhiều vấn đề đặt ra. Cụ thể:

    – Một số c hính sách phát triển du lịch chưa thực sự thông thoáng, hiệu quả chưa cao; Nh iều văn bản quy phạm hướng dẫn triển khai chính sách pháp luật về du lịch còn chậm, nên tính thực thi bị hạn chế. Một số quy định chưa phù hợp, mang tính hình thức nên không áp dụng được hoặc áp dụng khó khăn . Hoạt động tuyên truyền hướng dẫn thực hiện văn bản, chính sách pháp luật du lịch chưa tốt, nên tính hiệu quả của văn bản chưa cao . Nhiều v ăn bản còn thiếu đồng bộ, một số văn bản ra đời chậm so với yêu cầu thực tiễn , hiệu quả và hiệu lực thấp. Thiếu những chính sách cụ thể khuyến khích đầu tư phát triển sản phẩm du lịch đặc thù có sức cạnh tranh, xây dựng thương hiệu, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng.

    3. Một số giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn mới

    Thứ nhất: Đổi mới, hoàn thiện hệ thống luật pháp; tăng cường hợp tác công – tư; nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách phù hợp để huy động tối ưu và sử dụng hiệu quả nguồn lực nhà nước và xã hội cho phát triển du lịch; xây dựng chiến lược đầu tư du lịch bền vững; chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển du lịch, nhất là các khu vực động lực, địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa có tiềm năng du lịch, phát triển sản phẩm du lịch và đào tạo nhân lực du lịch; chính sách phát triển du lịch tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên;

    Thứ hai: Bổ sung, hoàn thiện và ban hành chính sách tạo điều kiện thuận lợi tối đa, đơn giản hóa thủ tục thị thực nhập cảnh và hoàn thuế giá trị gia tăng cho khách du lịch quốc tế đến Việt Nam; h oàn thiện cơ chế quản lý và sử dụng hiệu quả Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch;

    Thứ ba: Ban hành cơ chế, chính sách ưu tiên cho đầu tư phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật ngành d u lịch ; khuyến khích các nhà đầu tư chiến lược và các tập đoàn đa quốc gia về du lịch chuyên nghiệp hàng đầu thế giới đầu tư hình thành các khách sạn, khu nghỉ dưỡng, khu dịch vụ du lịch phức hợp , các trung tâm mua sắm, giải trí chất lượng cao, đẳng cấp quốc tế tại các khu vực động lực và địa bàn trọng điểm.

    Thứ tư: Dành nguồn lực thích hợp từ ngân sách nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, nhất là tại các địa bàn trọng điểm, động lực và khu vực còn khó khăn nhưng có tiềm năng du lịch ; nâng cao khả năng kết nối giao thông tới các khu, điểm du lịch, kiểm soát chất lượng dịch vụ và đảm bảo an toàn giao thông cho khách du lịch ; đ ầu tư các điểm dừng, nghỉ trên các tuyến du lịch đường bộ.

    Thứ năm: Đ ẩy mạnh thực hiện chính sách “mở cửa bầu trời”, tạo điều kiện cho các hãng hàng không mở các đường bay mới kết nối Việt Nam với thị trường nguồn, tăng cường tần suất các đường bay hiện có; giải quyết các điểm nghẽn và tình trạng quá tải tại các cảng hàng không , xây dựng sân bay mới, hiện đại tại một số địa bàn trọng điểm; t ập trung đầu tư một số cảng biển và cảng thủy nội địa chuyên dụng tại các địa bàn có điều kiện thuận lợi phát triển du lịch đường biển và đường sông ; c ải thiện hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt phục vụ khách du lịch;

    Thứ sáu: Ưu tiên ngân sách nhà nước và có cơ chế thích hợp huy động nguồn vốn từ xã hội để đầu tư cho công tác xây dựng quy hoạch du lịch, đào tạo nguồn nhân lực du lịch , xúc tiến, quảng bá du lịch, bảo vệ tài nguyên và môi trường, bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa lịch sử, lễ hội dân gian , làng nghề truyền thống phục vụ du lịch và phát triển du lịch cộng đồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Điểm Du Lịch Mùa Hè Ở Việt Nam Không Thể Bỏ Qua
  • 4 Điểm Du Lịch Lãng Mạn Ở Mỹ Bạn Đã Đến Chưa?
  • ‘đi Trốn’ Cùng Người Yêu Dịp Valentine Với 10 Địa Điểm Du Lịch Lãng Mạn Nhất Việt Nam
  • Du Học Ngành Du Lịch Khách Sạn Ở Pháp
  • Những Trải Nghiệm Du Lịch Mạo Hiểm Ở Việt Nam Không Dành Cho Người Yếu Tim
  • Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Việt Nam: Một Số Gợi Ý Chính Sách

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Hiểm Du Lịch Nước Ngoài Là Gì, Phi Như Thế Nào
  • Chi Phí Đi Nha Trang: 2 Người, 3
  • Bảng Giá Dịch Vụ Xin Visa Trung Quốc
  • Tất Tần Tật Bí Kíp Và Quy Trình Xin Visa Trung Quốc Đầy Đủ Từ A
  • Phí Làm Visa Đi Hàn Quốc Bao Nhiêu Tiền?
  • Việt Nam là một trong những quốc gia có hệ thống sản phẩm du lịch khá đa dạng và có nhiều điểm mạnh. Nguồn: Internet.

    Thực tế phát triển du lịch giai đoạn 2005-2015

    Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn 10 năm (2005-2015), các chuyên gia cho rằng, Việt Nam là một trong những quốc gia có hệ thống sản phẩm du lịch khá đa dạng và có nhiều điểm mạnh: Đa dạng về sản phẩm tại điểm đến (du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch mạo hiểm, du lịch thành phố…); giàu giá trị truyền thống văn hóa với hệ thống di sản, di tích, lễ hội đặc sắc; có thế mạnh nổi trội đối với sự phát triển các sản phẩm du lịch biển đảo; giàu giá trị lịch sử văn hóa, gắn liền với các địa danh nổi tiếng và kỳ tích lịch sử qua các thời kỳ; chất lượng dịch vụ, cơ sở lưu trú du lịch ngày càng được nâng cao; giá cả hợp lý; thị trường du lịch nội địa ổn định, tạo cơ sở vững chắc cho việc phát triển du lịch bền vững; có thế mạnh trong việc liên kết phát triển các sản phẩm du lịch nội vùng và liên vùng…

    Bên cạnh những điểm mạnh, sản phẩm du lịch của Việt Nam vẫn còn khá nhiều tồn tại như: Sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, đơn điệu và trùng lặp, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa được thống kê, đánh giá để quản lý khai thác một cách bền vững, hiệu quả; Sự hạn chế, yếu kém trong nghiên cứu sản phẩm du lịch cả ở tầm vĩ mô và ở cấp doanh nghiệp; Chưa có được những sản phẩm du lịch chủ lực đặc thù mang đậm bản sắc dân tộc, phù hợp cho từng phân khúc thị trường khách du lịch…

    Trong xu thế phát triển du lịch chung, du lịch Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen. Diễn biến kinh tế, chính trị, an ninh thế giới có tác động mạnh hơn, khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu và toàn diện.

    Sự tham gia của du lịch Việt Nam trong hoạt động của các tổ chức, cơ chế khu vực và quốc tế như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Diễn đàn hợp tác Á – Âu, Tổ chức Du lịch Thế giới, Hiệp hội Du lịch châu Á – Thái Bình Dương, Sáng kiến Hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng, Hành lang kinh tế Đông – Tây… ngày càng trở nên tích cực và hiệu quả hơn.

    Đây là cơ hội rất tốt để Việt Nam tiếp cận các thị trường du lịch quốc tế, tiếp nhận những cơ chế đào tạo nguồn nhân lực du lịch, từ đó đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Quan hệ ngoại giao tích cực của Việt Nam với thế giới cũng đang mở ra cơ hội thu hút đầu tư vốn và cộng nghệ vào Việt Nam nói chung và đầu tư du lịch nói riêng…

    Bên cạnh những cơ hội kể trên, du lịch của Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình hội nhập du lịch toàn cầu như: Ứng phó với khủng khoảng kinh tế, bất ổn an ninh, chính trị trên bình diện quốc tế; Sức ép cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, đòi hỏi sự nhạy bén, nắm bắt kịp thời và chính xác những xu hướng của du lịch thế giới…

    Những thách thức trên đòi hỏi Việt Nam phải đầu tư nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm du lịch với lợi thế quốc gia và sự độc đáo của văn hóa dân tộc, để khẳng định mình trong quá trình hội nhập du lịch quốc tế và cạnh tranh toàn cầu.

    Nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm du lịch Việt Nam

    Chiến lược Phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 xác định, đối với những giải pháp phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam trong điều kiện hội nhập, cần ưu tiên phát triển mạnh các sản phẩm du lịch theo ưu thế nổi trội về tài nguyên tự nhiên và văn hóa; mở rộng các loại hình du lịch mới như: Du thuyền, caravan, du lịch kết hợp (MICE), du lịch giáo dục, du lịch dưỡng bệnh, du lịch làm đẹp, du lịch ẩm thực; Liên kết tạo sản phẩm du lịch vùng, liên kết theo loại hình chuyên đề, liên kết khu vực gắn với các hành lang kinh tế, liên kết ngành hàng không, đường sắt, tàu biển tạo sản phẩm đa dạng; Phát triển sản phẩm du lịch theo đặc trưng 7 vùng lãnh thổ, bao gồm:

    – Vùng trung du, miền núi Bắc Bộ: Du lịch văn hóa, sinh thái gắn với tìm hiểu bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số.

    – Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc: Du lịch danh lam thắng cảnh biển, du lịch văn hóa, du lịch đô thị.

    – Vùng Bắc Trung bộ: Tham quan tìm hiểu các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – lịch sử và du lịch đường biên.

    – Vùng duyên hải Nam Trung bộ: Du lịch nghỉ dưỡng biển đảo, tìm hiểu các di sản văn hóa thế giới, văn hóa biển và ẩm thực biển.

    – Vùng Tây Nguyên: Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa.

    – Vùng Đông Nam bộ: Du lịch đô thị, du lịch MICE, du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng và sinh thái biển, đảo.

    – Vùng đồng bằng sông Cửu Long: Du lịch sinh thái, khai thác các giá trị văn hóa sông nước miệt vườn, nghỉ dưỡng và sinh thái biển, đảo, du lịch MICE.

    Ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch nghĩ dưỡng cao cấp, hướng tới thu hút khách chi trả cao và lưu trú dài ngày; Đa dạng hóa sản phẩm và loại hình du lịch để phù hợp với từng phân khúc thị trường khác nhau; Phát huy các thế mạnh liên vùng, tạo dựng các liên kết trong phát triển sản phẩm; từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

    Theo nhận định của Tổ chức Du lịch Thế giới, năm 2022 và những năm tiếp theo, du lịch vẫn là Ngành Việt Nam cần chú trọng phát triển. Xu thế dòng khách quốc tế sẽ tiếp tục chuyển dịch đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Đây sẽ là cơ hội để Du lịch Việt Nam bứt phá ngoạn mục, xây dựng hình ảnh, thương hiệu du lịch quốc gia, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và dịch vụ.

    Để làm được điều đó, ngành Du lịch cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau: Ngăn chặn, xử lý kiên quyết, tập trung giải quyết căn bản các vấn nạn, tiến tới chấm dứt một loạt hình ảnh xấu của môi trường du lịch; Huy động tổng hợp nguồn lực và đẩy mạnh hơn nữa công tác quảng bá, xúc tiến du lịch theo hướng chuyên nghiệp; Thay đổi cách thức xây dựng sản phẩm du lịch, để tạo ra các sản phẩm có chất lượng, giàu bản sắc, có sức cạnh tranh cao…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngành Du Lịch Yên Bái Đang Được Đánh Thức
  • Phát Triển Du Lịch Y Tế Việt Nam Như Thế Nào Ở Thời 4.0?
  • Phát Triển Du Lịch Y Tế: Không Dừng Lại Ở Tiềm Năng
  • Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Thành Phố Vũng Tàu Nổ Lực Trong Việc Phát Triển Du Lịch Chất Lượng Cao
  • Chính Sách Phát Triển Du Lịch Nhật Bản Và Những Bài Học Cho Xây Dựng Chính Sách Phát Triển Du Lịch Việt Nam – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhu Cầu Của Khách Du Lịch Và Những Đặc Trưng Của Nó
  • 【Tokyo】 Top 10 Điểm Tham Quan Có Phong Cảnh Hùng Vĩ Ở Khu Vực Phía Tây Tokyo (Tama – Okutama)
  • Những Địa Điểm Tham Quan Đẹp Ở Kyoto
  • 15 Địa Điểm Check In Miễn Phí Ở Đà Nẵng Không Phải Ai Cũng Biết!
  • 10 Địa Điểm Du Lịch Đà Nẵng Miễn Phí Và Cực Kỳ Thú Vị
  •    Khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt kỷ lục 28,7 triệu lượt năm 2022, tăng 19% so với năm trước và đang dần tiến tới mục tiêu của chính phủ Nhật là đón 40 triệu lượt khách du lịch quốc tế đến năm 2022.

    Lượng khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản giai đoạn 1964-2016

    Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản năm 2022

       Khách du lịch đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Kông chiếm 70% tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản. Số lượng khách du lịch Trung Quốc tăng 15% đạt 7,35 triệu, Hàn Quốc tăng 40% đạt 7,14 triệu lượt[3]. Tuy nhiên, trong quá khứ, lượng khách du lịch từ 2 quốc gia này đột ngột giảm khi mối quan hệ giữa Nhật Bản và 2 nước này bị ảnh hưởng từ các vấn đề chính trị. Vì vậy, để tránh việc phụ thuộc vào 2 thị trường lớn và nhạy cảm với chính trị này, Chính phủ Nhật Bản tập trung vào các thị trường như các quốc gia khác ở Châu Á, Mỹ, Châu Úc, Châu Âu.

    Chiến lược phát triển Du lịch Mới của Nhật Bản nhằm thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản (tháng 3/2016)

       Chiến lược đặt mục tiêu: “Ngành công nghiệp du lịch đẳng cấp thế giới!” Nhật Bản sẵn sàng đón khách du lịch quốc tế trên toàn quốc gia. Chính phủ mong muốn khuyến khích sự giao lưu văn hóa đa quốc gia để Nhật Bản có thể thực sự mở cửa với thế giới, nhanh chóng phát triển dịch vụ mới và các sáng kiến trong lĩnh vực du lịch để từ đó hình thành động lực cho phát triển kinh tế và công nghiệp của các vùng.

       Mục tiêu cụ thể:

       – Lượng khách du lịch quốc tế đến đạt 40 triệu người năm 2022, 60 triệu người năm 2030 (Mục tiêu cũ: 20 triệu năm 2022 và 30 triệu năm 2030)

       – Chi tiêu của khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt 8.000 tỷ Yên năm 2022, 15.000 tỷ Yên năm 2030 (Mục tiêu cũ: 4.000 tỷ Yên trong năm đầu tiên có 20 triệu khách QT)

       – Số đêm khách quốc tế nghỉ ngoài 3 khu đô thị chính đạt 70 triệu đêm/2020 và 130 triệu đêm/2030.

       – Lượng khách du lịch quốc tế quay lại Nhật đạt 24 triệu năm 2022 và 36 triệu năm 2030.

       – Chi tiêu của khách du lịch nội địa cho du lịch đạt 21.000 tỷ Yên năm 2022 và 22.000 tỷ Yên năm 2030.

       Để đạt được các mục tiêu đề ra và khắc phục vấn đề hiện tại, chiến lược đưa ra 3 tầm nhìn và 10 vấn đề cần cải cách:

       – Tầm nhìn 1: Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng.

       + Thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế vào tham quan các điểm di sản công

       + Điều chỉnh sự cân bằng trong chính sách di sản từ “chỉ tập trung vào công tác bảo tồn” sang khuyến khích khách du lịch tìm hiểu nhiều hơn về điểm di sản (sử dụng tài sản văn hóa là cốt lõi cho 200 trung tâm du lịch; hình thành khoảng 1.000 dự án xây dựng hướng dẫn thông tin dễ hiểu cho du khách đa ngôn ngữ).

       + Nâng cấp các vườn quốc hiện tại thành các vườn quốc gia đẳng cấp thế giới (mục tiêu 5 vườn quốc gia của Nhật Bản).

       + Xây dựng các kế hoạch cải tạo cảnh quan cho các khu vực du lịch chính.

       – Tầm nhìn 2: Tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo trong du lịch để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế và đưa du lịch thành một trong những ngành công nghiệp chính.

              + Rà soát các quy định và quy tắc để ngành du lịch đạt hiệu quả cao hơn.

              + Tập trung phát triển các thị trường mới, thời gian lưu trú dài ngày hơn (thị trường Châu Âu, Mỹ, Úc; thị trường khách MICE).

              + Cải tạo và nâng cấp các khu resort nước suối khoáng nóng và các khu thị trấn địa phương thông qua cải cách phương án quản lý (xây dựng các mô hình DMOs đẳng cấp thế giới).

    – Tầm nhìn 3: Đảm bảo tất cả du khách có trải nghiệm thoải mái, thỏa mãn và stress-free.

       + Nâng cấp toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng cứng và mềm đề khách du lịch có thể hưởng thụ môi trường cơ sở lưu trú tốt nhất trên thế giới.

       + Hoàn thành việc xây dựng “hành lang khôi phục cấp vùng” để khách du lịch có thể di chuyển một cách thoải mái tới tất cả các điểm đến trên nước Nhật (khách du lịch quốc tế được mua Thẻ đi tàu toàn quốc khi tới Nhật, nâng cấp các tuyến tàu cao tốc Shinkansen, xây mới các sân bay nội địa).

       + Hoàn thiện hệ thống “ngày làm việc” và “ngày nghỉ” tạo điều kiện cho người dân Nhật có kỳ nghỉ dài để đi du lịch.

       Để thực hiện các tầm nhìn và giải pháp trên, mỗi tầm nhìn sẽ có 8 đến 10 Dự án chính để có thể triển khai Chiến lược đạt mục tiêu đề ra. Các Dự án chính được thực hiện bởi nhiều dự án nhỏ với thời gian, địa điểm và quy mô dự án cụ thể được đưa ra.

       Ví dụ: với Tầm nhìn 1 – Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng, hành động cần làm là Thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế vào tham quan các điểm di sản công.

       Dự án cần thực hiện sẽ là: Các điểm di sản nổi bật về giá trị lịch sử và truyền thống của Chính phủ sẽ được mở cửa cho tất cả các đối tượng du khách, như Nhà khách chính phủ ở Kyoto, Nhà khách Chính phủ ở Akasaka.

       Các dự án nhỏ: 1) Mở cửa tự do cả năm vào thăm Nhà khách Chính phủ ở Akasaka, bắt đầu từ 19/4/2016, trừ khi nơi này được sử dụng cho các sự kiện của chính phủ; 2) Mở cửa thử nghiệm từ ngày 28/4 đến 9/5 cho Nhà khách chính phủ ở Kyoto, dựa vào đó, mở cửa quanh năm muộn nhất vào cuối tháng 7/2016; 3) Việc mở cửa tự do cho các điểm của chính phủ khác sẽ được cân nhắc nếu có giá trị khai thác cho du lịch.

       Một số chính sách cụ thể hỗ trợ phát triển du lịch của Chính phủ Nhật Bản thời gian qua

       – Coi du lịch là động lực để phát triển cho các khu vực phụ cận vào nông thôn (không phải là các trung tâm đô thị chính);

       – Năm 2013, thực hiện thỏa thuận “Bầu trời mở”, cho phép tăng chuyến bay tới các sân bay quốc tế;

       – Năm 2014, miễn thị thực cho công dân của Thái Lan và Malaysia. Năm 2022, đơn giản hóa thủ tục xin visa cho công dân Trung Quốc, theo đó, người Trung Quốc với mức thu nhập trên mức quy định có thể có visa 5 năm vào Nhật Bản;

       – Hạ giá trị đồng Yên xuống 30% so với đồng Đô la Mỹ trong giai đoạn 2012-2015

       Bài học kinh nghiệm cho du lịch Việt Nam

       – Xây dựng chiến lược với tầm nhìn, giải pháp, kế hoạch thực hiện nhất quán, đồng bộ để đạt được mục tiêu chung đề ra.

       – Các giải pháp/hành động cụ thể, rõ ràng, với hoạt động cụ thể, thực hiện được, xác định được thời gian.

       – Các chính sách phát triển được thực hiện đồng bộ, sự kết hợp liên ngành thể hiện rõ ràng trong từng chính sách, trong đó đặt phát triển du lịch là trọng tâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đối Thủ Cạnh Tranh Của Du Lịch
  • “Giấy Bảo Hành” Cho Môi Trường Du Lịch
  • Kích Cầu Du Lịch Bằng Âm Nhạc
  • Bạn Có Chắc Phân Biệt Được Khách Sạn, Nhà Nghỉ, Homestay & Resort?
  • Phân Biệt Nhà Nghỉ Du Lịch & Nhà Nghỉ Bình Dân Có Gì Khác Nhau
  • Hội Thảo Bàn Về Chính Sách Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phú Quốc Đẩy Mạnh Phát Triển Du Lịch Biển
  • Phú Quốc Phát Triển Du Lịch Gắn Với Bảo Vệ Môi Trường Biển
  • Từng Bước Khẳng Định Thương Hiệu Du Lịch Quảng Bình
  • Liên Kết, Hợp Tác Phát Triển Du Lịch “quảng Bình
  • Chặng Đường Phát Triển Du Lịch Quảng Nam
  • (TITC) – Sáng ngày 3/8/2018, tại Mai Châu, Hòa Bình, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (Tổng cục Du lịch) đã chủ trì tổ chức hội thảo “Chính sách phát triển du lịch cộng đồng và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam”.

    Tham dự hội thảo có ông Từ Mạnh Lương – Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ VHTTDL; ông Nguyễn Anh Tuấn – Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển du lịch; bà Nguyễn Thanh Bình – Phó Vụ trưởng Vụ Khách sạn, Tổng cục Du lịch cùng hơn 50 đại biểu là các nhà khoa học, giảng viên các trường du lịch, đại diện các Sở VHTTDL, các doanh nghiệp, các hộ gia đình kinh doanh du lịch cộng đồng và các cơ quan thông tấn báo chí.

    Phát biểu tại hội thảo ông Từ Mạnh Lương – Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ VHTTDL nhấn mạnh du lịch cộng động hiện nay là loại hình du lịch hấp dẫn phát triển mạnh trên toàn cầu và mang lại nhiều lợi ích cho cộng động địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo.

    Những năm gần đây tại Việt Nam, du lịch cộng đồng đang phát triển ở nhiều địa phương như: Hòa Bình, Lào Cai, Quảng Nam… tuy nhiên nhìn chung so với tiềm năng, thế mạnh về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, việc phát triển du lịch cộng đồng chưa tương xứng, có nhiều nơi còn tự phát, thiếu chuyên nghiệp, sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quá trình tổ chức du lịch cộng đồng còn thụ động, chính quyền chưa tạo được chính sách để người dân được hưởng lợi chính đáng từ những hoạt động du lịch cộng đồng của mình.

    Ông Lương mong muốn hội thảo là diễn đàn cho các nhà quản lý, chính quyền địa phương, các chuyên gia, các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh du lịch bàn thảo, chia sẻ kinh nghiệm về 2 vấn đề: (1) Đánh giá đúng thực trạng phát triển du lịch cộng đồng trên cả nước và ở từng vùng, địa phương, chỉ ra những tồn tại hạn chế và đề xuất các chính sách, giải pháp phù hợp để đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng; (2) Tập trung vào vấn đề đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho cộng đồng, từ đó đưa ra đề xuất kiến nghị với cơ quan quản lý ở nhà nước và chính quyền địa phương để xây dựng những chính sách giải pháp hỗ trợ phù hợp cho công tác đào tạo nguồn nhân lực.

    Theo ông Nguyễn Anh Tuấn – Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, trong những năm qua du lịch cộng đồng có sự phát triển nhanh, có nhiều đột phá trong thu hút khách du lịch cũng như xây dựng các sản phẩm du lịch mới, không chỉ đóng góp trực tiếp vào việc định hướng phát triển bền vững, bảo tồn và phát huy các giá trị tự nhiên, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của từng cộng đồng địa phương, mà còn nâng cao đời sống cho người dân địa phương. Tuy nhiên du lịch cộng đồng cũng bộc lộ những hạn chế như: bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa bản địa trong điều kiện khai thác phục vụ du lịch vẫn còn hạn chế; nhiều sản phẩm du lịch cộng đồng mang tính đại trà, ít có điểm nhấn thể hiện bản sắc độc đáo của cộng đồng địa phương; điều kiện vệ sinh môi trường ở nhiều điểm du lịch cộng đồng chưa thực sự đảm bảo để đáp ứng phục vụ khách du lịch; vấn đề phân phối, chia sẻ lợi ích từ hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch tại các điểm du lịch cộng đồng còn nhiều bất cập; nhân lực cho phát triển du lịch cộng đồng hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu.

    Tại hội thảo các chuyên gia du lịch cũng đã nêu lên nhiều giải pháp và chia sẻ các kinh nghiệm về du lịch cộng đồng. TS. Đoàn Mạnh Cương (Vụ Đào tạo, Bộ VHTTDL) đã nêu lên giải pháp phát triển du lịch cộng đồng nhằm xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững. Để làm được điều này cần phải có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp du lịch, doanh nghiệp lữ hành lựa chọn sản phẩm do người dân địa phương làm ra. Cộng đồng phải được chia sẻ lợi ích từ việc phát triển du lịch. Tại mỗi địa phương cần xây dựng phương án lựa chọn loại hình sản phẩm để làm định hướng phát triển du lịch cộng đồng. Chính quyền địa phương giúp đỡ hướng dẫn các xóm, bản tổ chức đón tiếp, ứng xử văn minh với khách du lịch; bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn vệ sinh môi trường.

    Bà Nguyễn Thanh Bình – Phó Vụ trưởng Vụ Khách sạn, Tổng cục Du lịch đã gợi ý giải pháp định hướng phát triển loại hình du lịch cộng đồng Vùng Tây Bắc theo tiêu chuẩn chung của cộng đồng các nước ASEAN. Tại Việt Nam có 3 điểm du lịch cộng đồng đã được trao giải thưởng Du lịch cộng đồng ASEAN là điểm du lịch cộng đồng xóm Pom Coọng, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, Hòa Bình; điểm du lịch Thanh Toàn, xã Thanh Thủy, huyện Hương Thủy, Thừa Thiên – Huế; điểm du lịch cộng đồng làng Triêm Tây, huyện Điện Bàn, Quảng Nam.

    Trao đổi tại hội thảo, TS. Nguyễn Tư Lương – Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội đã đưa ra các vấn đề về công tác đào tạo nhân lực địa phương để phát triển du lịch cộng đồng. Việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển du lịch cộng đồng được tiến hành với nhiều nội dung như: cung cấp các dịch vụ phục vụ khách du lịch; vấn đề đảm bảo an ninh và an toàn cho khách; giới thiệu các điểm đến, phương thức giao tiếp, ứng xử với khách du lịch…

    Ông Lưu Huy Linh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL Hòa Bình chia sẻ, huyện Mai Châu là địa phương đầu tiên phát triển du lịch cộng đồng từ những năm 1990 và đến nay huyện đã có 7 điểm hoạt động và phát triển du lịch cộng đồng điển hình. Tỉnh Hòa Bình cũng đã xây dựng quy hoạch các điểm du lịch cộng đồng, đẩy mạnh công tác bảo tồn văn hóa bản địa, kêu gọi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hướng dẫn người dân bảo đảm vệ sinh môi trường nhằm thu hút ngày càng nhiều khách du lịch đến với Hòa Bình.

    Tại hội thảo, đại diện các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng cũng đã nêu lên những hạn chế, khó khăn trong việc kinh doanh phát triển du lịch cộng đồng ngay tại địa phương mình như: người dân khó tiếp cận với các nguồn vốn vay ưu đãi để đầu tư phát triển, cơ chế chính sách phát triển chưa đồng bộ, người dân còn thiếu kiến thức và năng lực để quảng bá sản phẩm du lịch của mình…

    Phát biểu kết luận hội thảo, ông Nguyễn Anh Tuấn – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch nhận định rằng du lịch cộng đồng đang là xu thế phát triển tất yếu, nhưng chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của các địa phương, còn thiếu cơ chế, chính sách cho phát triển du lịch cộng đồng. Do đó Nhà nước cần xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể về chiến lược, quy hoạch du lịch cộng đồng, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng. Bên cạnh đó cần có các giải pháp đào tạo nguồn nhân lực để phát triển du lịch cộng đồng mạnh hơn, đồng thời vẫn giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi địa phương. Qua đó, tạo sức bật cho du lịch cộng đồng phát triển, góp phần vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và tạo điều kiện xóa đói giảm nghèo cho người dân ở nhiều vùng còn khó khăn.

    Nguồn: http://vietnamtourism.gov.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chính Sách Phát Triển Vùng Ảnh Hưởng Như Nào Đến Vinpearl Nam Hội An?
  • Đưa Chính Sách Phát Triển Du Lịch Vào Cuộc Sống
  • Hội An Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Thái Lan Điều Chỉnh Chính Sách Phát Triển Du Lịch
  • Bài Học Kinh Nghiệm Tổ Chức Quản Lý Phát Triển Du Lịch Của Một Số Nước
  • Chính Sách Phát Triển Du Lịch Thái Lan Và Bài Học Cho Việt Nam Ra Sao ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Mỹ Tho Bến Tre
  • Chi Tiết Khu Du Lịch Suối Mơ Đà Nẵng, Giá Vé, Ăn Gì, Chơi Gì?
  • Tour Du Lịch Nha Trang Đi Từ Hà Nội Giá Rẻ
  • Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Từ Hà Nội Đến Nha Trang Với Giá Siêu Tiết Kiệm
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Mũi Né 2022 Cập Nhật Siêu Đầy Đủ
  • Theo Samthienha.com Hà Văn Hội thì Chính Sách Phát Triển Du Lịch của Thái Lan, đã mang tới một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ra sao ? Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng, đã trở thành một ngành dịch vụ quan trọng, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong GDP của mỗi quốc gia. Đây là hoạt động kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận có triển vọng phát triển trong xã hội hiện đại, và được coi là một ngành ” công nghiệp không khói” là ngành ” dịch vụ xuất khẩu tại chỗ”.

    Thái Lan là một quốc gia có ngành du lịch phát triển. Với lợi thế và tiềm năng sẵn có, Thái Lan đã rất chú trọng đầu tư và phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế. Nghiên cứu, tìm hiểu chính sách phát triển du lịch quốc tế của Thái Lan sẽ mang lại bài học kinh nghiệm bổ ích, thúc đẩy phát triển dịch vụ du lịch của Việt Nam trong thời gian tới.

    I. Sơ lược về ngành du lịch Thái Lan trong những năm gần đây

    Thái Lan là khởi nguồn của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, nhưng chỉ vài năm sau, vào đầu thập niên 2000, ngành công nghiệp du lịch Thái Lan đã gượng dậy nhanh chóng, so với nhiều nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Nguồn thu từ du lịch chiếm 6% tổng sản phẩm quốc nội của Thái Lan, với khoảng 7 triệu lượt khách/năm thì doanh thu 7 tỷ USD, đem lại nguồn ngoại tệ không nhỏ cho Thái Lan hàng năm, và là chỗ dựa cứu nguy thời khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 – 1998.

    Năm 2002, việc thành lập Bộ Du Lịch Thông Tin Thái Lan, đã có tác dụng góp phần đẩy mạnh hơn nữa ngành ” công nghiệp không khói” này. Năm 2006, Thái Lan đón 13.811.802 lượt khách quốc tế, tăng 20% so với năm 2005. Với đà tăng trưởng của nền kinh tế từ năm 2006, Thái Lan đã đạt mục tiêu đón 14,93 triệu lượt khách quốc tế năm 2007, tăng 8% so với năm 2006 và đã mang lại 1,6 tỷ USD.

    Đứng đầu nhóm khách nước ngoài đến Thái Lan trong năm 2007 là người Nhật Bản ( một triệu lượt khách ), Hàn Quốc ( 760.000 lượt khách ), và Trung Quốc ( 705.000 lượt khách). Mặc dù, du lịch Thái Lan luôn tăng trưởng, nhưng Chính quyền Thái Lan không ngừng cải tiến ngành du lịch. Vì vậy, bất chấp trận sóng thần vào cuối năm 2004, cúm gia cầm, đảo chính năm 2006 và cuộc nổi dậy của phe Hồi giáo ly khai chiến bạo lực gia tăng tại miền Nam Thái Lan, lượng khách du lịch thế giới vẫn đổ về Thái Lan. Trong đó, đảo Phuket nổi tiếng với những bãi biển tuyệt đẹp, lý tưởng cho những môn thể thao dưới nước hàng đầu châu Á, với hơn 5 triệu lượt du khách đến thăm mỗi năm.

    Ngành du lịch Thái Lan vốn tự hào với danh xưng “đất nước nụ cười” và nụ cười của người Thái Lan để lại ấn tượng khó phai mờ trong du khách. Nếu năm 1998, lượng khách tới Thái Lan là 7,76 triệu lượt người với tổng doanh thu gần 250 tỷ baht ( 6 tỷ USD tính theo tỷ giá trung bình ) thì 10 năm sau, năm 2008, con số này đã tăng gấp hai lần, tới 14,5 triệu lượt người với doanh thu 540 tỷ baht ( 16,38 tỷ USD ).

    Tuy từ nửa cuối năm 2008, tới nửa đầu năm 2009, những biến động chính trị cũng như những tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu … làm lượng khách du lịch cũng như doanh thu từ du lịch của nước này sụt giảm, nhưng du lịch Thái Lan vẫn được coi là điểm đến của du khách du lịch quốc tế. Trong năm 2009, lượt khách du lịch Lào đến Thái Lan đạt 639,692 tăng 2,92% so với năm 2008.

    II. Một số biện pháp thu hút khách quốc tế, đẩy mạnh phát triển du lịch

    Đạt được những thành công như đã nêu trên là do Chính Phủ Thái Lan đã rất chú trọng phát triển ngành du lịch. Đặc biệt, chính phủ Thái Lan rất coi trọng việc thu hút khách du lịch quốc tế, bởi đây là một phương thức xuất khẩu dịch vụ có hiệu quả cao. Trong 4 phương thức xuất khẩu dịch vụ theo phân loại của GATS, du lịch Thái Lan chủ yếu thực hiện theo phương thức 2: “tiêu dùng dịch vụ ngoài lãnh thổ”, tức là cung cấp dịch vụ du lịch cho khách nước ngoài đến Thái Lan, cộng với hình thức xuất khẩu tại chỗ các mặt hàng lưu niệm cho khách du lịch quốc tế. Để tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế, chính phủ Thái Lan đã thực thi nhiều chính sách cụ thể:

    – Thứ nhất, coi trọng xây dựng chiến lược, kế hoạch và các chính sách thúc đẩy phát triển du lịch

    Chính phủ Thái Lan nhận thức rằng, muốn đưa du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu, thì phải đặt nó trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia. Chiến lược ưu tiên phát triển du lịch này phải thông qua một hệ thống cơ chế chính sách đồng bộ, nhằm huy động mọi nguồn lực để thực hiện, đưa du lịch phát triển với tốc độ cao và vững chắc.

    Hệ thống cơ chế chính sách phải xuất phát từ những đặc trưng của du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao, mang tính toàn cầu hóa, khu vực hóa. Du lịch càng phát triển thì tính chất xã hội hóa của nó càng cao, sự liên ngành và phạm vi hoạt động của nó càng rộng rãi. Ngoài ra, cơ chế và các chính sách phát triển du lịch phải thích ứng với điều kiện lịch sử, tận dụng được thời cơ và vận hội ở từng thời điểm.

    Những chính sách và chương trình phát triển du lịch của Thái Lan được thể hiện trong chiến lược phát triển du lịch hằng năm của Chính phủ. Vào cuối tháng 9/2010, Tổng Cục Du Lịch Thái Lan ( gọi tắt là TAT ) đã công bố chiến lược phát triển du lịch Thái Lan năm 2011. Khẩu hiệu ” Amazing ThaiLand” vốn đã mang lại thành công lớn cho ngành du lịch Thái Lan, vẫn được sử dụng.

    Tuy nhiên, lần này khẩu hiệu được chú ý hơn nữa với khẩu hiệu đi kèm ” Alway Amazes You” ( có nghĩa là Luôn Luôn Mang Đến Sự Bất Ngờ ). Với khẩu hiệu này, TAT cam kết sẽ củng cố, khẳng định thêm những diện mạo của ” THAINESS” ( còn gọi là những điều tạo nên chất “Thái” đã được đông đảo du khách trên thế giới bình chọn.

    Trong năm 2011, đối tượng du lịch mà TAT nhắm đến là tầng lớp thanh niên, nên qua những chiến lược marketing trên các kênh Video Amazing ThaiLand, trên Youtube, hoặc sử dụng sách điện tử và tờ rơi mạng cùng ứng dụng IThai để cập nhật du lịch trên Iphone, ngành du lịch Thái Lan đã thành công trong việc xây dựng mạng lưới thành viên ” ThaiLand Fanclub” ở thị trường Châu Âu và Trung Đông, và đang tiếp tục lan rộng ở châu Á.

    Chiến lược Amazing ThaiLand, luôn luôn mang đến sự bất ngờ, sẽ tập trung vào các hoạt động riêng biệt vốn đã quen thuộc với du khách đến từ thị trường Châu Á như ” Thái Lan – Thiên Đường Mua Sắm“, TAT sẽ phối hợp với các trung tâm mua sắm cung cấp phiếu giảm giá cho các du khách và các công ty du lịch có tổ chức gói mua sắm.

    Ngoài ra, TAT còn thúc đẩy các hoạt động khác như gofl, du lịch xanh, …. Với thị trường du lịch nội địa, TAT còn lên kế hoạch lập ra những khóa ngắn hạn có giá trị, và hiểu biết cho người dân Thái Lan, về việc những đóng góp quan trọng của du lịch nội địa đối với nền kinh tế quốc dân. Giá trị cốt lõi mà TAT hướng tới là du lịch với nhận thức ( niềm tự hào ), du lịch bằng óc sáng tạo ( phát triển ý tưởng và tầm nhìn mới, cùng nhau đi du lịch để khuyến khích sự đoàn kết và tôn trọng sự đa dạng).

    Du lịch với sự hiểu biết ( thu thập kiến thức và sự hiểu biết ), và cuối cùng là du lịch bằng cả trái tim ( cảm nhận sự yêu thương và lưu giữ từng khoảnh khắc đã trải qua ). Điều này cho thấy, chính phủ Thái Lan có cả một ngành công nghiệp du lịch với chiến lược rõ ràng, với những hoạt động quảng bá mang tính chuyên nghiệp rất cao, và họ hiểu rõ phương châm “muốn thu hoạch phải đầu tư”.

    – Thứ hai, tăng cường đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng du lịch

    *** Đầu tư quy hoạch và phát triển đường giao thông

    Đường giao thông của Thái Lan đều được quy hoạch có hệ thống và rất hiện đại. Do vậy, việc vận chuyển trong du lịch thường ít gặp khó khăn. Vì đường sá tốt, do đó tốc độ di chuyển của các phương tiện giao thông cao, và rút ngắn thời gian trên ô tô của du khách, nên chắc chắn du khách có nhiều thời gian hơn để thăm quan, để mua sắm và để tiêu tiền. Hơn nữa, do đường tốt nên khách du lịch không thấy mệt du đi quãng đường dài. Chính điều này, đã tạo điều kiện cho nhiều đối tượng khách du lịch có thể đến du lịch tại Thái Lan.

    Trong một chiến lược lâu dài, Thái Lan từ lâu đã tìm cách khai thác lợi thế địa lý của mình, như là một cửa ngõ vào khu vực sông Mê Kông, vị trí này sẽ được tăng cường mở rộng hơn nữa trong tương lai, như là mối liên kết giao thông vận tải. Việc nâng cấp đường giao thông khu vực sông Mê Kông, sân bay, bến cảng, cầu và đường thủy, tất cả các yếu tố quan trọng của phát triển kinh tế tổng thể, sẽ có lợi cho ngành du lịch bằng cách cho phép các công ty tư nhân cung cấp trọn gói bao gồm đường bay – cảng biển – du lịch – tàu hỏa đến một số địa điểm kỳ thú nhất trên thế giới.

    Hầu hết, những gói này đều gắn với chiến lược du lịch Thái Lan. Gói phát triển đầu tiên giai đoạn 2006 – 2022, được phát triển với sự trợ giúp của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á, để tiếp cận toàn diện và phối hợp nhằm phát triển du lịch, bao gồm cả việc ưu tiên thực hiện các dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông. Bên cạnh đó, lịch trình các chuyến bay giữa Thái Lan và các quốc gia khu vực Tiểu Vùng Sông Mê Kông mở rộng ( GMS ) theo số liệu tháng 9 năm 2010.

    Từ sân bay Suvarnabhumi sân bay quốc tế thứ hai của Bangkok, sẽ tiếp tục nâng cao vai trò thủ đô của Thái Lan như một trung tâm hàng không, và cửa ngõ quốc tế lớn trong khu vực. Đồng thời, chính phủ Thái Lan đang chú trọng nhiều vào phát triển Chiang Mai, thành một trung tâm hàng không phía Bắc, và Phuket là một trung tâm phía Nam. Nhiều sân bay lớn trong khu vực đang được nâng cấp đáng kể, và thu hút các hãng hàng không mới, đặc biệt là với mức chi phí thấp.

    Việc liên kết giao thông đường bộ, cũng như cải thiện như dịch vụ đường sắt giữa Thái Lan và Lào ( Nong Khai – Thanalaeng ) được khai thông hồi tháng 3 năm 2009. Việc kết nối trực tiếp này, sẽ tiếp tục đẩy mạnh thương mại và du lịch song phương, dễ dàng hơn cho khách du lịch quốc tế đến thăm hai nước. Song song với các biện pháp trên, TAT đã tổ chức cuộc họp bàn về sự hợp tác đầu tiên giữa tỉnh Vân Nam ( Trung Quốc ) , Luang Prabang, Bokeo, Louang Namtha, Chiang Mai, Chiang Rai tại Jinghong vào tháng 3 năm 2010.

    Tại đây, 6 bên đã ký một biên bản ghi nhớ, nhằm thúc đẩy việc liên kết du lịch và vận tải. Trong tháng 3 năm 2010, TAT và Hiệp Hội Du Lịch Chiang Mai, đã dẫn đầu một sự kiện có quy mô lớn có tên gọi là “Kunning-Bangkok Self-Driving Cars Delegation” của 130 thành viên đến thăm Jinghong và Côn Minh, và tổ chức hoạt động xúc tiến du lịch. Đồng thời, việc liên kết đường bộ với châu Á cũng được xúc tiến. Hai tuyến đường hiện đã hoàn tất và mở cửa lưu thông.

    *** Đầu tư mở rộng cơ sở lưu trú và vui chơi giải trí

    Trong xây dựng cơ sở vật chất chuyên ngành, ngoài việc chú trọng xây dựng khách sạn, Thái Lan đặc biệt chú ý đến xây dựng cơ sở vui chơi, giải trí, các khu du lịch và các quần thể du lịch ( vườn thú Safari – Công viên đại dương của Thái Lan, … ) để giữ khách lưu lại lâu hơn, tăng nguồn thu và tăng khả năng hấp dẫn khách đến nhiều lần. Các nguồn vốn để thực hiện chủ yếu là liên doanh với nước ngoài, vốn vay và huy động trong dân.

    Để đảm bảo cân đối trong xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, Thái Lan rất coi trọng công tác quy hoạch, gắn quy hoạch du lịch với quy hoạch kinh tế – xã hội của cả nước và của từng địa phương. Trên cơ sở quy hoạch kinh tế – xã hội chung, họ tiến hành quy hoạch từng vùng, trong quy hoạch từng vùng, từng khu vực thường là quy hoạch cả không gian ( mô hình ) và các dự án cụ thể. Từ đó, mới đề ra các chính sách để đầu tư ( đấu thầu, cho thuê trọn, cổ phần ). Do vậy, những khu công nghiệp mới, các thành phố đều gắn với các điểm du lịch, đảm bảo được tính đồng bộ trong quy hoạch xây dựng.

    Chính phủ Thái Lan, cũng rất mạnh dạn đầu tư các khoản tiền lớn vào việc trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, tận dụng địa hình nhiều đảo cùng các danh lam thắng cảnh khác, hoàn thành sân bay mới để mở rộng thêm nhiều đường bay từ các quốc gia khác, mặc dù sân bay quốc tế cũ của Thái Lan đã rất lớn và hiện đại. Bên cạnh đó, chính phủ Thái Lan còn có chính sách hỗ trợ phát triển những nhà hàng Thái, với những quy mô khác nhau ở khắp thế giới, với khoảng 7000 nhà hàng.

    Một chiến dịch như vậy, đã mang hương vị Thái Lan đến tận những người ít quan tâm tới đất nước này nhất, buộc họ phải chú ý và đi du lịch Thái Lan. Việc mở rộng các nhà hàng Thái trên khắp thế giới cũng góp phần xuất khẩu gạo thơm của Thái, các công nghệ chuyển giao và làm bùng nổ ngành du lịch của Thái.

    Chính phủ Thái Lan lập một công ty mới là Global THai Restaurant để quảng bá các nhà hàng Thái trên thế giới. Song song, với các chiến dịch ngắn hạn thiên về bề nổi như trên, Cục Xúc Tiến phối hợp với công ty CAD xuất bản ấn phẩm Tin Tức về nhà hàng Thái, và tổ chức hội thảo để giúp các nhà đầu tư Thái phát triển thương hiệu nhà hàng Thái ở nước ngoài.

    *** Đầu tư phát triển nguồn nhân lực du lịch

    Để có thể để lại ấn tượng tốt đẹp đối với khách du lịch quốc tế, bên cạnh yếu tố cơ sở hạ tầng du lịch, một trong yếu tố quan trọng đó là nguồn nhân lực du lịch. Trong đó, hướng dẫn viên du lịch là yếu tố rất quan trọng. Hướng dẫn viên du lịch là người quan trọng nhất, để đưa nền văn hóa của nước mình, giới thiệu cho các du khách quốc tế.

    Họ là đại diện của nước đón khách, do vậy khách có yêu quý đất nước họ đến hay không, có ấn tượng tốt và muốn quay trở lại hay không, thì công sức lớn là từ người hướng dẫn viên. Do vậy, Tổng Cục Du Lịch Thái Lan rất chú trọng đào tạo và hình thành một đội ngũ hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp.

    Ở Thái Lan, để được trở thành hướng dẫn viên chuyên nghiệp, được cấp thẻ phải học rất vất vả, và trải qua quá trình thi cử cũng rất khó khăn. Chính vì vậy, Thái Lan hiện có đội ngũ hướng dẫn viên rất “nhà nghề”. Đội ngũ hướng dẫn viên này rất biết cách chào mời, và dẫn khách đến nhưng nơi giải trí, những nơi bán hàng để làm giàu thêm cho những cơ sở kinh doanh đi kèm với du lịch ở đất nước mình.

    – Thứ ba, loại bỏ các phiền toái và lo lắng cho du khách trong chuyến du lịch

    An ninh du lịch và an toàn cá nhân, là mối quan tâm hàng đầu của du khách quốc tế. Mặc dù an ninh du lịch không bằng Singapore, nhưng cho đến hiện nay, cũng chưa có trường hợp nào khách du lịch quốc tế đến Thái Lan bị bắt cóc, tống tiền hay nguy hiểm đến tính mạng. Chính phủ Thái Lan cũng đã áp dụng, những biện pháp kiên quyết và triệt để nhằm không gây phiền toái đến khách quốc tế. Đó là tại các điểm tham quan không bao giờ có trường hợp khách bị chèo kéo, để sử dụng dịch vụ và ăn xin. Đây là một yếu tố khiến khách du lịch quốc tế hài lòng và đánh giá cao.

    Tư tưởng chỉ đạo hoạt động du lịch của Thái Lan là luôn tìm cách thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, về vật chất, tinh thần và tâm lý. Khẩu hiệu phục vụ khách hàng là gây ấn tượng tốt cho khách, ngay từ bước chân đầu tiên đến Thái lan, và làm cho khách hài lòng đến điểm cuối cùng. Với 80% số người nước ngoài vào Thái lan, chỉ cần ghi tên là xong, không phải cần nhiều thủ tục phiền hà. Do đó, dưới con mắt khách du lịch quốc tế, du lịch Thái Lan là điểm đến hấp dẫn và phù hợp với việc giải trí, thư giản.

    – Thứ tư, có chính sách giá dịch vụ hợp lý

    Để có được giá tour du lịch cho khách quốc tế rẻ như vậy, là do bất cứ chương trình tour nào các công ty du lịch Thái Lan cũng cài thêm các điểm mua sắm bắt buộc. Và chính tiền hoa hồng từ việc mua sắm của khách, là số tiền họ bù vào việc giá tour bán rẻ của họ. Du khách được đưa đến, các điểm thăm quan dù họ có mua sắm hay không, thì bên công ty du lịch đón khách vẫn được một khoản tiền nhất định.

    Giữa các nhà cung cấp dịch vụ đi kèm, du lịch và các công ty du lịch ở Thái Lan, có sự quan hệ chặt chẽ và cùng nhau tìm cách thu được thật nhiều tiền từ du khách quốc tế, mà vẫn làm du khách hài lòng. Lý do, làm du khách vẫn hài lòng khi mua sắm, là những điểm mua sắm này, họ luôn luôn có những màn trình diễn và có những dịch vụ đi kèm hấp dẫn, để làm thỏa mãn du khách, chứ không phải họ chỉ có bán hàng hóa không thôi.

    – Thứ năm, tăng cường marketing du lịch với sự tham gia của Chính Phủ

    Bên cạnh việc không ngừng áp dụng, nhiều biện pháp như : cải tiến thủ tục, giảm lệ phí visa, gia tăng các loại hình dịch vụ đặc sắc, xây dựng mạng lưới cửa hàng siêu thị đa dạng, mở nhiều điểm tham quan mới, bên cạnh việc trùng tu những thắng cảnh truyền thống, thì điều đáng ghi nhận là những chương trình tiếp thị tận gốc của chính phủ Thái Lan. Một nét nổi bật trong chính sách du lịch ở Thái Lan là Chính Phủ trực tiếp “xắn tay áo” làm tiếp thị du lịch.

    Các quan chức Thái Lan luôn đặt mục tiêu tìm kiếm khách hàng thường xuyên cho ngành du lịch nước nhà. Chẳng hạn, năm 2004, chính Phó Thủ Tướng Thái Lan ông Somkid Jatusripitak đã dẫn một phái đoàn thương mại đến Nhật Bản, để khai thác thị trường du lịch của nước này. Điều đặc biệt, là phái đoàn thương mại không ký kết một văn bản nào với Chính Phủ Nhật Bản, mà lại ký bản ghi nhớ với 19 công ty lớn của Nhật Bản, để cam kết thực hiện việc đưa các nhân viên của các công ty này đến du lịch tại Thái Lan.

    Thái Lan là nước rất chú trọng đến việc đi tiếp thị tại nước ngoài. Chính phủ Thái Lan khuyến khích việc đặt đại diện du lịch quốc gia, dưới hình thức văn phòng hay đại diện du lịch ở nước ngoài, để làm công tác xúc tiến, quảng bá, nghiên cứu thị trường thu hút khách vào nước mình, coi đây là phương tiện quan trọng xúc tiến quốc tế. Hiện tại, Thái Lan có khoảng 13 văn phòng và 12 đại diện như vậy. Việc xuất khẩu dịch vụ du lịch theo phương thức “hiện diện thương mại” này cũng góp phần không nhỏ trong việc thu hút khách quốc tế đến Thái Lan.

    Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch Thái Lan Samthienha.com được coi là điểm mấu chốt của sự thành công, và đưa ngành công nghiệp du lịch nước ngoài này, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong sự phát triển kinh tế – xã hội của Thái Lan. Trong hoạt động xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch Thái Lan, chính phú Thái Lan rất chú trọng việc quảng bá ẩm thực Thái Lan ra nước ngoài, và xem đây như là một giải pháp có tầm quan trọng trong việc phát triển du lịch quốc tế.

    Trong nhiều năm qua, chính phủ Thái Lan đã thực hiện hàng loạt các chiến dịch xây dựng quảng bá thương hiệu quốc gia như: Bangkok Fashion City ( Thành phố thời trang Bangkok ), Health Hub of Asia ( Trung tâm sức khỏe Châu Á ), …. và một trong những chiến dịch này là tập trung riêng để quảng bá nền ẩm thực Thái Lan mang tên ThaiLand – Kitchen to thư World ( Thái Lan – bếp ăn của thế giới ) được thực hiện từ năm 2005 – 2010.

    Mục tiêu chính, của chiến dịch này nhằm khuyếch trương ẩm thực Thái Lan, được thực hiện trên quy mô toàn cầu, và cả trong nước. Chiến dịch này được Chính Phủ, các bộ , ngành của Thái Lan, các trung tâm thương mại, các nhà hàng Thái Lan ở nước ngoài, … hỗ trợ.

    III. Một số gợi ý đối với Việt Nam trong việc thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ du lịch

    Từ kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy, Việt Nam muốn tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế, thúc đẩy xuất khẩu du lịch tại chỗ cần phải thực hiện một số giải pháp cơ bản sau :

    – Trước hết, ngành du lịch Việt Nam cần khẩn trương hoàn thành và trình cấp có thẩm quyền ban hành Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Việt Nam, giai đoạn 2011 – 2022 tầm nhìn 2030. Đây là cơ sở quan trọng để du lịch Việt Nam phát triển, và thật sự trở thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Trên cơ sở đó, xây dựng các quy hoạch, kế hoạch, đề án phát triển du lịch cho giai đoạn tới phù hợp với mục tiêu , nhiệm vụ mà chiến lược đã đặt ra, cần đặc biệt chú ý quy hoạch, phát triển du lịch ở những nơi có tiềm năng phát triển du lịch biển đảo.

    – Thứ hai, Việt Nam cần có chính sách đầu tư phát triển có cơ sở hạ tầng du lịch theo hướng hiện đại và chuyên nghiệp. Cơ sở hạ tầng du lịch gồm các hệ thống giao thông, các địa danh du lịch trọng điểm, các khách sạn, … Hệ thống đường giao thông vào các khu du lịch chưa được quan tâm chú trọng đầu tư.

    Việc đảm bảo xây dựng cơ sở hạ tầng đòi hòi nhà nước Việt Nam, và Tổng Cục Du Lịch Việt Nam, cần ban hành các quy chế quản lý hợp lý, khai thác và quy hoạch khu du lịch, các hoạt động du lịch đồng bộ. Kinh nghiệm từ Thái Lan cho thấy, cơ sở hạ tầng du lịch hiện đại, với những khu vui chơi giải trí nổi tiếng, là một trong những yếu tố rất quan trọng giữ chân khách du lịch quốc tế. Trong 5 yếu tố, tạo nên sự thành công của ngành du lịch ( phương tiện giao thông, cơ sở tiện nghi, điểm thắng cảnh, các dịch vụ hỗ trợ và điều hành của chính phủ ), việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch sẽ đáp ứng được 3 trong số 5 điều kiện trên.

    Vì vậy, chính phủ cần ưu tiên cho ngành du lịch vay vốn để đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, so với các ngành nghề khác, những ngành không được coi là ngành mũi nhọn, không thuộc nhóm ngành nghề có khả năng cạnh tranh. Chính phủ cũng nên ưu tiên phát triển những cơ sở vui chơi giải trí hiện đại, có quy mô lớn ở những thành phố, và điểm du lịch chính để thu hút thêm khách du lịch, kéo dài thêm thời gian lưu trú của họ, để đến mục đích cuối cùng là làm du khách chi tiêu nhiều hơn ở Việt Nam.

    – Thứ ba, đảm bảo chính sách thông thoáng, an toàn, thuận tiện cho sự đi lại, ăn ở của du khách trong suốt quá trình lưu trú. Trong kinh doanh du lịch, điều quan trọng trước hết là phải biết tạo điều kiện thuận lợi nhất, để thu hút được khách du lịch trong và ngoài nước, kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch. Việc hạn chế miễn giảm visa của Việt nam trong thời gian qua, đã làm giảm mất nhiều cơ hội cho phát triển du lịch.

    Chế độ visa thông thường, phí dịch vụ visa nhanh của Việt Nam ở nước ngoài, cũng góp phần làm tăng giá các tour du lịch vào Việt Nam, làm giảm sức cạnh tranh của thị trường du lịch Việt Nam. Bên cạnh đó, cần có quy định hợp lý đảm bảo an toàn cho khách nước ngoài trong quá trình lưu trú tại Việt Nam.

    – Thứ tư, là cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, Tổng Cục Du Lịch Việt Nam cần thực hiện tốt hơn nữa công tác xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam nhằm cung cấp thông tin du lịch Việt Nam tới du khách quốc tế, một cách thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi. Muốn vậy, phải tìm hiểu và nghiên cứu kỹ nhu cầu thị trường bên ngoài, các thị hiếu về sản phẩm và dịch vụ du lịch của thị trường các nước trong khu vực và thế giới. Từ đó, có cách quản lý và phục vụ riêng cho phù hợp với từng loại khách hàng. Những nghiên cứu này, rất thiết thực nhằm hạn chế tình trạng khách du lịch chỉ đến Việt Nam một lần duy nhất, và không bao giờ quay trở lại.

    – Thứ năm, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và khả năng cạnh tranh cho ngành du lịch. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định, đối với nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch, góp phần nhanh chóng đưa du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Nguồn nhân lực phải được phát triển một cách có hệ thống, cả về số lượng và chất lượng.

    Hiện tại, chất lượng lao động cũng chưa đáp ứng được yêu cầu, Số có trình độ Đại Học trở lên, chỉ chiếm hơn 3%. Số lao động biết ngoại ngữ không nhiều, chỉ chiếm khoảng gần 1/2. Tính chuyên nghiệp của lực lượng lao động trong ngành du lịch chưa cao. Vì vậy, ngoài việc đào tạo mới thì việc đào tạo lại nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ lao động hiện tại cũng cần được chú trọng.

    Đội ngũ cán bộ quản lý và giám sát du lịch, cũng cần được đào tạo chuyên sâu, và có bài bản về trình độ chuyên môn, kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ, tin học và có sự hiểu biết về pháp luật. Chỉ có thể phát triển du lịch nhanh, và bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và toàn diện, nếu có đội ngũ lao động chất lượng cao, số lượng đủ, cơ cấu hợp lý gồm đông đảo những hướng dẫn viên du lịch lành nghề, những nhà khoa học công nghệ du lịch tài năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, tháo vát và có trách nhiệm cao.

    ĐĂNG KÝ TOUR DU LỊCH THÁI LAN 5 NGÀY 4 ĐÊM

    #tourdulichthailan #tourthailan #tampacific

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Kinh Nghiệm Du Lịch Hàn Quốc Mùa Hè Hữu Ích Nhất
  • Du Lịch Bụi Đà Nẵng Cần Bao Nhiêu Tiền?
  • Review Chi Tiết Từ A
  • Tour Du Lịch Sài Gòn
  • Bảo Hiểm Du Lịch Nước Ngoài Của Pvi Có Đủ Điều Kiện Xin Visa Không?
  • Chính Sách Phát Triển Du Lịch Việt Nam Và Định Hướng Đầu Tư Phát Triển Cơ Sở Lưu Trú Trong Thời Gian Tới

    --- Bài mới hơn ---

  • Đà Nẵng: Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Gắn Liền Với Bảo Tồn Di Sản Tại Khu Vực Nam Ô
  • Đà Nẵng: Sở Du Lịch Xin Ý Kiến Ubnd Tp Về Đề Án Phát Triển Du Lịch Ở Làng Chài Nam Ô
  • Góp Phần Thực Hiện Hiệu Quả Đề Án Phát Triển Du Lịch
  • Diện Mạo Đồng Tháp: Thay Đổi Mạnh Mẽ Từ Đề Án Phát Triển Du Lịch Tỉnh Giai Đoạn 2022
  • Du Lịch Đồng Tháp Định Hướng Phát Triển Du Lịch Xanh
  • Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030, cũng như Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam xác định một trong những quan điểm, định hướng chiến lược của Du lịch Việt Nam là “Phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch đảm bảo chất lượng, hiện đại, tiện nghi và đồng bộ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch”, trong đó phát triển hệ thống cơ sở lưu trú là một nội dung quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước với định hướng phát triển:

    – Tập trung đầu tư các cơ sở lưu trú cao cấp, resort nghỉ dưỡng, khách sạn từ 3 – 5 sao tại các khu, điểm, đô thị du lịch trọng điểm; nâng cao tỷ trọng cơ sở lưu trú đạt chuẩn quốc tế, được xếp hạng, đặc biệt là những khu du lịch biển có thương hiệu, đẳng cấp quốc tế và các trung tâm đô thị lớn với vai trò trung chuyển khách và trung tâm thu hút khách du lịch.

    – Mở rộng hướng sang phát triển các loại hình cơ sở lưu trú thân thiện môi trường, sử dụng vật liệu xây dựng sinh thái, địa phương, tiết kiệm năng lượng. Các loại hình Bungalow, lều trại và các nhà nghỉ dưỡng được xây dựng gần gũi với thiên nhiên và thích ứng được với biến đổi khí hậu.

    – Mở rộng phát triển các loại hình lưu trú mới gắn với du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái như homestay.

    – Tăng cường liên kết trong cung cấp dịch vụ lưu trú: liên kết giữa các cơ sở lưu trú và vai trò của Hiệp hội khách sạn; liên kết giữa cơ sở lưu trú với các hãng lữ hành, hình thành các quy tắc ứng xử giữa các nhà cung cấp du lịch với các hãng lữ hành trong quá trình hoạt động kinh doanh du lịch theo mùa vụ…

    – Tăng cường phát triển nhân lực để nâng cao chất lượng phục vụ du lịch tại các cơ sở lưu trú du lịch; đẩy mạnh đào tạo và công nhận kỹ năng nghề du lịch theo tiêu chuẩn ASEAN.

    Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, trong hai năm 2022 – 2022, Tổng cục Du lịch (TCDL) đã thực hiện chiến dịch kiểm tra, rà soát, đánh giá lại chất lượng các CSLTDL tại nhiều địa phương trong cả nước như Quảng Ninh, Lào Cai, Đà Nẵng, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, các tỉnh Tây Nguyên… Kết quả đánh giá cho thấy, riêng năm 2022, có tổng số 96 khách sạn từ 3-5 sao mới được công nhận và 141 khách sạn cùng hạng trên được thẩm định và thẩm định lại, số khách sạn khuyến cáo không đạt tiêu chuẩn là 45.

    Khu nghỉ dưỡng Novotel 5 sao tại bãi Trường, Phú Quốc – ảnh: Thanh Tùng Định hướng phát triển hệ thống CSLTDL Việt Nam

    – Phát triển hệ thống CSLTDL đảm bảo tính bền vững, toàn diện, đồng bộ đáp ứng nhu cầu của mọi thị trường từ phân khúc khách hạng sang đến các phân khúc khách du lịch bình dân và khách có sở thích chuyên biệt.

    – Phát triển hệ thống CSLTDL phù hợp, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, điều kiện tự nhiên của Việt Nam và phù hợp với xu thế phát triển của thế giới.

    – Đầu tư nâng cao chất lượng, tạo thương hiệu đẳng cấp quốc tế và tính cạnh tranh cao của các cơ sở lưu trú du lịch. Khuyến khích các thương hiệu khách sạn nổi tiếng đầu tư và quản lý khách sạn ở Việt Nam.

    – Phát triển các loại hình cơ sở lưu trú trên quan điểm khai thác tối ưu giá trị và nguồn lực sẵn có của cộng đồng, giảm tính mùa vụ, quá tải trong phát triển du lịch và nhu cầu lưu trú của thị trường.

    – Phát triển các loại hình cơ sở lưu trú đẳng cấp cao, tổ hợp khách sạn kết hợp nghỉ dưỡng với trung tâm thương mại và tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế để phát triển du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, du lịch MICE tại các thành phố lớn.

    – Phát triển mạnh các khách sạn, cơ sở lưu trú với các loại dịch vụ đa dạng ở vùng biển, vùng núi, nông thôn gắn với du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái. Lưu ý tới yếu tố thiết kế CSLTDL gần gũi với thiên nhiên, đảm bảo tiêu chuẩn về an ninh, an toàn, vệ sinh để phục vụ khách.

    – Phát triển và xây dựng khung pháp lý thuận lợi cho phát triển các loại hình kinh doanh trong mô hình kinh tế chia sẻ như bất động sản du lịch căn hộ khách sạn condotel, homestay và B&B.

    – Đầu tư cho công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho CSLTDL phù hợp với các loại hình, chất lượng dịch vụ CSLTDL; kỹ năng nghề du lịch phù hợp với MRATP. Chú trọng tiếp tục đẩy nhanh tiến trình hoàn thiện các Tiêu chuẩn Nghề Du lịch quốc gia (Bộ LĐTBXH) và TCDL kiện toàn các Hội đồng Đào tạo, công nhận, cấp chứng chỉ tương thích với tiêu chuẩn hội nhập khu vực.

    – Đầu tư xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng dịch vụ CSLTDL phù hợp, hội nhập với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực.

    – Tiếp tục chương trình, chiến dịch kiểm tra, rà soát, đánh giá nhằm nâng cao chất lượng kinh doanh CSLTDL. (hết)

    TS. Đỗ Thị Thanh Hoa Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Đầu Tư Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Du Lịch Bạch Mã Hằng Ngày Xuất Phát Tại Huế
  • Tour Huế Động Phong Nha 1 Ngày
  • Những Tours Du Lịch Tại Huế
  • Đặt Tour Du Lịch Cần Thơ: Uy Tín, Chất Lượng, Giá Tốt 2022
  • Quan Điểm, Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Của Nhà Nước Về Phát Triển Văn Hoá, Gia Đình, Thể Thao Và Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Fc Du Lịch Vào Tứ Kết Mikado: Thành Quả Của Ông Bầu Vừa Cầm Được Dao, Vừa Cầm Được… Hoa Hồng
  • Nhịp Sống Về Đêm Khi Du Lịch Ở Nhật Bản
  • Những Điều Cần Lưu Tâm Khi Đi Du Lịch Nhật Bản
  • Tour Du Lịch Du Lịch Đảo Ngọc Phú Quốc (Free & Easy)
  • Fit Là Gì Trong Ngành Du Lịch – Tổng Hợp Kiến Thức Liên Quan
  • Phát triển văn hoá, gia đình, thể thao và du lịch là nhiệm vụ có tính chiến lược của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, được Đảng và Nhà nước quan tâm đề ra đường lối, ban hành chính sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

    Download tài liệu

    A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU               

    A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

    1. Mục đích:

    Cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản về đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch trong thời kỳ đổi mới.

    2. Yêu cầu

    : Học viên nắm được kiến thức cơ bản về đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch trong thời kỳ đổi mới, đồng thời ứng dụng có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn ở địa phương.

    B. NỘI DUNG

    Phát triển văn hoá, gia đình, thể thao và du lịch là nhiệm vụ có tính chiến lược của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, được Đảng và Nhà nước quan tâm đề ra đường lối, ban hành chính sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

    Công chức văn hoá- xã hội xã là người trực tiếp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sự nghiệp văn hoá, gia đình, thể thao và du lịch ở địa phương.

    1.

    Quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch trong thời kỳ đổi mới

    1.1. Quan điểm, đường lối của Đảng về Văn hoá

    Từ ngày thành lập Đảng cho đến nay, quan điểm của Đảng về vai trò, vị trí của văn hoá cơ bản nhất quán. Có thể nói Đề cương văn hoá năm 1943 là văn kiện đầu tiên khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của văn hoá trong sự nghiệp cách mạng với những vấn đề then chốt sau :

    – Văn hoá là một trong ba mặt trận: Chính trị – Kinh tế – Văn hoá.

    – Muốn làm cách mạng Xã hội chủ nghĩa (XHCN) nhất thiết phải làm cách mạng văn hoá.

    – Sự nghiệp văn hoá là của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    – Ba nguyên tắc vận động văn hoá ở Việt Nam giai đoạn đó là: Dân tộc hoá,

    Khoa học hoá, Đại chúng hoá.

    – Tính chất nền văn hoá mới Việt Nam: Dân tộc về hình thức, tân dân chủ về nội dung.

    Tuy nhiên, theo từng giai đoạn của cách mạng Việt Nam, quan điểm và đường lối của Đảng về văn hoá có sự thay đổi uyển chuyển, linh hoạt phù hợp với thực tế khách quan. Có thể khái quát theo ba giai đoạn như sau :

    Giai đoạn thứ nhất

     (từ năm 1945 đến hết năm 1954)

    Trong điều kiện kháng chiến toàn dân, toàn diện với mục tiêu lớn là giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, thì Văn hoá là một mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy

    Giai đoạn thứ hai

      (

    từ năm 1954 đến năm 1975)

    Cả nước tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vì miền Nam vẫn

    chưa được giải phóng khỏi chế độ thực dân. Miền Bắc bước vào giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trở thành hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn, miền Nam trong cuộc chống Mỹ cứu nước. Muốn làm cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc, Đảng xác định phải làm 3 cuộc cách mạng lớn: 1. Cách mạng quan hệ sản xuất. 2. Cách mạng khoa học và kỹ thuật. 3. Cách mạng tư tưởng, văn

    hoá.

    Giai đoạn thứ b

    (từ năm 1976 đến nay)

    Giai đoạn này là giai đoạn cả nước thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chặng đường đầu đầy khó khăn, gian khổ và trải nghiệm những thử thách có tính sống còn đối với chủ nghĩa xã hội không chỉ ở nước ta mà còn trên phạm vi rộng lớn trong các nước XHCN. Cũng chính từ thực tiễn sâu sắc, phong phú và những bài học rút ra từ thực tiễn khắc nghiệt ấy, Đảng và nhân dân ta trăn trở tìm đường đổi mới mà trước tiên là đổi mới tư duy được khởi xướng từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986. Và cũng chính từ đó, Đảng không chỉ đổi mới tư duy trong kinh tế mà trong văn hoá cũng có sự đổi mới. Quan điểm lớn quán xuyến toàn bộ nhận thức mới của Đảng về văn hoá thể hiện trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội”. Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX khẳng định sự gắn kết giữa ba nhiệm vụ: 1. Phát triển kinh tế là trung tâm; 2. Xây dựng Đảng là then chốt; 3. Phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội. Cùng với Nghị quyết nói trên, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX; Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị và văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X, XI là cụ thể hóa quan điểm của Đảng ta về văn hóa. đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII  với 5 quan điểm, 10 nhiệm vụ, 4 giải pháp như sau:

    1.1.1. Năm quan điểm có tính định hướng và chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa

    1. “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực

    thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

    2. Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    3. Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng

    đồng các dân tộc Việt Nam.

    4.  Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh

    đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

    5.  Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.”

    1.1.2. Mười nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam thời kỳ đổi mới

    1.

    “Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới.

    2.

    Xây dựng môi trường văn hoá

    3.

    Phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật

    4.

    Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá

    5.

    Phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ.

    6.

    Phát triển và đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng.

    7.

    Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số.

    8.

    Chính sách văn hoá đối với tôn giáo.

    9.

    Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá.

    10.

    Củng cố, hoàn thiện thể chế văn hoá.”

    1.1.3.  Bốn giải pháp tổng thể xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam

    1. “Mở cuộc vận động, giáo dục chủ nghĩa yêu nước với thi đua yêu nước và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”.

    2. Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hoá.

    3. Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hoá.

    4. Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hoá.”

    Ví dụ: Với một xã không có gì đặc biệt không nên chọn nhiệm vụ thứ 9: Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá làm nhiệm vụ ưu tiên hay nhiệm vụ trọng tâm. Tuy nhiên, với một xã có nghề thủ công truyền thống, có di sản văn hoá vật thể hoặc phi vật thể quan trọng đang thu hút nhiều khách quốc tế thì không nên bỏ qua nhiệm vụ cụ thể từ bảo vệ môi trường, giữ gìn di sản đến thuần phong mỹ tục, văn hoá ứng xử, giao tiếp nhằm góp phần mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá của chính mình và của cả nước. Với các xã ở vùng trung du, miền núi và dân tộc thiểu số có lẽ nhiệm vụ trọng tâm phải là nhiệm vụ thứ 7: Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số. Những ví dụ trên chỉ nhằm minh hoạ cho yêu cầu sáng tạo khi vận dụng quan điểm đường lối của Đảng trong hoạt động của công chức văn hoá – xã hội xã tại địa phương.

    Tinh thần cơ bản của Nghị quyết TW 5 khoá VIII tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế – xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”.

    Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội đã chỉ rõ: “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”. Trong định hướng phát triển, Đảng ta khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”.

    Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2022

    ban hành theo Quyết định 581/QĐ-TTg ngày 06 tháng 05 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ đã tiếp tục khẳng định, làm rõ quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển văn hóa.

    Về quan điểm

    xây dựng và phát triển văn hóa, Chiến lược trên  xác định:

    – Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội

    – Nền văn hóa chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    – Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    – Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

    – Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài đỏi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trí thận trọng.

    Về mục tiêu

    phát triển văn hóa đến năm 2022, chiến lược trên đã xác định:

    Một là, hướng mọi hoạt động văn hóa vào xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, tuân thủ pháp luật, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội, làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; gắn kết  mối quan hệ giữa văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa với vấn đề hình thành nhân cách.

    Hai là, tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa đân tộc, vừa phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc anh em, vừa kiên trì củng cố và nâng cao tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam, tập trung xây dựng những giá trị văn hóa mới, đi đôi với việc mở rộng và chủ động trong giao lưu quốc tế, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn

    hóa thế giới, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc, bắt kịp sự phát triển của thời đại.

    Ba là, giải phóng mạnh mẽ năng lực và tiềm năng sáng tạo của mọi người, phát huy cao độ tính sáng tạo của trí thức văn nghệ sĩ; đào tạo tài năng văn hóa, nghệ thuật; tạo cơ chế, chính sách và cơ sở vật chất để có nhiều sản phảm văn hóa, nghệ thuật chất lượng cao xứng tầm với dân tộc và thời đại; nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về lý luận và thực tiễn việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

    Bốn là, tạo mọi điều kiện để nâng cao mức hưởng thụ và tham gia hoạt động, sáng tạo văn hóa của nhân dân; phấn dấu từng bước thu hẹp sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

    Năm là, đi đôi với việc tăng cường đầu tư của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, huy động mọi nguồn lực cho phát triển văn hóa, coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển bền vững, gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, làm cho văn hóa tham gia tích cực vào việc thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” của đất nước.

    Về nhiệm vụ trọng tâm

    , Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2022 xác định:    

    -Xây dựng con người, lối sống văn hóa.

    – Xây dựng đời sống văn hóa và môi trường văn hóa.

    – Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc.

    – Bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số.

    – Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật.

    – Tăng cường công tác thông tin đại chúng.

    – Tăng cường, chủ động hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hóa.

    – Hoàn thiện hệ thống thể chế và thiết chế văn hóa.

     

    • Nghệ thuật biểu diễn,

    • Điện ảnh

    • Mỹ thuật nhiếp ảnh và triển lãm

    • Xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm.

    • Thư viện

    • Bảo tàng, di tích và văn hóa phi vật thể

    • Văn hóa cơ sở.

    • Nghiên cứu khoa học về văn hóa nghệ thuật.

    Có thể thấy rằng quan điểm mới của Đảng về vai trò của văn hoá là “sức mạnh nội sinh của phát triển”, đó là sức mạnh kỳ diệu “lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, trí nhân thay cường bạo”, lấy yếu mà chính nghĩa để thắng mạnh mà phi nghĩa, lấy văn hoá thắng phản văn hoá. Sức mạnh nội sinh ấy từ mọi nguồn lực của đất nước trong đó nguồn lực văn hoá là vô cùng quan trọng, là nền tảng bền vững cho sự phát triển.

    Những quan điểm cơ bản về phát triển lại được khẳng định lại trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2022: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”. Mục tiêu chiến lược và khâu đột phá trong đó có lĩnh vực văn hoá, xã hội được khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: Gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất và năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật.”

    Đối với cấp xã, khi quán triệt và vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng về văn hoá cần lưu ý một số điểm sau:

    – Thứ nhất: Vận dụng phải sáng tạo, cụ thể, sát với tình hình thực tế tại địa phương.

    Thứ hai: Không được ra các văn bản trái với quan điểm của Đảng về văn hoá;

    – Thứ ba: Không được quán triệt hời hợt, tự ý “suy rộng, diễn giải” sai lệch quan điểm của Đảng, vận dụng một cách tùy tiện hoặc áp đặt khiên cưỡng, máy

    móc làm hạn chế hiệu quả hoạt động văn hoá, thậm chí làm tổn thất không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá nói riêng và đời sống xã hội nói chung.

    – Thứ tư: Sự nghiệp văn hoá là của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là sự nghiệp lớn lao, lâu dài phải được toàn dân tự nguyện tham gia. Không có văn hoá tốt đẹp mà nhân dân chối bỏ nó, bởi vậy không vì thành tích mà áp đặt, đốt cháy giai đoạn, không theo quy luật phát triển văn hoá. Phải quán triệt quan điểm lớn: Tất cả là của dân, do dân và vì dân.

    Công chức văn hoá – xã hội xã có vai trò hết sức quan trọng, không chỉ là người tuyên truyền, giải thích mà còn là người trực tiếp cùng nhân dân triển khai thực hiện, cụ thể hoá quan điểm, đường lối của Đảng về văn hoá tại địa phương. Trong lịch sử phát triển cách mạng Việt Nam, chúng ta đã có những bài học hết sức thấm thía về việc cán bộ cơ sở quán triệt không sâu sắc quan điểm của Đảng, tự ý “suy rộng, diễn giải” sai lệch đường lối của Trung ương dẫn tới những sai lầm không đáng có, gây tổn thất lớn về văn hoá và con người. Đảng ta ngay từ khi thành lập không có văn bản nào thể hiện quan điểm: “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”! Cũng không có văn bản nào thể hiện quan điểm xây dựng văn hoá mới phải đập phá di sản văn hoá truyền thống như đình chùa, miếu mạo. Không những thế, ngay khi giành được chính quyền sau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thì tháng 11 năm 1945 Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh bảo vệ cổ tích thể hiện rất rõ, rất cụ thể quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước ta trân trọng và giữ gìn di sản văn hoá dân tộc. Tuy nhiên, do sai lầm ở cơ sở mà có sự “trả thù” không đúng với đường lối đại đoàn kết toàn dân của Đảng; sự “đập phá” di sản văn hoá trái với quan điểm của Đảng về văn hoá dân tộc.

    Từ bài học ấy, chúng ta càng thấy ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu, quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng để vận dụng sáng tạo và có hiệu quả trong xây dựng và phát triển văn hoá tại cơ sở, góp phần đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

    1.2. Quan điểm, đường lối của Đảng về Gia đình và Công tác gia đình

    Gia đình và công tác gia đình luôn là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước ta. Nhiều văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước về gia đình đã được ban hành trong những năm qua: Hiến pháp Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 cũng như trong các văn kiện của Đảng về chính sách xã hội đã nhấn mạnh đến vai trò của gia đình như là tế bào của xã hội và là nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam.

    Đặc biệt, từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, qua mỗi kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, văn kiện đại hội thể hiện rất rõ quan điểm của Đảng về gia đình. Trong phạm vi của chuyên đề này, công chức Văn hóa- Xã hội xã cần nắm vững những quan điểm sau:

    -  Quan điểm của Đảng về gia đình và công tác gia đình qua các kỳ Đại hội thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.

    Nghị quyết Đại hội VI đã khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới”.

    Nghị quyết Đại hội VII:

    Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách…

    ”.

    Nghị quyết Đại hội VIII:

    Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người

    ”.

    Nghị quyết Đại hội IX

    :

    Nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có lối sống văn hoá, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của

    xã hội.

    ..

    ”.

      

     Nghị quyết Đại hội X:

    “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.

       – Chỉ thị số 49CT/TW ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư về xây dựng gia đình thời kỳ CNH-HĐH. Đảng ta khẳng định quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp về gia đình và công tác xây dựng gia đình trong suốt thời kỳ CNH-HĐH như sau:

    a) Quan điểm: “Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời xác định mục tiêu chủ yếu của công tác gia đình cho cả thời kỳ như sau:

    b) Mục tiêu: “

    Mục tiêu chủ yếu của công tác gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá là ổn định, củng cố và xây dựng gia đình theo tiêu chí ít con (mỗi cặp vợ chồng chỉ một hoặc hai con), no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, để mỗi gia đình Việt Nam thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội”

    c) Nhiệm vụ (6 nhiệm vụ)

    Một là:

    Cần nhận thức rõ gia đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Coi đầu tư cho gia đình là đầu tư cho phát triển bền vững. Gia đình có trách nhiệm với các thành viên và với xã hội; Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ sự ổn định và phát triển của gia đình. Xây dựng gia đình phải luôn gắn với sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Cán bộ, đảng viên có trách nhiệm gương mẫu chăm lo xây dựng chính gia đình mình và vận động nhân dân cùng thực hiện.

    Hai là:

    Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác gia đình, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên; chủ động rà soát, đánh giá tình hình gia đình tại địa phương, xây dựng và triển khai các kế hoạch, đề án cụ thể giải quyết những khó khăn, thách thức về gia đình và công tác gia đình. Cần đặc biệt quan tâm xoá bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình; kiên quyết đấu tranh chống những lối sống thực dụng, vị kỷ, đồi truỵ; tăng cường công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; có kế hoạch và biện pháp cụ thể phòng, chống tệ nạn xã hội và bạo hành trong gia đình.

    Ba là:

    Tăng cường công tác giáo dục đời sống gia đình. Cung cấp tới từng gia đình các kiến thức, kỹ năng sống, như: Kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng ứng xử giữa các thành viên với nhau và với cộng đồng. Giáo dục và vận động mọi gia đình tự nguyện, tự giác, tích cực thực hiện nếp sống văn minh, Vận động các gia đình tích cực tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước, quy chế dân chủ cơ sở; Phát triển các hình thức tổ hoà giải, các câu lạc bộ gia đình tại cộng đồng; giữ gìn và phát huy văn hoá gia đình và truyền thống tốt đẹp của dòng họ; xây dựng tình làng nghĩa xóm, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, nhắc nhở, động viên nhau thực hiện tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Trong giáo dục, phải kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam gắn với xây dựng những giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển.

    Bốn là:

    Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình; nhân rộng các mô hình kinh tế hộ tiên tiến; đảm bảo kết quả bền vững của chương trình xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm, nhất là ở các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, quan tâm đặc biệt tới các gia đình có công với cách mạng, gia đình là nạn nhân của chiến tranh.

    Năm là:

    Chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể, cộng đồng và gia đình tham gia tích cực xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, khu phố văn hoá, cụm dân cư văn hoá; xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình điển hình, tiêu biểu, tạo ra phong trào xây dựng gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, biểu dương kịp thời và nhân rộng các mô hình gia đình vượt khó vươn lên, gia đình làm kinh tế giỏi, gia đình hiếu học, gia đình trẻ hạnh phúc, gia đình nhiều thế hệ

    chung sống mẫu mực, chăm sóc người cao tuổi, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

    Sáu là:

    Cần sớm xây dựng và triển khai chiến lược và chương trình mục tiêu về công tác gia đình, xây dựng các đề án cụ thể giải quyết những thách thức hiện nay đối với gia đình.

    1.3. Quan điểm, đường lối của Đảng về Thể dục thể thao

    Năm quan điểm cơ bản:  

    – Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan, là một mặt quan trọng của chính sách xã hội, một biện pháp tích cực để giữ gìn và nâng cao sức khoẻ nhân dân, phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước, đáp ứng nhu cầu văn hoá, tinh thần của nhân dân

    – TDTT phải mang tính dân tộc, khoa học và nhân dân. Phát huy vốn văn hoá cổ truyền dân tộc, đảm bảo tính khoa học trong tập luyện và thi đấu, phù hợp với mọi người thuộc mọi đối tượng, trên mọi địa bàn.

    -  Phải lấy TDTT quần chúng làm nền tảng để phát triển thể thao thành tích cao. Lấy thanh thiếu niên, nhi đồng làm đối tượng chiến lược. Lấy trường học làm địa bàn chiến lược.

    – Phải xã hội hoá và chuyên nghiệp hoá thể thao, kết hợp Nhà nước với nhân dân cùng làm, chuyển dần hoạt động tác nghiệp cho các tổ chức xã hội các cơ sở thể thao ngoài công lập, các đơn vị sự nghiệp của các ngành, địa phương thực hiện.     

    – Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế về TDTT, phục vụ đường lối đối ngoại đa phương, đa dạng của Đảng và Nhà nước.

    1.4. Quan điểm, đường lối của Đảng về Du lịch

    Trong suốt 45 năm hình thành và phát triển, ngành Du lịch luôn được Đảng và Nhà Nước quan tâm ở mỗi thời kỳ đều xác định vị trí của Du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước phù hợp với yêu cầu cách mạng.

    Giai đoạn từ năm 1960 đến 1975,

    đất nước còn tạm thời bị chia cắt, trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt Du lịch ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ các đoàn khách của Đảng và Nhà nước, khách Du lịch vào nước ta theo các Nghị định thư. Để thực hiện mục tiêu này, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị đinh số 26/CP, ngày 09/07/1960, thành lập Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương. Quản lý nhà nước về Du lịch thuộc chức năng của Bộ Ngoại thương với một Phòng chuyên trách 4 người; năm 1969 chức năng này chuyển về Phủ Thủ tướng; sau đó chuyển sang Bộ Công an. Trong điều kiện rất khó khăn của chiến tranh và qua nhiều cơ quan quản lý, ngành Du lịch đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi thử thách, từng bước mở rộng nhiều cơ sở Du lịch ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tam Đảo, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An… Ngành Du lịch đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, phục vụ an toàn, có chất lượng; một lượng lớn khách của Đảng và Nhà nước, các đoàn chuyên gia các nước Xã hội chủ nghĩa anh em vào giúp Việt Nam thực hiện 2 nhiệm vụ là xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước; Đồng thời đón tiếp phục vụ, đáp ứng nhu cầu du lịch, tham quan nghỉ mát của cán bộ, bộ đội và nhân dân.

    Sau ngày miền Nam hoàn toàn giả phóng, đất nước thống nhất, hoạt động Du lịch dần trải rộng ra các miền Tổ quốc. Ngành Du lịch bước vào xây dựng bộ máy tổ chức và đội ngũ lao động, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, chuẩn bị điều kiện chuyển dần sang cơ

    chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ở giai đoạn này, ngành Du lịch hoạt động trong điều kiện đất nước vừa phải qua cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc lâu dài, phải tập trung sức hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế và phá thế bao vây cấm vận của Mỹ; đồng thời lại phải tiếp tục cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương phía Bắc và Tây Nam.

    Giai đoạn từ năm 1975 đến 1990

    , hoà vào khí thế chung của đất nước đã được thống nhất, ngành Du lịch đã làm tốt nhiệm vụ tiếp quản, bảo toàn và phát triển các cơ sở Du lịch ở các tỉnh, thành phố vừa giải phóng; lần lượt mở rộng, xây dựng thêm nhiều cơ sở mới từ Huế, Đà Nẵng, Bình Định đến Nha Trang, Lâm Đông, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Cần Thơ… từng bước thành lập các doanh nghiệp du lịch nhà nước trực thuộc Tổng cục Du lịch và Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu. Tháng 6 năm 1978, Tổng cục Du lịch Việt Nam được thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ, đánh dấu một bước phát triển mới của ngành Du lịch .

    Trong giai đoạn này, ngành Du lịch đã phấn đấu vượt qua những khó khăn, thử thách mới, tổ chức đón tiếp và phục vụ khách du lịch quốc tế từ các nước Xã hội chủ nghĩa anh em và các nước khác trên thế giới đến Việt Nam. Du lịch đã góp phần tích cực tuyên truyền giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới và tổ chức cho nhân dân đi du lịch giao lưu hai miền Nam – Bắc, thiết thực góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc. Thông qua du lịch, thế giới hiểu rõ thêm quan điểm, nguyện vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam sau chiến tranh muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển, góp phần phá thế bao vây cấm vận của Mỹ. Về mặt kinh tế – xã hội, ngành Du lịch đã phát triển thêm một bước, hoạt động có kết quả tốt, đặt nền móng cho ngành Du lịch bước vào giai đoạn mới.

    Giai đoạn từ 1990 đến nay

    , cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước ngành Du lịch đã khởi sắc, vươn lên đôi mới quản lý và phát triển, đạt được những thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả quy mô và chất luợng, dần khẳng định vai trò, vị trí của mình. Chỉ thị 46/CT-TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII tháng 10 năm 1994 đã khẳng định “Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế – xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nuớc”. Cơ chế chính sách phát triển du lịch từng bước được hình thành, thể chế hoá bằng văn bản quy phạm phát luật, tạo môi trường cho du lịch phát triển, nâng cao hiệu lực quản lý.

    Ngành Du lịch được Đảng và Nhà nước xác định là “Một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước” với mục tiêu: “Phát triển mạnh du lịch, từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch có tầm cỡ trong khu vực”. Quan điểm đó được kiểm nghiệm trong thực tiễn phát triển du lịch Việt Nam trong suốt nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và đến nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX được nâng lên: “Phát triển nhanh du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn”. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định: “Phát triển du lịch, một ngành kinh tế mũi nhọn”; phấn đấu sau năm 2010, Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực. Phát triển nhanh dịch vụ du lịch chất lượng… để góp phần tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ.

    2.

    C

    hính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa

    ,

    gia đình, thể thao và du lịch trong thời kỳ đổi mới

    2.

    1. Chính sách của nhà nước về xây dựng và phát triển văn hoá

    Nội dung bao quát của các chính sách: “Thống nhất quản lý và phát triển sự nghiệp văn hoá, văn học, nghệ thuật; quy định các biện pháp để bảo tồn, phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, khuyến khích phát triển tài năng sáng tạo văn hoá, nghệ thuật. Chống việc truyền bá tư tưởng và sản phẩm văn hoá độc hại, bài trừ mê tín, hủ tục; không ngừng xây dựng nếp sống văn minh trong xã hội.”

    Chính sách vĩ mô về văn hóa được ghi trong Hiến pháp tại các điều sau:

    Điều 30.

    Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển văn hoá Việt Nam: Dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa, phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân.

    Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hoá. Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hoá phản động, đồi truỵ, bài trừ mê tín, hủ tục.

    Điều 32.

    Văn học, nghệ thuật góp phần bồi dưỡng nhân cách và tâm hồn cao đẹp của người Việt Nam.

    Nhà nước đầu tư phát triển văn hoá, văn học, nghệ thuật; tạo điều kiện để nhân dân được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị; bảo trợ để phát triển các tài năng sáng tạo văn học, nghệ thuật.

    Nhà nước phát triển các hình thức đa dạng của hoạt động văn hoá, nghệ thuật; khuyến khích hoạt động nghệ thuật văn hoá, nghệ thuật quần chúng.

      Điều 34. Nhà nước và xã hội bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hoá, các công trình nghệ thuật, các danh lam, thắng cảnh. Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật, danh lam, thắng cảnh”.

    Để giúp cán bộ công chức văn hoá – xã hội xã thực thi chính sách của Nhà nước có hiệu quả trên địa bàn, xin được nêu mấy điểm khái quát sau:

    Tính nhất quán giữa chính sách của Nhà nước và quan điểm của Đảng thể hiện ở mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về văn hoá là: Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tính nhất quán ấy còn thể hiện ở đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về văn hoá đều nhằm thực hiện nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp phát triển văn hoá dân tộc là: Giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, không ngừng phát triển văn hoá Việt Nam thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    – Mọi chính sách của Nhà nước về văn hoá đều được xây dựng trên cơ sở yêu cầu thực tiễn khách quan ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội trong điều kiện mở cửa, hội nhập, xây dựng Nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường định hướng XHCN; đồng thời có chú ý yếu tố phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền, yếu tố đa dân tộc, đa văn hoá… Bởi vậy chính sách Nhà nước về văn hoá có tính đồng bộ, và tính pháp lý cao.

    – Đối với công chức văn hoá – xã hội xã cần đặc biệt chú ý tính đồng bộ và tính pháp lý của chính sách nhà nước về văn hoá, không được vượt thẩm quyền trong thực thi chính sách, tuỳ tiện vận dụng làm sai lệch chính sách của Nhà nước về văn hoá. Làm như vậy không những không đảm bảo tính pháp lý của các chính sách về văn hoá,

    mà còn ảnh hưởng xấu đến việc thực thi các chính sách khác của Nhà nước trên địa bàn.

    Chính sách Nhà nước về văn hoá thể hiện trong các luật và các chương trình mục tiêu, chiến lược phát triển văn hoá.

    2.2. Chính sách của Nhà nước về xây dựng gia đình

    Các quy định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật, chính sách:

    Để cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992, nhiều văn bản luật, pháp lệnh do Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành các văn bản luật, pháp lệnh trên tinh thần khẳng định: “Gia đình là chiếc nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” và cũng khẳng định mục đích của pháp luật về hôn nhân gia đình nhằm “đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, phát huy truyền thống và những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xoá bỏ những phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình.

    Điều 37 Bộ luật Dân sự về “Quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình” quy định: “Các thành viên trong gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau phù hợp với truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Con cháu chưa thành niên được hưởng sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ, ông bà; con cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà”.

    Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam (năm 1999) đã dành Chương XV- Quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Với 07 tội danh (từ Điều 146 đến Điều 152), liệt kê cụ thể cấu thành tội phạm của các hành vi phạm tội xâm hại chế độ hôn nhân gia đình thể hiện rõ chính sách xử lý hình sự của Nhà nước ta đối với loại tội phạm này là: Lấy giáo dục làm chính, việc xử lý chủ yếu mang tính chất răn đe giáo dục; trường hợp cố tình không chịu sửa chữa, tái phạm thì mới xử lý nghiêm khắc bằng chế tài hình sự. Các tội như: Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146); Tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng (Điều 147); Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148); Tội loạn luân (Điều 150); Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng

    mình (Điều 151); Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152)…đều là những hành vi trực tiếp xâm hại đến các quan hệ hôn nhân gia đình được pháp luật bảo vệ.

    Luật Bình đẳng giới (năm 2006) quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới.

    Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế – xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

    Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (năm 2007)

    quy định về phòng ngừa bạo lực gia đình, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.

       Pháp lệnh Dân số ngày 9/1/2003 quy định rõ trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1992: công dân có nghĩa vụ “thực hiện kế hoạch hoá gia đình; xây dựng quy mô gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững”. Đồng thời, công dân cũng có nghĩa vụ “thực hiện các biện pháp phù hợp để nâng cao thể chất, trí tuệ, tinh thần của bản thân và các thành viên trong gia đình”

       – Pháp lệnh về người cao tuổi ngày 28/4/2000 nêu rõ: “Việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và tiếp tục phát huy vai trò của người cao tuổi là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và toàn xã hội”. Pháp lệnh khẳng định “người cao tuổi được gia đình, Nhà nước và xã hội phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò theo quy định của pháp luật”. Đồng thời, “việc phụng dưỡng người cao tuổi là trách nhiệm chủ yếu của gia đình có người cao tuổi. Người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập được Nhà nước và xã hội trợ giúp”. Về chính sách chung đối với người cao tuổi, Pháp lệnh khẳng định: Nhà nước có chính sách phù hợp về chăm sóc sức khoẻ, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện để người cao tuổi sống khỏe, sống vui, sống có ích; đồng

    thời phát huy vai trò của người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

       – Pháp lệnh Người tàn tật ngày 30/7/1998 khẳng định việc bảo vệ, chăm sóc và tạo điều kiện cho người tàn tật hoà nhập cộng đồng là hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc, là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta; đồng thời khẳng định trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội đối với người tàn tật. Phù hợp với Điều 67 Hiến pháp 1992, Pháp lệnh nêu rõ Nhà nước khuyến khích , tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người tàn tật  trên các mặt cả về đời sống vật chất và tinh thần; trợ giúp, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng cho họ, đặc biệt trẻ em tàn tật, người tàn tật do hậu quả của chất độc da cam được Nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm bảo vệ, chăm sóc. Điều 4 Pháp lệnh quy định trách nhiệm của cha mẹ, các thành viên trong gia đình, người giám hộ của người tàn tật có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giúp đỡ người tàn tật phục hồi chức năng, học tập, lao động và tham gia sinh hoạt xã hội. Người tàn tật nặng tuy có người thân thích nhưng già yếu, gia đình nghèo không đủ khả năng kinh tế để chăm sóc thì được hưởng trợ cấp xã hội. Người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội trợ giúp, chăm sóc, nuôi dưỡng tại nơi cư trú hoặc tại các cơ sở xã hội của Nhà nước, của các tổ chức xã hội.

    Nghị định số 87/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2001 của Chính phủ đã “quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính, hình thức và mức xử phạt, thủ tục và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình”. Chương II của Nghị định quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, hình thức và mức phạt. Các quy định này có khung mức phạt tiền nhìn chung thấp (trừ các quy định xử phạt tổ chức vi phạm quy định về nuôi con nuôi có mức phạt cao nhất quy định đến 5.000.000đ còn phần lớn các hành vi vi phạm đều quy định phổ biến ở mức 50.000đ đến 200.000đ). 

    Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/2/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình

    về: Chính sách của Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo lực gia đình; biện pháp cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

    Nghị định số 110/2009/NĐ-CP ngày 16/12/2009 của Chính phủ

    quy định

    về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình,

    quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình.

    Các quy định này có khung mức phạt tiền từ 100.000đ tới 30.000.000đ (cao hơn nhiều so với mức phạt của Nghị định số 87/2000/NĐ-CP).

    Nhìn chung, trên cơ sở các Nghị quyết của Đảng và quy định của Hiến pháp 1992, nhiều chính sách về gia đình đã được ban hành để điều chỉnh các quan hệ gia đình trong xã hội theo tiêu chí xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và phát triển bền vững. Các quy định đó là cơ sở pháp lý để các cấp, các ngành triển khai các hoạt động thực hiện công tác gia đình trên phạm vi toàn quốc.

    2.3. Chính sách về phát triển sự nghiệp Thể dục thể thao (TDTT)

    a) Bộ máy quản lý điều hành sự nghiệp TDTT

    Ở Việt Nam, b

    ộ máy quản lý điều hành sự nghiệp TDTT gồm 2 hệ thống: Các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội về TDTT.

    Các cơ quan quản lý nhà nước về TDTT

    bao gồm:

    Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (BVHTTDL); các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Uỷ ban nhân dân các cấp (Điều 5, Luật TDTT).

     Cơ quan chuyên môn giúp Bộ VHTTDL

    quản lý nhà nước về TDTT ở Trung ương là Tổng cục TDTT (theo Nghị định 185/ 2007); Cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về TDTT là Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch (theo Nghị định 13/2008 của Chính Phủ); Cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân cấp  huyện quản lý nhà nước về TDTT là phòng Văn hoá và Thông tin (theo Nghị định 14/2008 của Chính Phủ); Giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về TDTT là 2 công chức phụ trách văn xã (theo Nghị định 92/2009 của Chính phủ)

    Các tổ chức xã hội về TDTT bao gồm: Ủy ban Olympic quốc gia, các Liên đoàn, Hiệp hội thể thao, Hội đồng TDTT, Câu lạc bộ TDTT ở Trung ương, địa phương và trong các ngành.(Luật TDTT từ Điều 68 đến 73).

    Cấp quốc gia có

    Uỷ ban Ô-lim-pích Việt Nam  (là thành viên của Uỷ ban Ô-lim-pích quốc tế, Hội đồng Ô-lim-pích Châu á, Liên đoàn thể thao Đông Nam á) và các Liên đoàn quốc gia về từng môn thể thao (Ví dụ Liên đoàn bóng đá Việt Nam ) hoặc Hiệp hội thể thao quốc gia về nhiều  môn thể thao (Ví dụ Hiệp hội thể thao dưới nước Việt Nam gồm môn bơi, lặn, nhảy cầu…) các Liên đoàn Hiệp hội thể thao quốc gia đều là thành viên của Liên đoàn Hiệp hội tương ứng ở Đông Nam á, Châu á, Thế giới.

    Cấp ngành đó là các Liên đoàn, Hiệp hội được tổ chức theo ngành hoạt động nhiều môn nhưng cùng một đối tượng và có  tính quốc gia. (Ví dụ: Hội thể thao đại học và chuyên nghiệp Việt Nam của sinh viên đại học; Hội thể thao người khuyết tật Việt Nam của người khuyết tật). Các Hội thể thao ngành ở Việt Nam đều là thành viên của tổ chức đó ở khu vực và thế giới.

    Ở địa phương, đó là các Liên đoàn, Hiệp hội thể thao cấp tỉnh. Nó là thành viên của Liên đoàn, Hiệp hội thể thao cấp quốc gia hoặc cấp ngành.

    Uỷ ban Olympic Việt Nam là một tổ chức xã hội về thể thao đại diện cho thể thao Việt Nam trong phong trào Olympic quốc tế. Uỷ ban Olympic Việt Nam hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính theo quy đinh của pháp luật.

    Liên đoàn thể thao quốc gia là một tổ chức xã hội nghề nghiệp về một môn hoặc một số môn liên đoàn thể thao quốc gia hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quyền, nghĩa vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính theo quy đinh của pháp luật.

    Những hoạt động này đang được chuyển giao từ các cơ quan

    quản lý nhà nước

    về  TDTT sang cho các tổ chức xã hội về TDTT thực hiện (xã hội hóa TDTT).

    b) Quản lý nhà nước về TDTT quần chúng

    – Mục tiêu: Tạo ra một xã hội tập luyện nhằm nâng cao sức khoẻ, thể lực, tầm vóc và chất lượng cuộc sống của toàn dân.

    Đối tượng

    : Người tập và VĐV nghiệp dư đang sinh sống, công tác và học tập trên mọi miền của Tổ quốc.

    – Nội dung quản lý: Các chỉ tiêu (Người tập thể thao thường xuyên, Gia đình thể thao, Người đạt tiêu chuẩn RLTT); Hệ thống thi đấu thể thao quần chúng (Đại hội, giải, hội thi…); Câu lạc bộ thể thao cơ sở (các Hội quần chúng…); Đội ngũ cộng tác viên thể thao cơ sở; Các môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian; Cơ sở vật chất và tài chính của TDTT; Các tổ chức xã hội về TDTT quần chúng, thể thao dân tộc và thể thao giải trí. 

    – Các giải pháp cơ bản: 

    Tăng cường sự lãnh đạo và quản lý các của cấp uỷ đảng và chính quyền để thực hiện nhiệm vụ đưa TDTT về cơ sở;

    Định hướng các hình thức và nội dung hoạt động chủ yếu của các đối tượng quần chúng nhân dân trên các địa bàn; Tích cực chủ động phối hợp liên ngành để chỉ đạo phát triển phong trào và đẩy mạnh xã hội hóa TDTT ở cơ sở.

    – Nhiệm vụ phát triển TDTT quần chúng (theo Quyết định 2198/QĐ-TTg ngày 3.12.2010 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển TDTT Việt nam đến 2022) gồm 10 nội dung:

    Một là

    , tiếp tục thực hiện “Cuộc vận động toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” gắn với triển khai phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng,

    bản, tổ dân phố, khu dân cư, cơ quan, đơn vị ở các địa phương, các ban, ngành và đoàn thể.

    Hai là

    , tuyên truyền phổ biến hướng dẫn mọi đối tượng quần chúng tập luyện, tham dự thi đấu thể dục, thể thao trong các câu lạc bộ từng môn hoặc nhiều môn thể thao được thành lập, hoạt động ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học, xã, phường và thị trấn.

    Ba là

    , củng cố và tăng cường hệ thống thiết chế về quản lý các mô hình thể dục, thể thao quần chúng: câu lạc bộ thể dục, thể thao, mô hình điểm về phát triển thể dục,

    thể thao quần chúng đối với những vùng có mức độ phát triển kinh tế – xã hội đặc trưng.

     Ban hành thiết chế văn hóa – thể thao đối với từng cụm, điểm dân cư gắn kết với quy hoạch sử dụng đất, xây dựng đô thị – nông thôn mới;

     Ban hành và hướng dẫn thực hiện quy chế về tổ chức thi đấu, lễ hội thể thao, công tác phong danh hiệu, thể thao dân tộc và thể thao giải trí; xây dựng và ban hành hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu về phát triển thể dục, thể thao quần chúng;

     Thành lập, hướng dẫn và hỗ trợ hoạt động đối với các Hội đồng thể dục, thể thao, Câu lạc bộ thể dục, thể thao ở cấp xã;

     Duy trì và hoàn thiện hệ thống thi đấu thể thao cho mọi người chu kỳ hàng năm, hai năm hoặc bốn năm…;

     Ban hành chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển thể dục, thể thao đối với

    các đối tượng xã hội đặc biệt, đồng bào dân tộc thiểu số, người cao tuổi, người khuyết tật.

    Bốn là

    , Tiếp tục hỗ trợ đầu tư và ban hành các chính sách khuyến khích huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển thể dục, thể thao quần chúng. Khuyến khích phát triển thể thao giải trí, kinh doanh dịch vụ thể thao gắn với hoạt động văn hóa, du lịch.

    Năm là

    , ban hành các quy chuẩn về quy hoạch đất đai cho thể dục, thể thao; tăng cường đầu tư xây dựng các sân chơi bãi tập, công trình thể thao trong quần thể Trung tâm văn hóa – thể thao cấp xã, cụm thôn – bản, thôn, bản.

    Sáu là

    , tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hướng dẫn viên thể dục, thể thao quần chúng; chú trọng tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cộng tác viên thể dục, thể thao cấp xã và thôn, làng, bản.

    Bảy là

    , đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền cơ sở và các cán bộ ngành thể dục, thể thao về vai trò của hoạt động thể dục, thể thao, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Tám là

    , xây dựng mô hình điểm về cơ sở vật chất và tổ chức hoạt động thể dục, thể thao tại các thôn, bản và xã; ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển thể dục, thể thao ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Chín là

    , đưa công tác sưu tầm, thống kê phân loại các trò chơi vận động dân gian trong các lễ hội truyền thống hàng năm của các dân tộc thiểu số thành một nội dung của nhiệm vụ sưu tầm, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam; lựa chọn một số trò chơi vận động dân gian để đề xuất đưa vào thi đấu trong hệ thống thi giải thể thao quốc gia; chú trọng bảo tồn và phát triển các môn võ cổ truyền dân tộc.

    Mười là

    , ban hành và hướng dẫn thực hiện quy chế hoạt động của các câu lạc bộ thể dục, thể thao người khuyết tật; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ huấn luyện viên, hướng dẫn viên, cộng tác viên thể dục, thể thao người khuyết tật. Ban hành bổ sung các điều kiện đáp ứng nhu cầu tập luyện thể dục, thể thao của người khuyết tật trong quy chuẩn xây dựng cơ sở tập luyện, sân bãi thể thao; thí điểm xây dựng ở một số tỉnh, thành phố các Trung tâm huấn luyện thể thao cho người khuyết tật.

       2.4. Chính sách phát triển du lịch

    Để đảm bảo sự phát triển của du lịch, một số chính sách chủ yếu được xác định bao gồm:

    1) Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển du lịch để bảo đảm du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

    2) Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch; Tuyên truyền, quảng bá du lịch; Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch; Nghiên cứu, đầu tư, xây dựng sản phẩm du lịch mới…

    phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn nhằm sử dụng lao động, hàng hoá và dịch vụ tại chỗ, góp phần nâng cao dân trí, xoá đói, giảm nghèo.

    3) Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác quy hoạch; hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch; hỗ trợ công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch, bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch.

    4) Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài ở Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch.

    5) Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư tham gia hoạt động du lịch, mở rộng giao lưu hợp tác giữa du lịch Việt Nam với du lịch khu vực và quốc tế.

    6) Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện hình thành quỹ hỗ trợ phát triển du lịch từ nguồn đóng góp của các chủ thể hưởng lợi từ hoạt động du lịch, nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.

    Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Bản chất ấy của du lịch đã xác định được vị trí vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế xã hội.

    a) Bộ máy và phân cấp quản lý nhà nước về du lịch

    Bộ máy QLNN

    :

    Các cơ quan quản lý nhà nước về

    Du lịch

    bao gồm:

    Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (BVHTTDL);

    các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ; Uỷ ban nhân dân các cấp (

    Luật Du lịch…?

    ).

     Cơ quan chuyên môn giúp Bộ VHTTDL

    quản lý nhà nước về Du lịch ở trung ương là Tổng cục Du lịch (theo Nghị định 185/ 2007); Cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về Du lịch là Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch (theo Nghị định 13/2008 của Chính Phủ); Cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân cấp  huyện quản lý nhà nước về Du lịch là phòng Văn hoá và Thông tin (theo Nghị định 14/2008 của Chính Phủ); giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về Du lịch là 2 công chức phụ trách văn xã (theo Nghị định 92/2009 của Chính phủ)

    b) Phân cấp quản lý nhà nước về du lịch

    Trong hệ thống cơ quan hành chính ở Việt Nam, việc phân cấp quản lý nhà nước về du lịch hiện nay như sau:

    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:

    – Thực hiện 5 nhiệm vụ chung của Bộ trong đó có đó có 6 nhiệm vụ cụ thể QLNN về lĩnh vực ngành Du lịch: 

    Tổng cục Du lịch:

    Là cơ quan du lịch quốc gia, có những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể sau:

    1) Trình Bộ trưởng Bộ VHTTDL để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; các dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ về du lịch và các dự án, đề án khác theo phân công của Bộ trưởng Bộ VHTTDL; Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động và các dự án, công trình quan trọng quốc gia về du lịch; các dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực du lịch; Việc đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế về du lịch theo quy định của pháp luật; quyết định việc thành lập Văn phòng đại diện du lịch Việt Nam ở nước ngoài, cho phép việc đặt Văn phòng đại diện của cơ quan du lịch của nước ngoài, của tổ chức du lịch quốc tế và khu vực tại Việt Nam; Hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch quốc gia, tuyến du lịch quốc gia, điểm du lịch quốc gia.

    2) Trình Bộ trưởng Bộ VHTTDL quyết định: Kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm về phát triển du lịch; các đề án, dự án về du lịch để Bộ trưởng quyết định theo thẩm quyền; Các dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư về du lịch; các văn bản quy phạm pháp luật quy định tiêu chuẩn, định mức kinh tế – kỹ thuật về lĩnh vực du lịch; Quy định tiêu chí phân loại, xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch; điều kiện, hồ sơ, thủ tục xếp hạng, mẫu biển hiệu hạng cơ sở lưu trú du lịch; tiêu chuẩn và mẫu biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cho cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch; Quy chế điều tra, đánh giá, phân loại tài nguyên du lịch; Quy chế quản lý khu du lịch thuộc ranh giới hành chính từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên; Các quy định về bảo vệ, tôn tạo, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch và môi trường du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch; Các quy định về quản lý, thủ tục, hồ sơ cấp, đổi, cấp lại, thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch và giấy chứng nhận thuyết minh viên; Các quy định về tiêu chuẩn chức danh trong ngành du lịch; Các văn bản hướng dẫn thực hiện quy định của pháp luật về: kinh doanh lữ hành; lưu trú du lịch; quảng bá, xúc tiến du lịch; quy hoạch phát triển du lịch; kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch và các dịch vụ du lịch khác.

    4) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ VHTTDL giao. 

    Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

    1)

    Căn cứ vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, quyết định việc thành lập, xây dựng và quản lý các khu du lịch, tuyến du lịch, điểm du lịch địa phương; phối hợp với Tổng cục Du lịch quản lý các khu du lịch, tuyến du lịch, điểm du lịch quốc gia; cấp, thu hồi Giấy chứng nhận khu du lịch, tuyến du lịch, điểm du lịch địa phương.

    2) Ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch tại địa phương. Những văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hoá các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch của Nhà nước, không được trái với các quy định của pháp luật.

    3) Quyết định thành lập doanh nghiệp du lịch theo thẩm quyền.

    5) Kiểm tra, thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về du lịch.

    Theo quy định của pháp luật và điều kiện thực tế địa phương mình, UBND cấp tỉnh sẽ giao những chức năng nhiệm vụ này cho các sở, ban, ngành, trong đó Sở VHTTDL đóng vai trò tham mưu, điều phối hoạt động quản lý du lịch của các sở, ban, ngành, giúp Chủ tịch UBND cấp tỉnh QLNN trên địa bàn lãnh thổ.

    Ủy ban nhân dân các cấp thấp hơn

    (bao gồm ủy ban nhân dân cấp  huyện và ủy ban nhân dân cấp xã) thực hiện:

    1) Thực hiện quản lý nhà nước về du lịch theo phân cấp của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật về du lịch tại địa phương.

    2) Có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho khách du lịch, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh ở địa phương.

    Ngoài việc phân cấp cho các cơ quan trực tiếp quản lý nhà nước về du lịch, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp thực hiện việc quản lý nhà nước về du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch. Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, ngành trong lĩnh vực này.

       3. Một số vấn đề đặt ra về nhận thức, tiếp cận và vận dụng quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, gia đình, thể thao và du  lịch trên địa bàn xã

       3.1. Một số vấn đề đặt ra trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá trên địa bàn xã

    3.1.1. Về nhận thức

    Nhìn chung trong những năm gần đây, việc thực thi chính sách của Nhà nước về văn hoá ở cơ sở có sự chuyển biến khá rõ do trình độ dân trí ngày càng cao và đội ngũ cán bộ xã được đào tạo bài bản hơn trước. Mặt khác, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về văn hoá ngày càng có ý nghĩa thiết thực đối với sự nghiệp xây

    dựng và phát triển văn hoá nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể ở một số địa phương vẫn còn một số vấn đề cần lưu ý sau:

    Quán triệt quan điểm của Đảng chưa sâu sắc vì cho rằng quan điểm của Đảng là cái lớn, cái

    vĩ mô”, còn văn hoá ở xã là cái

    vi mô”, thực tế thế nào thì làm như thế. Nhận thức phiến diện như vậy dẫn đến việc triển khai không bài bản, thuận đâu làm đó, dễ làm, khó bỏ… nhiều lĩnh vực bỏ trống, nhiều lĩnh vực lại tập trung quá mức cần thiết vượt khả năng và nhu cầu của văn hoá xã, gây hậu quả về tài chính và hiệu ứng tiêu cực về xã hội… Việc tổ chức hội làng ở nhiều địa phương phô trương theo kiểu

    làng ta phải hơn làng khác” là những ví dụ sinh động cho vấn đề này.

    Với chính sách của Nhà nước cũng còn hiện tượng

    chọn” cái nào có lợi trước mắt như được ưu đãi cái này hay có quyền lợi cái kia thì triển khai tích cực. Nhận thức như vậy do chưa hiểu tính đồng bộ và tính pháp lý của các chính sách do Nhà nước ban hành. Mặt khác, nhận thức phiến diện sẽ triển khai lệch lạc, kém hiệu quả… hạn chế sự quan tâm và hưởng ứng của nhân dân đối với chính sách của Nhà nước.

    3.1.2  Về tiếp cận

    Ngày nay do hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước tại cơ sở ngày càng được củng cố và hoàn thiện. Mặt khác, cơ sở vật chất, trang thiết bị, đặc biệt là các phương tiện thông tin đại chúng, phương tiện nghe nhìn phát triển mạnh nên có thể nói không có quan điểm nào của Đảng, chính sách nào của Nhà nước không về tới xã. Tuy nhiên, do số lượng các văn bản ngày càng nhiều, nhiều văn bản được thay đổi hoặc chính sửa cho phù hợp với tình hình thực tế của từng thời kỳ không phải khi nào cũng dễ tiếp cận. Mặt khác, công việc có tính sự vụ đáp ứng nhu cầu của đời sống ngày càng phong phú của nhân dân địa phương làm cho cán bộ, công chức xã không còn thì giờ để tiếp cận đầy đủ theo đúng nghĩa của nó đối với các văn bản từ các cấp đưa xuống. Đối với cán bộ, công chức văn hoá – xã hội xã còn như vậy, đối với người dân chắc chắn việc tiếp cận các văn bản của Đảng, chính sách của Nhà nước còn hạn chế hơn nhiều. Để khắc phục hạn chế này chúng tôi thử nêu một số biện pháp lấy từ kinh nghiệm của một số địa phương để cùng trao đổi.

    * Đối với cán bộ, công chức văn hoá – xã hội xã nên áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống và tiếp cận điểm.

    Tiếp cận hệ thống

    là tiếp cận tất cả các văn bản và sắp xếp nó theo hệ thống do mình đặt ra để thuận tiện nhất khi sử dụng. Cách tiếp cận này giúp cán bộ, công chức thuận tiện trong sử dụng văn bản, lên kế hoạch công tác theo quý, theo năm một cách khoa học không bị động, chồng chéo, sót việc.

    Có nhiều cách tạo hệ thống. Có thể xếp hệ thống theo cấp – việc – thời.

    Cấp

    : Xã , huyện, tỉnh, trung ương, xã là cấp thấp nhưng trực tiếp nhất nên xếp trên nhất để tiện tiếp cận, rồi đến huyện, tỉnh, trung ương.

    Việc

    : Ví dụ việc bảo tồn tôn tạo di tích, việc tổ chức đời sống văn hoá cơ sở, việc quản lý dịch vụ văn hoá… Xếp theo hệ thống việc chỉ thực hiện được khi tiếp cận kỹ văn bản, nắm chắc nội dung chủ yếu của văn bản. Hệ thống này giúp cán bộ, công chức xã triển khai công việc có bài bản, khoa học, đúng hướng, giải quyết các vấn đề nảy sinh có căn cứ pháp lý, không lúng túng, cảm tính, tuỳ tiện.

    Thời

    : Mới, cũ. Xếp theo thời gian, văn bản mới xếp trên vì việc áp dụng phải theo theo văn bản mới. Tuy nhiên, nhiều văn bản mới không phủ nhận hoàn toàn văn bản cũ mà chỉ sửa một vài điểm nên văn bản cũ vẫn là gốc. Mặt khác dù có thay hoàn toàn văn bản cũ thì văn bản cũ vẫn cần giữ để đối chiếu, so sánh và giải quyết những vấn đề tồn tại trong đời sống cộng đồng.

    Tiếp cận điểm

    là tiếp cận có chọn lọc theo quan điểm tập trung xếp theo hệ thống trước – sau, mau- thưa. Vấn đề nào, việc nào cần giải quyết trước mắt thì các văn bản về vấn đề đó, việc đó được xếp trên nhất, dễ tìm nhất (trước- sau).Vấn đề nào, việc nào thường xuyên gặp phải trong công tác hàng ngày thì những văn bản về vấn đề đó, việc đó cần xếp trước những vấn đề, những việc không thường xuyên phải giải quyết hàng ngày ( mau – thưa).

    Đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hoá trên địa bàn xã nên chọn phương pháp tiếp cận chuyên sâu, tiếp cận nhóm.

       – Tiếp cận nhóm là cách tiếp cận tự nguyện của một nhóm các tổ chức hoặc cá nhân cùng hoạt động trong một lĩnh vực văn hoá cụ thể. Cách tiếp cận này nhằm hợp tác, hỗ trợ nhau trong tìm hiểu, vận dụng các quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước có lợi nhất trong hoạt động của tổ chức, cá nhân trong nhóm.

    3.1.3  Về vận dụng

    Thứ nhất: Quan điểm, đường lối của Đảng về văn hoá có tính nguyên tắc bắt buộc mọi tổ chức Đảng, mọi đảng viên phải chấp hành. Tuy nhiên, “phải chấp hành” không đồng nghĩa với việc biến quan điểm của Đảng thành “giáo điều”, thành  “vòng kim cô” triệt tiêu mọi sáng tạo. Ngược lại, nếu biết quán triệt, vận dụng tốt nó sẽ là sức mạnh giúp cán bộ, công chức văn hoá xã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chẳng hạn: Quan điểm của Đảng về sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân. Nếu biết vận dụng tốt quan điểm này, công chức văn hoá – xã hội xã sẽ có lực lượng hùng hậu làm công tác văn hoá tự nguyện thực hiện có hiệu quả chính sách xã hội hoá các hoạt động văn hoá, chính sách gìn giữ và phát huy di sản văn hoá dân tộc trên địa bàn…

    Thứ hai: Chính sách của Nhà nước về văn hoá có tính đồng bộ và pháp lý cao. Điều đó có nghĩa là mọi chính sách của Nhà nước đều phải nghiêm chỉnh thực thi mới có hiệu quả. Tuy nhiên, nghiêm chỉnh thực thi không phải là “áp dụng máy móc, áp đặt cực đoan” trong thực thi chính sách. Biết vận dụng sáng tạo, tuyên truyền và vận động để có sự đồng thuận của toàn dân mọi việc sẽ có kết quả tốt đẹp. Hãy ghi nhớ câu “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” để không áp đặt khi thực thi chính sách. Không Nhà nước nào có thể đưa ra chính sách để mọi việc có thể “rập khuôn” áp dụng cho mọi địa phương trong toàn quốc. Vận dụng sáng tạo không những giúp công chức văn hoá – xã hội xã làm việc có hiệu quả mà còn là nguồn thông tin phản hồi trung thực nhằm điều chỉnh những bất cập của chính sách làm cho mọi chính sách sát với thực tiễn, đi vào đời sống của nhân dân.

    Thứ ba: Quán triệt quan điểm của Đảng, vận dụng sáng tạo chính sách của Nhà nước về văn hoá trên địa bàn xã chỉ có thể thực hiện tốt khi các căn bệnh quan liêu, cửa quyền, tham ô, nhũng nhiễu bị đẩy lùi. Chống các căn bệnh trên trong điều kiện hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng toàn dân, nhưng đối với cán bộ, công chức văn

    hoá – xã hội xã là hết sức quan trọng vì xã là địa bàn trực tiếp với dân,  văn hoá – xã hội là lĩnh vực nhạy cảm như  “hàn thử biểu” kiểm tra thường xuyên sức sống của một xã hội.

    3.2. Những điểm cần lưu ý đối với các xã vùng đồng bằng trong quán triệt và vận dụng quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về văn hoá, gia đình, thể thao và du lịch

    3.2.1. Về điều kiện tự nhiên

    Việt Nam có ba miền Bắc – Trung – Nam, và ở cả ba miền đều có vùng đồng bằng châu thổ được tạo bởi các dòng sông. Đặc điểm chung tự nhiên lớn nhất của đồng bằng là đất đai màu mỡ, nguồn nước tự nhiên dồi dào, phù hợp với việc trồng lúa nước có từ hàng ngàn đời nay. Chính từ đặc điểm chung này mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Văn hoá Việt Nam là văn hoá lúa nước, văn hoá gắn liền với các dòng sông. Tuy nhiên, đối với mỗi miền cũng có những đặc trưng riêng về tự nhiên.

    – Miền Bắc có Châu thổ sông Hồng phì nhiêu nhưng sông Hồng và hệ thống sông miền Bắc thường gây ngập lục nguy hiểm cho sản xuất nông nghiệp và đời sống con người, nên cần có hệ thống đê điều vững chắc có chiều dài tới hàng vài chục ngàn mét được xây đắp từ đời này qua đời khác. Mặt khác, khí hậu được chia theo bốn mùa xuân, hạ, thu, đông với  nhiệt độ, độ ẩm và các điều kiện đặc trưng khác của một vùng nhiệt đới, gió mùa làm nên cuộc sống của con người với những nét văn hoá khá đặc trưng của một vùng đất mà nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra thuật ngữ Văn hoá sông Hồng, Văn hoá đồng bằng Bắc bộ.

    – Miền Nam lại có hệ thống sông, ngòi, kênh, rạch dày đặc, tạo nên một vùng đồng bằng hết sức màu mỡ, và một đặc biệt khác với sông miền Bắc và Miền Trung là dòng chảy hiền hoà hơn, không gây lũ lụt lớn mà chỉ tạo ra “mùa nước nổi” nét đặc trưng độc đáo của con người và văn hoá Nam bộ. Mặt khác, khí hậu thường xuyên ấm, nóng rất thuận lợi cho trồng trọt cây trái cho hoa thơm quả ngọt quanh năm nên các miệt vườn được hình thành từ lâu đời vẫn còn lưu giữ đến ngày nay tạo một không gian văn hoá miệt vườn rất độc đáo.

    – Miền Trung là một dải đất hẹp hơn hai miền Nam Bắc chạy dọc theo bờ biển

    Đông, phía tây có dãy Trường Sơn như bức trường thành che trở. Tuy nhiên, do địa hình như vậy nên các dòng sông thường ngắn, dòng chảy hung dữ nhất là về mùa mưa lũ. Đồng bằng được tạo nên là những vùng đất không lớn, có nơi do ảnh hưởng của nắng gió mà ruộng đất không được phì nhiêu, khí hậu khá khắc nghiệt khi thì bão từ biển vào, khi thì gió nóng từ phía tây sang…tất cả những điều kiện tự nhiên ấy tác động không nhỏ đến con người và văn hoá đồng bằng Trung bộ. Điều đặc biệt cần nhấn mạnh ở đồng bằng Trung bộ là đồng bằng ven biển. Gắn bó với biển tạo nên con người của biển khơi với tính cách và văn hoá rất đặc trưng của vùng đất này. Đặc biệt trong điều kiện mở cửa hội nhập hiện nay, miền Trung với các vịnh đẹp nổi tiếng như Nha Trang, Lăng Cô, Cam Ranh, Mũi Né, Đá Đĩa, Quy Nhơn… tạo nên một vùng văn hoá biển đặc trưng độc đáo cần quan tâm khi nghiên cứu, quản lý, hướng dẫn và tổ chức các hoạt động văn hoá. Trên thực tế vùng đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ cũng có vùng đồng bằng ven biển, nên cán bộ, công chức văn hoá – xã hội xã ở các vùng này cần chú ý đến đặc trưng văn hoá biển.

    3.2.2. Về điều kiện kinh tế – xã hội

    Với điều kiện tự nhiên như đã nêu trên, vùng đồng bằng của cả nước có đặc điểm chung lớn về kinh tế là nền kinh tế tiểu nông. Việc trồng lúa nước là phương thức tổ chức sản xuất chính, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, mùa vụ. Chính vì vậy hình thành tư duy dựa vào thiên nhiên, trông cậy vào thiên nhiên và lối sống hoà đồng với thiên nhiên. Cái gốc của triết lý thiên – địa – nhân hợp nhất cũng xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp lấy trồng trọt làm căn bản này. Mặt khác, trồng cấy lúa nước phải theo mùa vụ, cho nên việc nương nhờ vào nhau, đồng lòng đồng thuận trong từng nhóm cũng như cả cộng đồng là rất quan trọng. Chính hoàn cảnh ấy thể hiện trong cách thức tổ chức cộng đồng quy tụ theo xóm, làng, thường gần các dòng sông, con kênh tự nhiên. Sống quần tụ trong một không gian như vậy tạo nên tình cảm cộng đồng đặc trưng: tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau, là nền tảng tình cảm, tinh thần truyền đời này qua đời khác thành đạo lý sống tôn trọng cộng đồng “chết đống còn hơn sống mình”, “bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Đạo lý ấy cố kết cộng đồng làng xã Việt Nam chặt chẽ không thể phá vỡ. Ngay trong hoàn cảnh mất nước nhưng làng không mất. Đây là đặc trưng rất đặc biệt về làng xã Việt Nam thể hiện cả mặt tích cực và tiêu cực của nó trong đời sống hiện đại cần được quan tâm khi làm công tác văn hoá – xã hội trên địa bàn xã. Chính đặc trưng này đã tạo nên thứ văn hoá rất riêng đó là văn hoá làng. Chỉ cách nhau một con đường, một luỹ tre nhưng làng này có thể có giọng nói khác làng kia từ cách phát âm cho đến các thổ ngữ quen dùng. Chính vì thế mới có câu “ chửi cha không bằng pha tiếng”.  Với nền sản xuất tiểu nông trồng lúa nước, vai trò gia đình có ý nghĩa quyết định phát triển sản xuất, tổ chức đời sống, hình thành lối sống và các thói quen trong đấu tranh sinh tồn cũng như trong sinh hoạt hàng ngày. Gia đình là một xã hội thu nhỏ, rồi đến làng, nước. Đặc điểm này cũng là một trong các nét đặc trưng của gia đình Việt Nam mà người làm công tác văn hoá – xã hội ở xã phải nắm được. Về kinh tế – xã hội và đời sống cộng đồng làng xã vùng đồng bằng có những nét chung như vậy, nhưng cũng có những nét riêng cho từng miền. Miền Nam điều kiện khí hậu không có nắng  nóng, mưa rét quá chênh lệch giữa các mùa, việc đối phó với thiên nhiên không quá khắt khe, việc trồng cấy, đánh bắt thuỷ sản cũng dễ dàng hơn, không phải

    ăn bữa nay, lo bữa mai” đã tạo nên các nét riêng về con người và văn hoá vùng đồng bằng Nam bộ. Vùng đồng bằng Bắc bộ, Trung bộ điều kiện thiên nhiên có khác. Vùng ven biển của các miền cũng có khác. Chính sự khác biệt này tạo nên sự khác biệt về văn hoá – xã hội các vùng miền và tạo nên những nét riêng về con người và văn hoá mà công chức văn hoá – xã hội xã cần thông tỏ.

    3.2.3. Về lịch sử văn hoá

    Các vùng đồng bằng Việt Nam có chung một lịch sử và truyền thống lâu đời trong đấu tranh dựng nước và giữ nước. Nét chung ấy là vùng đồng bằng ở ba miền đều là đất địa linh, nhân kiệt, nguồn lực dồi dào cả về con người, vật chất và tinh thần làm nên lịch sử hào hùng trong đấu tranh chống xâm lược, là nguồn cung cấp nhân lực và lương thực quan trọng cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Là vùng đất trù phú, tập trung đông dân với đời sống cộng đồng giàu bản sắc tạo nên các vùng văn hoá vừa có tính đặc thù vừa có nét tương đồng là bộ phận cấu thành nên nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng, có truyền thống lâu đời với nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể có giá trị độc đáo được thế giới công nhận. tuy nhiên, mỗi vùng đồng bằng lại có những nét riêng của mình.

    – Vùng đồng bằng Bắc bộ là vùng văn hoá đặc trưng văn hoá Việt. Cư dân người Việt tập trung sinh sống ở đây từ lâu đời mà các di chỉ khảo cổ ở Gò Mun, Đồng Đậu, Lũng Hoà…đã chứng minh cư dân ở đây có từ thời kỳ đồ đá. Cùng với sự phát triển có tính lịch sử, khu vực đồng bằng Bắc bộ cư dân đông đúc, văn hoá, tín ngưỡng hình thành và phát triển với những giá trị vật chất cũng như tinh thần gắn liền với đời sống nông nghiệp trồng lúa nước. Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh khác nhau văn hoá Việt vùng đồng bằng Bắc bộ tiếp nhận khá nhiều những yếu tố văn hoá ngoại lai đến từ Trung Hoa, Pháp, Ấn Độ. Điển hình là các Đạo Phật, Đạo Nho, Đạo Lão, Đạo Giáo, Đạo Thiên Chúa đã ghi dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tâm linh, trong tín ngưỡng thờ cúng, trong sinh hoạt cộng đồng và trong các công trình tôn giáo như đình, chùa, đền, am, miếu, nhà thờ. Điều đặc biệt trong nét văn hoá Việt ở đồng bằng Bắc bộ là sự dung hoà giữa các tôn giáo tạo nên bản sắc riêng cho văn hoá tâm linh Việt từ nghi thức hành lễ đến kiểu dáng kiến trúc. Nếu nói đến đình, chùa có vẻ bề ngoài gần giống với kiến trúc Trung Hoa, nhưng thực tế không phải vậy. Từ mái cong, đến các chi tiết hoa văn, vật linh đều có nét riêng, thậm chí có thể nhận biết rõ nét đặc trưng cho các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn… Nét chung cho đồng bằng Bắc bộ là di sản văn hoá vật thể có số lượng lớn, nhất là đình, chùa, đền, miếu… Những di sản này chủ yếu là kiến trúc gỗ, lại được xây dựng lâu đời hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm nên đều xuống cấp nghiêm trọng, cần bảo tồn, tu bổ. Cùng với các công trình tôn giáo, có thể nói làng nào cũng có hội làng, nhiều lễ hội tiêu biểu, đặc sắc như Hội Gióng (Di sản văn hoá thế giới được UNESCO công nhận), Hội Lim (với Quan họ – di sản văn hoá thế giới được UNETSCO công nhận) Hội Chùa Hương, Hội chùa Thầy, Hội chùa Vua…     Số lượng hội làng rất nhiều diễn ra quanh năm, nhưng tập trung vào mùa xuân. Các nhà nghiên cứu đã phải xuất bản bộ từ điển hàng vài trăm trang cho lễ hội các làng mà nhiều hội làng vẫn chưa được kể đến. Nói tóm lại vùng đồng bằng Bắc bộ là một vùng giàu bản sắc văn hoá, công chức văn hoá – xã hội xã cần nắm chắc nét đặc trưng này mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

    – Vùng đồng bằng Trung Bộ lại có những nét đặc thù riêng khác. Đó là vùng đồng bằng một bên là núi rừng Trường Sơn, một bên là Biển Đông. Văn hoá có sự giao hoà ba yếu tố trên tạo nét riêng trong các điệu hò, điệu ví, điệu phú…trong các huyền thoại, huyền tích và các sinh hoạt văn hoá khác. Văn hoá vùng Bắc Trung bộ có ảnh hưởng văn hoá đồng bằng Bắc Bộ, Trung Trung Bộ ảnh hưởng văn hoá trung tâm cố đô Huế, Nam Trung Bộ nổi trội nét văn hoá Chăm pa. Nói chung vùng đồng bằng miền Trung lưu giữ nhiều yếu tố văn hoá với bản sắc rất riêng, ngay các nhà nghiên cứu cũng chưa hiểu hết được những nét đặc trưng ấy, bởi vậy công chức văn hoá – xã hội xã càng cần học hỏi tìm hiểu thêm nhiều, đặc biệt qua các nghệ nhân, các cụ già, các nhà nghiên cứu văn hoá địa phương để nắm chắc văn hoá địa phương mình, tránh rập khuôn máy móc khi vận dụng chính sách chung của Nhà nước. Điều đáng lưu ý là vùng đất miền Trung do đặc điểm phải chống trọi với thiên nhiên, khí hậu khắc nghiệt, nên con người nơi đây có ý chí, nghị lực và tình thương yêu rất sâu sắc, về tính cách cũng như sinh hoạt có nét rất riêng cần được tìm hiểu, tôn trọng, khi tuyên truyền vận động phải kiên trì, thấu tình đạt lý việc thực thi chính sách mới có hiệu quả.

    – Vùng đồng bằng Nam Bộ có thể gọi là vùng đất hứa đối với đời sống cư dân nông nghiệp. Cũng có thể coi là vùng đất mới được khai khẩn vài ba trăm năm. Ở đây không chỉ có người Việt mà còn có đồng bào các dân tộc chung sống làm nên nét văn hoá rất riêng của một vùng đất. Cùng với nét văn hoá Việt, người ta ấn tượng về nét đặc trưng của văn hoá Khơ Mer. Đình, chùa với kiểu dáng kiến trúc đậm nét tôn giáo Ấn Độ qua Căm Pu Chia vào Việt Nam. Các lễ hội, các trò chơi, các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng cũng có nét đặc trưng riêng, khác với văn hoá làng vùng đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ. Vùng sông nước, kênh rạch chằng chịt tạo nên nhiều nét khá độc đáo. Chợ trên sông, hội làng gắn với sông nước…và đặc biệt là các điệu lý, giọng hò Nam bộ như bồng bênh cùng với ghe, thuyền và tâm hồn con người nơi đây đặc trưng cho sự phóng khoáng, mênh mang, uyển chuyển say đắm lòng người. Nói đến văn hoá đồng bằng Nam bộ không thể không nói đến đàn hát cải lương. Nó đã có từ lâu đời và đến giờ vẫn còn được lưu giữ như hồn cốt con người quê hương Nam bộ.

    Nói tóm lại

    , văn hoá vùng đồng bằng Bắc -Trung – Nam có những nét chung, nhưng cũng có những nét đặc thù khá độc đáo. Chính điều đó đã góp phần tạo nên văn hoá Việt Nam thống nhất mà đa dạng. Công chức văn hoá – xã hội xã phải đặc biệt lưu ý đặc điểm này. Ở làng nào, xã nào phải tìm kiểu kỹ để yêu, để tự hào về giá trị văn hoá nơi mình sống, học hỏi, tiếp thu những nét văn hoá tinh hoa của các làng khác, vùng khác nhằm hướng dẫn tổ chức, tổ chức những hoạt động văn hoá đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân, góp phần xây dựng văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    ****************

    Câu hỏi, bài tập tình huống

    1. Đồng chí hãy nêu những quan điểm lớn của Đảng về văn hoá, gia đình, thể thao và du lịch trong thời kỳ đổi mới.

    2. Những quan điểm ấy được vận dụng như thế nào trong công tác của đồng chí tại xã?

    3. Địa phương đồng chí đang triển khai chuơng trình mục tiêu chiến lược nào? Có vướng mắc gì trong thực tiễn hoạt động?

    4. Tình hình triển khai các phong trào văn hoá, gia đình, thể thao và du lịch tại địa phương có gì thuận lợi, khó khăn? Nêu mô hình điểm ? (nếu có)

    5. Những chính sách nào đang thúc đẩy phát triển văn hoá, gia đình, thể thao và du lịch? Những chính sách nào không phù hợp với địa phương đồng chí?

    Tài liệu tham khảo

    1. Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương: Tư tưởng Hồ Chíu Minh về văn hoá. Hà Nội 2003;

    2. Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương: Xã hội hoá hoạt động văn hoá -Một số vấn đề lý luận và thực tiến. Hà Nội 2008

    3. PTS. Nguyễn Chí Bền (Tổ chức bản thảo). Hỏi và đáp về văn hoá Việt Nam. Nxb Văn hóa Dân tộc. Hà Nội 1998.

    4. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch: Văn bản của Đảng và Nhà nước về nếp sống văn hoá. Hà Nội. 2008

    5. Bộ VHTT – Cục VHTT cơ sở: Xây dựng gia đình văn hoá trong sự nghiệp đổi mới. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997.

    6. Khang Thức Chiêu (chủ biên): Cải cách thể chế văn hoá. Tập I,II. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1996.

    7. TS. Nguyễn Viết Chức (Chủ biên). Xây dựng tư tưởng đạo đức lối sống và đời sống văn hoá. Viện Văn hoá & Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2001.

    8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung Trung ương lần thứ 5, khoá VIII.

    9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.

    10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI

    12.. PGS. TS. Phạm Duy Đức: Phát triển văn hoá Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội .2009.

    13. Luật Sở hữu trí tuệ. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2005.

    14. Luật Di sản văn hoá và Nghị định hướng dẫn thi hành. Nxb.

    Chính trị quốc gia,

    Hà Nội. 2002.

    15. Luật Thể dục, Thể thao. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2006.

    16. Luật Điện ảnh. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    17. Luật Du lịch. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.  

    18.  Phan Ngọc: Bản sắc Văn hoá Việt Nam. Nxb Văn học. 2006

    19. Văn Quân: Về các giá trị dân tộc. NXB. Văn hóa Dân tộc. Hà Nội.1995

    20. PGS.TS. Hoàng Vinh: Một số vấn đề lý luận văn hoá thời kỳ đổi mới. Nxb, Chính trị quốc gia, 1996.

    21. GS. TS Hoàng Vinh: Mấy vấn đề lý luận và thực tiến xây dựng văn hoá ở nước ta. Viện Văn hoá & Nxb Văn hóa Thông tin.Hà Nội. 1999

    22. Viện Văn hoá: Văn hoá và phát triển. Nxb Văn hóa Thôn tin, Hà Nội.1995.

    23. Hồ Sĩ Vinh –  Huỳnh Khái Vinh (Đồng chủ biên). Văn hoá Việt Nam một chặng đường. Nxb Văn hóa Thông tin 1994.

    24. Trần Quốc Vượng (Chủ biên): Cơ sở văn hoá Việt Nam. Nxb Giáo dục 2008

    ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC

    VỀ DÂN TỘC, TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO

    PGS, TS. LÊ NGỌC THẮNG

    Thời lượng: 8 tiết

    A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU               

    1. Mục đích:

    – Cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản về đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng và tôn giáo.

    – Biết vận dụng những kiến thức cơ bản về quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của nhà nước về dân tộc, tôn giáo và tín ngưỡng vào hoạt động quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa, gia đình, thể thao, du lịch trên địa bàn xã.

    2. Yêu cầu

    : Học viên nắm được nội dung cơ bản của

    kiến thức cơ bản về quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc,  tôn giáo và tín ngưỡng

    , đồng thời vận dụng có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn ở địa phương.

    B. NỘI DUNG

    V

    iệt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Để làm công tác văn hóa ở cơ sở học viên cần được trang bị những kiến thức cơ bản về tình hình dân tộc, tôn giáo; về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về hai lĩnh vực đặc thù trên. Thông qua những kiến thức được tiếp cận, học viên cần biết vận dụng vào xử lý và giải quyết những vấn đề cụ thể trong quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa tại địa phương.

    Dân tộc và Tôn giáo là hai vấn đề có tính đặc trưng trong lịch sử tiến hóa của loài người, nó có quy luật hình thành, phát triển và vận động riêng song hành với sự ra đời các quốc gia, nhà nước và các thể chế chính trị. Do vậy cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, lợi dụng vấn đề nhân quyền tác động vào các cộng đồng dân tộc thiểu số, các tôn giáo nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị, phá hoại sự nghiệp xây dựng và phát triển của nhiều quốc gia và nước ta… Song dưới góc độ quản lý nói chung và trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch nói riêng việc nhận thức đúng vị trí, tính đặc thù của vấn đề dân tộc và tôn giáo, quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực trên có ý nghĩa trước mắt và lâu dài, mang tính bền vững đối với thực hiện các mục tiêu công tác dân tộc, tôn giáo và phát triển văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch đề ra.

    1.

    Những vấn đề chung về đặc điểm tình hình dân tộc, tôn giáo và tín ngưỡng ở nước ta

       1.1. Về dân tộc

    Dân tộc

    là một thuật ngữ từ khi xuất hiện đến nay đã có nhiều ý kiến bàn luận về nội dung của nó. Đây là một khái niệm đến nay còn những ý kiến, quan điểm khác nhau. Thuật ngữ dân tộc hiện nay ở nước ta được hiểu trên nhiều bình diện và giác độ khác nhau như: dân tộc Việt Nam, dân tộc Kinh, dân tộc Hmông, dân tộc Gia Rai, dân tộc Khmer, dân tộc đa số, dân tộc thiểu số, dân tộc ở đồng bằng, dân tộc ở miền núi … Theo quan niệm hiện nay, dân tộc được quan niệm theo hai khía cạnh:

    Một là

    , Dân tộc – Quốc gia (nation) dân tộc là một cộng đồng chính trị – xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người của bộ phận tộc người. Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau…

    Hai là

    , Dân tộc đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người (ethnie)… Cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một quốc gia sinh sống ở nhiều đất nước khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, và nhất là ý thức tự giác tộc người.

    Theo số liệu công bố năm 1979, nước ta gồm 54 thành phần dân tộc anh em, trong đó có một dân tộc đông dân nhất gọi là dân tộc đa số (dân tộc Kinh) chiếm (85,72%, năm 2009) và 53 dân tộc thiểu số (chiếm 14,28%, năm 2009). Ngoài người Kinh, trong đó có 5 dân tộc có số dân trên 1 triệu là Tày, Thái, Mường, Khơ me và Hmông; 14 dân tộc có số dân hàng chục vạn (từ trên 10 vạn đến trên 96 vạn) là Mnông, Raglay, Hrê, Sán Dìu, Xơ Đăng, Cơ Ho, Chăm, Sán Chay, Ba na, Ê đê,Gia Rai, Dao, Hoa, Nùng; 18 dân tộc có dân số hàng vạn (từ trên 1 vạn đến hơn 8,5 vạn) là Phù La, Kháng, La Chí, Lào, Chu Ru, Hà Nhì, Xinh Mun, Chơ Ro, Co, Giẻ Triêng, Mạ,Tà Ôi, Giáy, Cơ Tu, Bru-Vân Kiều, Khơ mú, Thổ, Xtiêng; 11 dân tộc có số dân hàng ngàn (từ trên 1 ngàn đến trên 9,5 ngàn) là Cống, Bố Y, Cơ Lao, Mảng, Lô Lô, Chứt, Ngái, Lự, Pà Thẻn, La Ha, La Hủ; 5 dân tộc có dân số hàng trăm (từ trên 3 trăm đến trên 7 trăm người) là Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm,Pu Péo và Si La.

    Cộng đồng các dân tộc Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau:

    54 thành phần dân tộc anh em ở nước ta có quá trình gắn bó lâu đời trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Xuất phát từ hoàn cảnh xã hội, điều kiện kinh tế và nhu cầu chống ngoại xâm hình thành sớm trong lịch sử dân tộc, các dân tộc ở nước ta sớm đoàn kết, chung lưng đấu cật tạo dựng non sông gấm vóc, đấu tranh giữ gìn nền độc lập dân tộc… Đồng bào vùng biên cương luôn  là “phên dậu” của đất nước. Từ khi có Đảng, truyền thống yêu nước đó được tập hợp phát huy tạo thành sức mạnh trong thời đại mới tiếp tục làm vẻ vang truyền thống đoàn kết, yêu nước lâu đời của các dân tộc nước ta.

    Các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau. Hình thái cư trú xen kẽ là một đặc điểm nổi trội trong lịch sử cũng như hiện tại trong đời sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh phát triển mới của đất nước, hình thái cư trú xen kẽ ngày càng phát triển giữa các dân tộc thiểu số với thiểu số, thiểu số với đa số. Đó là xu thế khách quan tạo nên môi trường cho sự giao lưu văn hoá, hoà hợp và hiểu  biết lẫn nhau giữa các dân tộc nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, phát triển kinh tế và đoàn kết

    dân tộc. Tuy nhiên nếu không chú ý đúng mức đến sự bình đẳng, tương trợ, đến lợi ích dân tộc… thì chính sự cư trú xen kẽ trên cũng là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn dân tộc.

    Các dân tộc ở nước ta có trình độ phát triển không đồng đều. Đó là một thực trạng khách quan do lịch sử để lại. Sự không đồng đều trước hết là về dân số. Dân số còn là cộng đồng dân cư về văn hoá, nó không chỉ là số lượng dân cư mà còn là môi trường để cho các yếu tố văn hoá tồn tại mạnh mẽ hay bị nguy cơ đồng hoá tự nhiên. Có tộc người hàng chục triệu, hàng triệu; có tộc người hàng chục vạn, hàng vạn; nhưng cũng có tộc người hàng ngàn, hàng trăm người. Trình độ phát triển kinh tế-xã hội của các tộc người cũng rất khác nhau. Các tộc người có dân số đông, môi trường cư trú, điều kiện tự nhiên thuận lợi (như đồng bằng ven biển, thung lũng…) thì đời sống kinh tế và các yếu tố xã hội phát triển hơn các tộc người dân số ít, cư trú ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Đây là vấn đề cơ bản và là câu hỏi lớn đặt ra cho công tác dân tộc ở nước ta.

    Mỗi dân tộc ở nước ta có bản sắc văn hoá riêng tạo nên tính đa dạng trong tính thống nhất của văn hoá quốc gia Việt Nam. Sự đa dạng về bản sắc văn hoá cũng là sản phẩm của lịch sử phát triển của các cộng đồng người ở nước ta. Bản sắc văn hoá của các dân tộc ở nước ta biểu hiện qua hệ thống các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể (như kiến trúc, trang phục, đồ dùng sinh hoạt, công cụ sản xuất, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, tâm lý, tình cảm, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật…). Trong quá trình phát triển của quốc gia, các yếu tố văn hoá đa dạng đó của các tộc người cũng đã tạo nên tính thống nhất của văn hoá quốc gia (như về ngôn ngữ, chữ viết, lối sống mới, ý thức quốc gia, luật pháp, quản lý hành chính…).

    Ngoài ra văn hóa 54 dân tộc ở nước ta trong thời gian qua được tiếp cận theo các cách phân loại cơ bản sau:

    – Tiếp cận dưới góc độ văn hóa vùng: Văn hóa các dân tộc vùng Tây Bắc, Đông Bắc – Việt Bắc, Miền Trung – Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung, Nam Bộ…

    – Tiếp cận dưới góc độ Ngôn ngữ: Các dân tộc dòng ngôn ngữ Nam Á (gồm các dân tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ: Việt- Mường (4 dân tộc); nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ me (21 dân tộc), Hmông-Dao (3 dân tộc), Thái (hay Tày-Thái: 8 dân tộc), Nam Á khác (hay Kađai: 4 dân tộc); Dòng Hán-Tạng (gồm các dân tộc nhóm ngôn ngữ Hán (3 dân tộc), nhóm Tạng- Myanma (6 dân tộc); dòng Nam Đảo (hay Malayo-polinêsie: 5 dân tộc).

    – Tiếp cận dưới góc độ văn hóa Vật thể và Phi vật thể; Văn hóa vật chất – Văn hóa tinh thần – Văn hóa Xã hội;

    – Tiếp cận dưới góc độ Nhân học văn hóa…  

    Bản chất chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước đề ra trong từng giai đoạn cách mạng là nhất quán: vì sự phát triển toàn diện của đồng bào các dân tộc…để hoà nhập vào sự phát triển chung của quốc gia, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa dân tộc thiểu số và đa số.

    1.2. Về Tôn giáo, Tín ngưỡng

    Nước ta là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Các dân tộc đa số và thiểu số đều có những hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng của mình. Tôn giáo, tín ngưỡng của các dân tộc vừa phản ánh những giá trị bản sắc tộc người vừa phản ánh những nét chung của trình độ phát triển xã hội và của nền kinh tế nông nghiệp khu vực nhiệt đới Đông Nam Á.

    Hiện nay còn có những quan niệm chưa hoàn toàn thống nhất về Tôn giáo và Tín ngưỡng. Tuy nhiên theo quan niệm được đa số các nhà khoa học chấp thuận thì quan niệm về Tôn giáo và Tín ngưỡng được hiểu như sau:

    Tôn giáo: Thuật ngữ “Tôn giáo” vốn có nguồn gốc từ phương Tây và bản thân nó cũng có một quá trình biến đổi nội dung và khi khái niệm này trở thành phổ quát trên toàn thế giới thì lại vấp phải những khái niệm truyền thống không tương ứng của những cư dân thuộc các nền văn minh khác, vì vậy trên thực tế đã xuất hiện rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới.

    “Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (Tiếng Anh) và“religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Vào đầu Công nguyên, sau khi đạo Kitô xuất hiện, đế chế Roma yêu cầu phải có một tôn giáo chung và muốn xóa bỏ các tôn giáo trước đó cho nên lúc này khái niệm “religion” chỉ mới là riêng của đạo Kitô. Với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi châu Âu, với sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô giáo, biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ “religion” được dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới.

    Như vậy, Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau. Tôn giáo luôn gắn với một vị

    đấng cứu thế” (độc thần), có giáo lý riêng, có cơ sở vật chất để tiến hành các nghi lễ, có quy định riêng về quy trình hành lễ và có các tín đồ.

       – Tín ngưỡng: Là hệ thống các niềm tin của con người đề giải thích các hiện tượng tự nhiên và xã hội…để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng không có tổ chức chặt chẽ như tôn giáo: Không có giáo lý, không nhất thiết phải có cơ sở vật chất để hành lễ, không có tín đồ, thường mang yếu tố đa thần và mang đậm tính cộng đồng tộc người. 

    Tín ngưỡng các dân tộc nước ta là sản phẩm của giá trị, tinh thần, phản ánh niềm tin có tính bản địa của cư dân nông nghiệp trồng trọt và trong bối cảnh văn hóa đặc thù của quốc gia trong quá trình xây dựng và phát triển. Tôn giáo ở nước ta (như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo…) là hiện tượng du nhập từ các tôn giáo lớn trên thế giới vào những thời gian và hoàn cảnh khác nhau. Bên cạnh đó cũng có những tôn giáo bản địa như Đạo Cao đài, Phật giáo Hòa Hảo…

    Các dân tộc ở nước ta có những loại hình tín ngưỡng cơ bản sau:

    – Tín ngưỡng đa thần (hay “vạn vật hữu linh”) thể hiện trình độ phát triển và niềm tin sơ khai về các hiện tượng tự nhiên xã hội cung quanh đời sống của con người, gia đình và cộng đồng. Đó là hiện tượng thờ các vị thần trời, đất, sông suối, đất, nước, cỏ cây, bến nước, nương rẫy, núi đồi… đến các đồ dùng sinh hoạt, công cụ sản xuất. Tuy nhiên ở mỗi dân tộc sự biểu hiện đó ở những cấp độ và cường độ khác nhau phong phú và đa dạng.

    – Tín ngưỡng  nông nghiệp: Phản ánh niềm tin của các dân tộc về các hiện tượng khí hậu, thời tiết, các điều kiện tự nhiên như đất, nước, giống cây trồng, vật nuôi, sự sinh sôi nảy nở (phồn thực)… để cho mùa màng tươi tốt, bội thu trong đời sống của cư dân nông nghiệp…

    Ngoài tín ngưỡng, theo ước tính hiện nay ở nước ta có khoảng 80% dân số có đời sống tín ngưỡng tôn giáo và có khoảng hơn 20 triệu tín đồ của 6 tôn giáo đang hoạt động chiếm 25% dân số:

    -  Phật giáo: Có gần 10 triệu tín đồ (những người quy y Tam bảo) ở hầu hết các tỉnh thành, tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, thành phố Cần Thơ…

    – Công giáo: Có hơn 5,5 triệu tín đồ có mặt ở hầu khắp 50 tỉnh, thành phố trong đó tập trung đông ở các tỉnh: Nam Định, Nình Bình, Thái Bình, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Kon Tum, Đăk Lăk, Khánh Hòa, Bình Thuận, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Vĩnh Long, Anh Giang, thành phố Cần Thơ…

    – Tin lành: Có trên dưới 1 triệu tín đồ, tập trung ở các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Long An, Lâm Đồng, Đăk Lăk, Gia Lai, Đăk Nông, Bình Phước…và một số tỉnh phía Bắc.

    – Hồi giáo: Có hơn 60 ngàn tín đồ, trong đó tập trung ở các tỉnh An Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Ninh Thuận…

    – Cao Đài: Có hơn 2,4 triệu tín đồ có mặt chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ như Tây Ninh, Long An, Bến Tre, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cà Mau, An Giang…

    – Phật giáo Hòa hảo: Có gần 1,3 triệu tín đồ, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ như An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long…   

    Lực lượng chức sắc tôn giáo, các nhà tu hành là những nhà hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp trong các tôn giáo ở nước ta. Đây là lực lượng quan trọng trong mối quan hệ giữa giáo hội và nhà nước và là đầu mối trong quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo. Họ có ảnh hưởng quan trọng tới xã hội, nên trong công tác tôn giáo nói chung và quản lý nhà nước nói riêng, việc tranh thủ các chức sắc, nhà tu hành là rất quan trọng và cần thiết.

    Các tôn giáo ở nước ta như Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Hôi giáo có mối quan hệ quốc tế rộng rãi. Đây là vấn đề lớn và quan trọng trong chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước cũng như trong công tác quản lý về tôn giáo.

    Sự đa dạng về tín ngưỡng và tôn giáo trên đã góp phần làm phong phú nền văn hóa quốc gia, đồng thời cũng là thực trạng đặt ra nhiều vấn đề không giản đơn trong thực hiện các chủ trương chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo.

    Đối với vùng dân tộc thiểu số, đây cũng là khu vực có nhiều giá trị, phong phú đa dạng về tín ngưỡng và tôn giáo:

    – Về tôn giáo: Theo thời gian các tôn giáo du nhập vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số và hình thành các cộng đồng tôn giáo, tuy nhiên không phong phú như trong cộng đồng người Kinh, song có thể nhận thấy một số loại cơ bản sau:

    Một là

    , Phật giáo Nam tông trong cộng đồng đồng bào Khơ me Nam Bộ. Theo thống kê mấy năm gần đây, có hơn 1 triệu đồng bào Khơ me theo đạo Phật, có hơn 8 ngàn nhà sư, hơn 430 ngôi chùa. Phật giáo Nam tông gắn bó với đồng bào Khơ me từ thế kỷ XIII đến nay và trở thành nét văn hóa, tôn giáo đặc trưng.

    Hai là

    , Hồi giáo trong cộng đồng Chăm với 100 ngàn tín đồ với các nhóm Hồi giáo chính thống (Chăm Islam), Hồi giáo không chính thống (Chăm Bàni), hơn 30 ngàn theo đạo Bà la môn (Bà Chăm). Hồi giáo gắn bọ với cộng đồng Chăm từ thế kỷ XVI đến nay, góp phần tác động và hình thành tâm lý, đạo đức, lối sống và phong tục tập quán của đồng bào.

    Ba là

    ,  Công giáo và đặc biệt là Tin lành  trong cộng đồng các dân tộc vùng Tây Nguyên. Hiện nay Tây Nguyên có trên 300 ngàn đồng bào theo Công giáo (như ở Kon Tum,  Buôn Ma Thuột, Đà Lạt…) theo Công giáo; và gần 400 ngàn người ở Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng, Bình Phước…theo đạo Tin Lành…

    Bốn là

    , các dân tộc thiểu số các tỉnh phía Bắc theo Công giáo, Tin lành. Số theo Đạo Công giáo chủ yếu ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Lai Châu, Hà Giang, Cao Bắng, Bắc

    Kạn ước tính trên 38 ngàn, và theo đạo Tin lành hơn 10 ngàn với tên gọi Thìn Hùng. Trong vòng 20 năm trở lại đây trên dưới 100 ngàn đồng bào Hmông theo đạo Tin lành (chủ yếu ở Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang, Lào Cai, Bắc Kạn, Cao Bằng, Thanh Hóa…)

    Tình hình trên đặt ra cho Đảng và Nhà nước đồng thời phải giải quyết hai vấn đề lớn là dân tộc và tôn giáo.

    Các tôn giáo ở nước ta ngoài những nội dung và đặc điểm trên còn là đối tượng trong âm mưu lợi dụng của các thế lực thù địch. Trong quá trình xâm lược trước đây các thế lực thực dân, đế quốc đều lợi dụng vấn đề tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và sự nghiệp cách mạng. Hiện nay trong chiến lược “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo gắn với nhân quyền nhằm khai thác những  sai sót trong chính sách tôn giáo để xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước; thao túng lợi dụng diễn đàn quốc tế, lôi kéo phần tử cực đoan, ly khai…để thông tin sai lệch bôi nhọ chính sách tôn giáo và cô lập Việt Nam trên trường quốc tế.

    2.

    Đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng và tôn giáo

    2.1. Về dân tộc

    Hiến pháp xác định và được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố. Nền kinh tế nhiều thành phần ở miền núi và các vùng dân tộc từng bước hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá. Việc triển khai thực hiện nhiều chính sách, chương trình, dự án đầu tư đã làm cho kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và đời sống nhân dân ở nhiều vùng đồng bào dân tộc được cải thiện rõ rệt. Công tác xoá đói, giảm nghèo đạt được những kết quả to lớn. Mặt bằng dân trí được nâng lên. Mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ đã được thực hiện; hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được hình thành từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã. Văn hoá phát triển phong phú hơn; đời sống văn hoá của đồng bào được nâng cao một bước; văn hoá truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Các loại bệnh dịch cơ bản được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi; việc khám chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa được quan tâm hơn. Hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc và miền núi bước đầu được tăng cường và củng cố. Tình hình chính trị, trật tự xã hội cơ bản ổn định; an ninh, quốc phòng được giữ vững”

    Từ Đại hội I đến Đại hội lần thứ XI, Đảng ta xác định vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Tuy nhiên trong từng giai đoạn thì có những chính sách, quan điểm cụ thể để giải quyết vấn đề chính sách sát hợp. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 7 khóa IX về công tác dân tộc đã đánh giá khái quát thành tựu chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới như sau: “Quyền bình đẳng giữa các dân tộc cơ bản đã đượcxác định và được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố. Nền kinh tế nhiều thành phần ở miền núi và các vùng dân tộc từng bước hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá. Việc triển khai thực hiện nhiều chính sách, chương trình, dự án đầu tư đã làm cho kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và đời sống nhân dân ở nhiều vùng đồng bào dân tộc được cải thiện rõ rệt. Công tác xoá đói, giảm nghèo đạt được những kết quả to lớn. Mặt bằng dân trí được nâng lên. Mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ đã được thực hiện; hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được hình thành từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã. Văn hoá phát triển phong phú hơn; đời sống văn hoá của đồng bào được nâng cao một bước; văn hoá truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Các loại bệnh dịch cơ bản được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi; việc khám chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa được quan tâm hơn. Hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc và miền núi bước đầu được tăng cường và củng cố. Tình hình chính trị, trật tự xã hội cơ bản ổn định; an ninh, quốc phòng được giữ vững” (1)

    xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc”.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (tháng 1, năm 2011) của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối, quan điểm về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa,

    Đảng và Nhà nước ta trong quá trình hoạch định chính sách dân tộc đã căn cứ trên một hệ thống các quan điểm tư tưởng cơ bản về vấn đề dân tộc và yêu cầu của chính sách dân tộc với các nội dung sau đây:

    – Giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta là giải phóng con người thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu; thực hiện dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh; thực hiện dân chủ, tự do cho các dân tộc; phát huy truyền thống đoàn kết xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc.

    – Thực hiện chính sách dân tộc là nghiên cứu, thấm nhuần và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ sao cho phù hợp như: Nắm thực trạng tình hình dân tộc từng vùng, từng địa phương; nắm tâm tư nguyện vọng của đồng bào các dân tộc; hiểu biết về phong tục tập quán , điều kiện môi trường tự nhiên, xã hội của đồng bào

    các dân tộc sinh sống; đề xuất, thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung chính sách dân tộc; tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương sao cho hiệu quả.

    -  Thực hiện chính sách dân tộc là quán triệt và thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, các chương trình của Chính phủ vì sự phát triển của đồng bào các dân tộc.

    Các nguyên tắc cơ bản được quán triệt và xuyên suốt tạo nên tính ổn định và góp phần làm nên thành tựu vĩ đại của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm giành lại hoà bình, thống nhất đất nước và đang từng bước thu được những thành quả quan trọng trên con đường đổi mới, công nghiệp hoá, hiện  đại hoá.    

    Bình đẳng giữa các dân tộc: Bình đẳng giữa các dân tộc là một thái độ khách quan, thái độ chính trị đúng đắn của giai cấp cầm quyền ở một quốc gia đa dân tộc, trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với các dân tộc. Đây là luận điểm quan trọng về dân tộc của học thuyết mácxít- lêninnít được Đảng ta quán triệt và vận dụng trong việc giải quyết vấn đề dân tộc. Bình đẳng về dân tộc là thực hiện quyền ngang nhau của mọi dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số; da trắng hay da vàng, da đen; trình độ phát triển cao hay thấp. Bình đẳng về dân tộc là thực hiện quyền ngang nhau của mọi thành phần dân tộc về các lĩnh vực, các mặt của đời sống xã hội (tự quyết, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá…)  thông qua các hình thức pháp lý.

    Đoàn kết các dân tộc: Là thực hiện sự đoàn kết giữa những người lao động thuộc các thành phần tộc người khác nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, vì sự phát triển của con người và của các tộc người. Đoàn kết là nguyên tắc quan trọng trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta. Dân tộc ta trong lịch sử vốn có truyền thống yêu nước, đoàn kết đấu tranh chống các thế lực ngoại xâm bảo vệ nền độc lập dân tộc và trong lao động xây dựng đất nước. Đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta là phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc trong thời đại mới. Đoàn kết các dân tộc là nguyên tắc ngay từ đầu được Đảng và Nhà nước ta coi trọng như một “tài sản” vô giá của quốc gia và được vận dụng một cách sáng tạo  để tập hợp lực lượng, nhân tài vật lực của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; tạo nên sức mạnh vật chất rất to lớn đánh thắng các thế lực ngoại xâm hùng mạnh của thời đại và đang tiến hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá hiện đại hoá với những thành công quan trọng bước đầu.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở đồng bào, chiến sĩ, cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần đoàn kết mọi nơi mọi lúc trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ chính trị: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”… Đoàn kết với vị trí, vai trò lịch sử và hiện tại của nó là nguyên tắc quan trọng trong quá trình hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc. Có thể nói điều đó cũng chính là yếu tố tạo nên tính đặc thù của chính sách dân tộc ở nước ta thời gian qua, hiện nay cũng như về sau.

    Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc: Nguyên tắc này ra đời  trong điều kiện các thành phần tộc người ở nước ta vừa nhiều, vừa phát triển rất không đồng đều trên nhiều bình diện, với nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Từ những lý do lịch sử, các tộc người ở nước ta có những trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau, cư trú sinh sống có nơi thuận lợi, có nơi lại rất nhiều khó khăn… Sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc để xây dựng, phát triển đất nước không chỉ hao người, tốn của mà còn là nguyên nhân thường xuyên và quan trọng kéo chậm nhịp độ phát triển của quốc gia và của các tộc người…Các nguyên nhân lịch sử, kinh tế-xã hội…là điều kiện tạo nên truyền thống tương trợ nhau giữa các dân tộc trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước.  

    2.2. Về tôn giáo, tín ngưỡng

    Thực tiễn tình hình cho thấy đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, chủ yếu là nông dân; họ vốn là những người cần cù lao động và có lòng yêu nước. Trong các giai đoạn lịch sử họ đã góp phần làm nên những thành công của sự nghiệp yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong thời kỳ đổi mới trình độ dân trí của các nhóm tín đồ tôn giáo ngày càng được nâng cao, song đây là khu vực quan tâm của Đảng và Nhà nước trong các chính sách phát triển kinh tế- văn hóa, xã hội.

    Vấn đề đặt ra là công tác tôn giáo, tín ngưỡng vừa phải phát huy lòng yêu nước, phát huy nội lực trong lao động xây dựng đất nước theo phương châm ”tốt đời đẹp đạo”; vừa phải giải quyết nhu cầu  sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo của các tín đồ, vừa nâng cao đời sống kinh tế-xã hội, vừa khắc phục những tồn tại do lịch sử để lại trong một bộ phận tín đồ tôn giáo.

    Quan điểm, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:

    Một là

    , tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo, tín ngưỡng là bộ phận của khối đoàn kết toàn dân tộc.

    Hai là

    , Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt đối  xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

    Ba là

    , nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng; là động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập dân tộc, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần cho đồng bào tôn giáo..

    Bốn là

    , công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

    Năm là,

    vấn đề theo đạo và truyền đạo: Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Việc truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được ép buộc người dân theo đạo…

    Chính sách cụ thể đối với tôn giáo được thể hiện trong Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo (2004). Pháp lệnh thể hiện tinh thần đổi mới của Đảng và Hiến pháp về tín ngưỡng và tôn giáo, tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Chính sách tín ngưỡng tôn giáo tập trung vào các vấn đề cơ bản:

    – Quy định những hoạt động tín ngưỡng của người có tín ngưỡng và hoạt động tôn giáo của tín đồ, nhà tu hành và chức sắc tôn giáo.

    – Về tổ chức tôn giáo và hoạt động của tổ chức tôn giáo.

    – Chính sách vể quan hệ quốc tế của tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc nhà tu hành.

    3.

    Vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng trong quản lý và hướng dẫn, tổ chức hoạt động văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch

    3.1. Về lĩnh vực dân tộc

    V

    ăn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch vùng dân tộc thiểu số là đối tượng quản lý, hoạt động của ngành, của các địa phương, các Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch…trên địa bàn cả nước. Tuy nhiên trong mỗi thời điểm hoạt động, nội dung trên có những yêu cầu cụ thể nhằm đáp ứng sự phát triển của đất nước, các địa phương và đồng bào các dân tộc trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây cũng là nội dung quan trọng không chỉ trong công tác dân tộc mà cả trong hoạt động quản lý văn hóa trong tình hình mới hiện nay.

    3.1.1.Các nhiệm vụ chính sách cơ bản về công tác văn hóa, gia đình,  thể thao du lịch trong giai đoạn hiện nay ở vùng dân tộc

    Ngày 14 tháng 01 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về Công tác dân tộc. Đây là Nghị định quan trọng đầu tiên quy định cụ thể các vấn đề về công tác dân tộc, có ý nghĩa quan trọng và mở ra những tiền đề, điều kiện cụ thể hơn đối với công tác dân tộc ở nước ta trong giai đoạn mới. Nghị định ban hành trong bối cảnh Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng, tiếp tục khẳng định những quan điểm mà Đại hội đã chỉ ra: “ Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

    a) Về chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa vùng dân tộc thiểu số

    Nội dung “Chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa” vùng dân tộc thiểu số đã đề cập đến 5 vấn đề cơ bản và cũng chính là những định hướng cơ bản để công tác quản lý và hoạt động văn hóa trên địa bàn hướng tới, đồng thời là căn cứ cơ bản trong xây dựng kế hoạch, nội dung hoạt động văn hóa vùng dân tộc thiểu số trong những năm tới:

    Một là “Hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc…”. Sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc là công việc lâu nay đã và đang được thực hiện, tuy nhiên đặt trong quan điểm của Nghị định là điều kiện để những người hoạt động văn hóa và trong lĩnh vực công tác dân tộc phối hợp trong tham mưu, tư vấn chính sách cụ thể ở cấp Trung ương và địa phương biến thành hiện thực sinh động trong đời sống của đồng bào các dân tộc và các địa phương.

    Hai là, “Hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc có chữ viết. Các dân tộc thiểu số có trách nhiệm gìn giữ văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiếng nói chữ viết của dân tộc mình phù hợp với quy định của pháp luật”. Thực tế không phải dân tộc thiểu số nào cũng có chữ viết. Chữ viết là một giá trị văn hóa quan trọng của các dân tộc, song trong thực tế để chữ viết của các dân tộc (Thái, Hmông, Chăm, Khơ me…) tồn tại và phát huy vai trò trong đời sống cộng đồng, địa phương…là một thực tế “nghiệt ngã” trong mối quan hệ với tiếng phổ thông (tiếng Việt), tiếng Anh…trong giao tiếp, làm việc và phát triển của các công dân và thế hệ trẻ các dân tộc thiểu số. Đây là vấn đề đặt ra không giản đơn trong công tác dân tộc mà còn đối với các nhà hoạt động, quản lý văn hóa nói chung và văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng.

    Ba là, “Xây dựng thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; hỗ trợ việc đầu tư, giữ gìn bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa đã được Nhà nước xếp hạng”. Trong những năm qua, một số Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đã được thực hiện đáp nhu cầu và chiến lược phát triển của các vùng, địa bàn và lĩnh vực. Đây là vấn đề ít nhiều chúng ta đã có kinh nghiệm, tuy nhiên để hiệu quả hơn, tính bền vững và phát huy tác dụng cao hơn thì sự cộng tác giữa cơ quan công tác dân tộc và cơ quan văn hóa…là rất cần thiết để tìm ra tiếng nói chung, cách thực hiện ở tầm cao hơn và hiệu quả bền vững hơn.

    Bốn là, “Đồng bào dân tộc thiểu số được ưu đãi, hưởng thụ văn hóa; hỗ trợ xây dựng, khai thác sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số”. Đây là vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu, nhiều đại biểu quốc hội đặt ra: Sau 25 năm đổi mới ai là người được hưởng thụ thành quả văn hóa một cách tương xứng, nông thôn hay đô thị, đồng bằng hay miền núi…? Thực tế cho thấy, đầu tư cho thiết chế văn hóa là cần thiết, song để phát huy tác dụng của nó một cách hiệu quả, đích thực còn là việc khó khăn hơn. Đây là nội dung vừa phản ánh nhu cầu thực trạng vừa đặt ra vấn đề không nhỏ đối với chính sách văn hóa và chính sách dân tộc ở vùng dân tộc thiểu số nước ta nói chung và các địa phương hiện nay.

    Năm là, “Bảo tồn, phát huy các lễ hội truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc, định kỳ tổ chức ngày hội văn hóa – thể thao dân tộc theo từng khu vực hoặc từng dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số”. Đây cũng là vấn vấn đề có tính thời sự hiện nay ở nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số. “Lễ hội” và “Ngày hội văn hóa- thể thao dân tộc” là những hoạt động vừa thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm linh, tinh thần của các cộng đồng dân tộc cụ thể và của các địa phương vừa có tác động xã hội mạnh mẽ về giáo dục, về giao lưu văn hóa giữa các dân tộc ở địa phương và quốc gia… Tuy nhiên việc nâng cao chất lượng của các hoạt động trên, từ thực tiễn những năm qua cho thấy cần nhiều hơn nữa sự đầu tư, bàn tay của những người quản lý văn hóa và quản lý về công tác dân tộc.

    Ngày 27 tháng 07 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1270/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án: “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2022”. Đề án đã xác định Mục tiêu tổng quát, Mục tiêu cụ thể cũng như đề ra các Nhiệm vụ trọng tâm:

    a) Mục tiêu tổng quát:

    – Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm phát triển văn hóa dân tộc, góp phần để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo đảm toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

    – Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt chú trọng địa bàn các dân tộc có nguy cơ bị biến dạng văn hóa cao (các dân tộc rất ít người không có điều kiện tự bảo vệ văn hóa của mình; bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới, hải đảo, khu vực tái định cư của các thủy điện). Phát huy vai trò của các chủ thể văn hóa trong phát triển văn hóa truyền thống của các dân tộc.

    – Tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới. Góp phần giảm dần sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, các dân tộc, gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc.

    – Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, huy động mọi nguồn lực cho bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, đặc biệt tại các địa bàn trọng điểm: Vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

    b) Mục tiêu cụ thể:

    – Giai đoạn 1 (2011 – 2022):

    + Cơ bản đưa các dân tộc thiểu số rất ít người (có số dân dưới 5.000 người) ra khỏi tình trạng cần bảo vệ khẩn cấp về văn hóa và bước đầu phát huy các di sản văn hóa tiêu biểu của các dân tộc.

    + 50 – 60% số làng, bản, buôn, phum, sóc, thôn… có nhà văn hóa tự chủ chương trình hoạt động do chủ thể văn hóa tự thực hiện.

    + Định hình và triển khai xây dựng đời sống văn hóa tại các khu tái định cư của đồng bào các dân tộc thiểu số.

    + 40 – 50% cán bộ làm công tác văn hóa ở vùng dân tộc thiểu số là người của dân tộc mình (hoặc của dân tộc anh em có thời gian sinh sống lâu trên địa bàn, hiểu biết sâu về phong tục tập quán, văn hóa truyền thống của dân tộc bản địa) đã được bồi dưỡng, đào tạo về chuyên môn của ngành.

    + Mỗi huyện vùng dân tộc thiểu số được hỗ trợ phát triển ít nhất 01 nghề truyền thống, dân ca, dân vũ hoặc hoạt động du lịch đặc trưng góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội.

    + 100% các dân tộc được tổng kiểm kê các tài sản văn hóa của dân tộc mình; hoàn thành bộ chỉ số phát triển văn hóa dân tộc đến năm 2022.

    – Giai đoạn 2 (2016 – 2022):

    + Cơ bản đưa các dân tộc thiểu số rất ít người (có số dân dưới 10.000 người) ra khỏi tình trạng cần bảo vệ khẩn cấp về văn hóa.

    + 70 – 85% số làng, bản, phum, sóc, thôn… có nhà văn hóa tự chủ chương trình hoạt động do chủ thể văn hóa tự thực hiện.

    + 60 – 80% cán bộ làm công tác văn hóa ở vùng dân tộc thiểu số là người của dân tộc mình hoặc của dân tộc anh em sống trên địa bàn đã qua bồi dưỡng, đào tạo về chuyên môn của ngành.

    + Mỗi huyện vùng dân tộc thiểu số được hỗ trợ phát triển ít nhất 02 nghề truyền thống, dân ca dân vũ hoặc hoạt động du lịch đặc trưng góp phần phát triển kinh tế – xã hội.

    + Các giá trị văn hóa đặc trưng của các dân tộc được bảo tồn và phát huy.

    + Cơ bản hoàn thành việc bảo tồn khẩn cấp và bước đầu phát huy các di sản văn hóa tiêu biểu của các dân tộc có số dân dưới 10.000 người.

    7. Nhiệm vụ trọng tâm của Đề án:

    – Xây dựng đời sống văn hóa và môi trường văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Gắn kết chặt chẽ những hoạt động xây dựng đời sống văn hóa với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội phù hợp với từng khu vực, từng vùng, từng dân tộc, tôn giáo.

    – Chủ thể văn hóa, cộng đồng kế thừa và thực hành văn hóa có một vai trò to lớn và là nhân tố quyết định trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số.

    – Coi trọng và tổ chức thực hiện các chương trình về bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật, đặc biệt là hỗ trợ sự phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc thiểu số.

    – Ưu tiên đầu tư cho việc giữ gìn và phát huy các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống các dân tộc thiểu số; sưu tầm, phục hồi và phát triển một số loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ thất truyền.

    – Đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số kết hợp với các chương trình phát triển kinh tế, phát triển nghề thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng kết hợp với xóa đói giảm nghèo.

    – Phát triển và hiện đại hóa mạng lưới thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng các sản phẩm văn hóa, thông tin phù hợp. Đẩy mạnh và phát huy hiệu quả công cụ phát thanh, truyền hình phù hợp vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    – Xây dựng đồng bộ và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa cộng đồng, thực sự phát huy vai trò của cộng đồng trong tổ chức các hoạt động cộng đồng phát huy hiệu quả thực sự của các thiết chế văn hóa.

    – Tăng cường các hoạt động giao lưu văn hóa cấp địa phương, vùng, miền và toàn quốc.

    – Xây dựng các chính sách khuyến khích hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam.

    – Hoàn thiện hệ thống thể chế và thiết chế văn hóa.

    – Ban hành bộ chỉ số về phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.

    b, Về chính sách  phát triển thể dục, thể thao vùng dân tộc thiểu số

    Đây là chính sách quan trọng trong hệ thống các chính sách của công tác dân tộc ở nước ta hiện nay và trong giai đoạn tới. Nghị định trên về công tác dân tộc đồng thời cũng đã chỉ ra những định hướng nội dung chính sách về lĩnh vực này không chỉ trong lĩnh vực công tác dân tộc mà còn cho ngành văn hóa, thể thao, du lịch trong cả nước, đặc biệt những địa phương có đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống.

    Theo nội dung chính sách phát triển thể dục, thể thao vùng dân tộc thiểu số hiện nay và trong thời gian tới cần hướng tới 2 nội dung:

    Một là, “Bảo tồn và phát triển các môn thể dục, thể thao truyền thống của các dân tộc”. Đây là nội dung được tiếp tục khẳng định trong thời gian tới và cũng là dịp để các nhà hoạch định chính sách, quản lý nhà nước, đầu tư rà soát đánh giá lại tiềm năng các môn thể dục thể thao truyền thống các dân tộc trong thời gian qua đã làm được những gì về phương diện “bảo tồn” và “phát triển”; những gì chưa tương xứng với tiềm nămg vốn có để có chính sách phù hợp và phương thức quản lý, đầu tư hữu hiệu hơn với những di sản vô giá về lĩnh vực này của ông cha để lại.

    Hai là, “Đầu tư xây dựng và hỗ trợ các hoạt động thể dục, thể thao, xây dựng sân vận động, nhà thi đấu, trung tâm luyện tập thể dục, thể thao ở vùng dân tộc thiểu số”. Có thể nói đây là hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất cho hoạt động thể dục thể thao nhằm tạo môi trường để đồng bào các dân tộc ngày càng tiếp cận và hưởng thụ nhiều hơn những thành quả thể dục thể thao, vắn hóa quốc gia và quốc tế; là môi trường để bảo tồn và phát huy các giá trị thể dục, thể thao truyền thống của các dân tộc, tạo nên không khí hiểu biết lẫn nhau và đoàn kết các dân tộc.

    c, Về chính sách phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số

    Du lịch vùng dân tộc thiểu số trong thời gian qua là một hoạt động quan trọng trong việc mang lại những thành tựu quan trọng về kinh tế và quảng bá vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam. Vùng dân tộc và miền núi nước ta tiềm ẩn nhiều giá trị về du lịch sinh thái tự nhiên, sinh thái nhân văn, nguồn “tài nguyên” quan trọng của du lịch  nước nhà trong những năm trước mắt và lâu dài. Đây là ngành kinh tế quan trọng đã và đang được các địa phương ngày càng ý thức trong việc tổ chức khai thác góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội, văn hóa.

    “Chính sách phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số” là chính sách quan trọng, là nét mới trong hệ thống các chính sách dân tộc. Thời gian qua, chính sách này tuy không hoàn toàn tự phát, nhưng đặt vấn đề ở tầm chính sách dân tộc, trong công tác dân tộc thì chưa từng được đề cập. Trong những nội dung chính sách dân tộc lần này, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP đã chính thức coi đây là một đầu mối chính sách không thể thiếu.

    Về nội dung này đã được Nghị định chỉ ra: “Tập trung hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch gắn với bảo vệ môi trường, sinh thái; hỗ trợ quảng bá, đa dạng hóa các loại hình, các sản phẩm du lịch, khai thác hợp lý các tiềm năng, danh lam, thắng cảnh, phát triển du lịch”. Trên bình diện chính sách dân tộc, công tác dân tộc, nội dung này cần có sự phối hợp và chỉ đạo của cơ quan trung ương, chính quyền các cấp, đặc biệt là ngành Du lịch trong tư vấn về chuyên môn, xác định thế mạnh, tiềm năng và lộ trình phát triển…phù hợp với tiềm năng, điều kiện của các địa phương vùng dân tộc thiểu số…

    3.1.2. Vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc trong quản lý và tổ chức hoạt động văn hóa ở cơ sở

    Một là, từng bước nâng cao nhận thức của bản thân về văn hóa, tập quán của các dân tộc trên địa bàn xã; coi các dân tộc là đối tượng tác động của hoạt động quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa có những nét chung và có những nét đặc thù.

    Hai là, thường xuyên coi trọng các yếu tố đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng, thương yêu, tương trợ trong các hoạt động quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch. Các nội dung trên vừa là mục tiêu, vừa là phương châm, nguyên tắc trong quá trình quản lý và tổ chức các hoạt động du lịch trên địa bàn xã.

    Ba là, mỗi dân tộc, địa phương đều có bản sắc văn hóa, tập quán, nếp sống riêng, do vậy trong quá trình quản lý và tổ chức các hoạt đông văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch phải vừa kết hơp các giá trị truyền thống với yêu cầu mới trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Có như vậy mới tạo được sự đồng thuận cao và phát triển bền vững.

    Bốn là, biết vận dụng (lập kế hoạch và tham mưu, tư vấn) một cách sáng tạo, phù hợp các chủ trương chính sách dân tộc vào thực tiễn quản lý và tổ chức hoạt động văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch vào thực tiễn tình hình trên địa bàn xã.

    Năm là, xây dựng mạng lưới cộng tác viên, người có uy tín, già làng trưởng bản…là người các dân tộc trên địa bàn xã để nắm tình hình và thực hiện các nội dung quản lý và tổ chức hoạt động văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch trên địa bàn xã. 

    Sáu là, căn cứ vào tình hình thực tiễn của địa phương tham mưu với chính quyền, cấp ủy tổ chức ngày văn hóa có thể trên quy mô xã, quy mô liên xã hoặc cấp huyện để tôn vinh văn hóa các dân tộc trên địa bàn, động viên tinh thần đoàn kết, lao động sản xuất và tàng cường quan hệ giữa các dân tộc trên địa bàn huyện và xã.

    Bảy là, tham mưu tư vấn cho chính quyền, cấp ủy quán triệt các nguyên tắc, quan điểm, đường lối về dân tộc đối với các thiết chế  văn hóa trên địa bàn xã để có tầm nhìn và ý thức chính trị đáp ứng các mục tiêu văn hóa, kinh tế-xã hội trên địa bàn xã. Mọi hoạt động của các thiết chế văn hóa không chỉ là theo chức năng, dịch vụ…mà cần ý thức về mục tiêu chính trị cao cả của vấn đề đối với đồng bào các dân tộc trên địa bàn.

    3.2. Về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo

    3.1.1. Các nhiệm vụ chính sách cơ bản về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn hiện nay

    Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI (tháng 1, năm 2011) của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối, quan điểm chính sách về tín ngưỡng tôn giáo: ”Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Quan tâm tạo điều kiện cho các chức sắc tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”

    a, Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

    b, Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo

    Đồng bào các tôn giáo ở nước ta có truyền thống yêu nước, đồng hành cùng dân tộc trong đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ và xây dựng đất nước. Đây là nội dung quan trọng có ý nghĩa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đoàn kết các dân tộc, giáo giới hiện nay. Hệ thống chính trị nói chung và ngành văn hóa nói riêng có nhiệm vụ quan trọng trong việc đề ra các nội dung công tác và biện pháp phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và quý báu đó của các tín đồ, chức sắc tôn giáo trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

    c, Động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

    – Tạo điều kiện cho các chức sắc tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật

    – Phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

    Tín ngưỡng, tôn giáo luôn luôn là đối tượng mà các thế lực thù địch lợi dụng để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết, gây mất ổn định chính trị, phá hoại sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta.

    Việc phòng ngừa những hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc là rất quan trọng đối với cơ quan chức năng, và là nhiệm vụ đối với việc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Tình hình thực tiễn cho thấy nhiều bài học quan trọng đối với việc tuyên truyền, giáo dục, vận động người dân trong phòng ngừa hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ cần thiết, và thường xuyên đặt ra.

    Việc đấu tranh kiên quyết với những hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc là thể hiện thái độ chính trị, quan điểm trước sau như một đối với các thế lực thù địch, phản cách mạng nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và ổn định chính trị để phát triển đất nước. Đây là nhiệm vu chung của hệ thống chính trị, song mỗi ngành, mỗi cấp phải xác định nhiệm vụ hoạt động của mình góp phần vào thực hiện có hiệu quả quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay ở nước ta.

    3.2.2. Vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc trong quản lý và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở cấp cơ sở

    Thực tiễn tình hình tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn xã ở các địa phương rất phong phú và đa dạng. Việc nhận thức và giải quyết các vấn đề trên trong quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch ở cơ sở là vấn đề không giản đơn, đòi hỏi sự vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách sáng tạo và đúng quy định của pháp luật, vừa đảm bào sự tôn trọng đối với đồng bào các dân tộc, các tín đồ chức sắc tôn giáo, phát huy tính dân chủ và đáp ứng nhu cầu nâng cao đời sống và mức hưởng thụ văn hóa ở địa phương… Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng và có tính

    đặc thù trên, công chức văn hóa xã cần quán triệt và thực hiện các nội dung cơ bản sau:

    Hai là, tham mưu, tư vấn và phối hợp với các cơ quan chức năng nghiên cứu, đánh giá, phân loại những giá trị tín ngưỡng tích cực và tín ngưỡng mang tính hủ tục để tiến hành chọn lựa những giá trị tín ngưỡng phù hợp với đời sống mới ở cơ sở, với hoạt động du lịch… để tôn vinh, phát huy.

    Năm là, xây dựng mạng lưới cộng tác viên là người các dân tộc, tập huấn đào tạo họ để tuyên truyền nâng cao nhận thức về tín ngưỡng, tôn giáo; nâng cao nhận thức về Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo để tránh vi phạm các điều không được pháp luật cho

    phép trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo và để nắm tình hình trong cộng đồng các dân tộc. 

    Sáu là, phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, trường dòng họ trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở thôn bản các dân tộc nhằm góp phần đắc lực vào phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp và bài trừ hủ tục trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở địa phương.

       4.Kết luận

       Tuy nhiên Dân tộc và Tôn giáo là hai vấn để có những đặc trưng riêng về lý luận và thực tiễn quản lý. Đây là hai vấn đề mang tính toàn cầu, gắn với sự phát triển của nhân loại và đặc điểm lịch sử của từng quốc gia. Do vậy đây cũng là hai vấn đề mà các thế lực thù địch luôn lợi dụng đề gây mất ổn định chính trị, kìm hãm sự phát triển của đất nước và các địa phương.

    **************

    1. Dân tộc- quốc gia và Dân tộc-tộc người là gì?

    2. Để vận dụng kiến thức về Dân tộc trong công tác của công chức văn hóa xã  cần thực hiện những nội dung gì?

    3. Tín ngưỡng, tôn giáo là gì? (theo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo)?

    4. Để vận dụng kiến thức về Tín ngưỡng, tôn giáo trong công tác của công chức văn hóa xã cần thực hiện những nội dung gì ?

    Tài liệu tham khảo chính

    Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương, khoá IX. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2003, tr 30-31.

    – Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011,tr.244-245

    Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc.

    Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo số 21/2004/PL-UBTVQH XI ngày 18 tháng 06 năm 2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI. 

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ,

    GIA ĐÌNH, THỂ THAO VÀ DU LỊCH  TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

    TS. NGUYỄN VIẾT CHỨC

    Ths. NGUYỄN QUANG HÙNG

    Thời lượng: 12 tiết

    A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU               

    1. Mục đích:

    – Cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản về quản lý nhà nước và phát triển văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch trong thời kỳ đổi mới.

    – Biết vận dụng kiến thức cơ bản về quản lý nhà nước và phát triển văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch trong thời kỳ đổi mới vào hoạt động quản lý và tổ chức ở địa phương mình .

    2. Yêu cầu

    : Học viên nắm được

    kiến thức cơ bản về quản lý nhà nước và phát triển văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch trong thời kỳ đổi mới,

    đồng thời ứng dụng có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn ở địa phương.

    B. NỘI DUNG

    1. Quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch

    1.1. Quản lý nhà nước về văn hóa

    1.1.1. Quản lý xã hội, quản lý nhà nước

     

    Quản lý xã hội

    là gì ?

    Muốn “tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích”, người làm quản lý phải thực hiện 5 khâu quan trọng là: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo triển khai kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với thực tiến, kiểm tra, kiểm soát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch.

    Từ định nghĩa về quản lý nói chung, chúng ta thấy hoạt động quản lý được thể hiện trong 5 thành tố sau:

    – Chủ thể quản lý

    – Khách thể quản lý

    – Mục đích quản lý

    – Công cụ quản lý

    – Cách thức quản lý

    Căn cứ vào các thành tố cơ bản cấu thành hoạt động quản lý, chúng ta có thể  đưa ra định nghĩa quản lý Nhà nước đối với xã hội: 

    Quản lý Nhà nước đối với xã hội là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống luật pháp và bộ máy của mình nhằm điều chỉnh các hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội, hành vi của công dân, với mục đích duy trì và phát triển xã hội, bảo toàn và củng cố quyền lực Nhà nước.”

    Thành tố quan trọng nhất trong quản lý đó là Chủ thể quản lý, thành tố này quyết định mục đích quản lý, cách thức quản lý và lựa chọn công cụ quản lý. Bởi vậy, quản lý Nhà nước có những đặc điểm sau :

    – Quản lý Nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức rất cao.

    – Quản lý Nhà nước có mục tiêu chiến lược, chương trình và kế hoạch thực hiện mục tiêu.

    – Quản lý Nhà nước có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong việc điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm phát triển kinh tế – xã hội, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.

    – Quản lý Nhà nước phải đảm bảo tính liên tục, tính tổ chức, tính thống nhất. Muốn vậy bộ máy Nhà nước phải ổn định, thống nhất từ trung ương đến địa phương; hệ thống pháp luật phải đồng bộ và ngày càng hoàn thiện phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan.

    1.1.2. Văn hoá, quản lý Nhà nước về văn hoá

    Để hiểu quản lý nhà nước về văn hóa, đối với cán bộ cấp xã, trước tiên phải thống nhất cách tiếp cận các khái niệm công cụ: Văn hóa là gì? Quản lý nhà nước về văn hoá là gì? Từ đó  tìm hiểu sâu: quản lý nhà nước về văn hóa như thế nào?

    a,

    Văn hóa là gì.

    Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Chuyên đề này đề cập và phân tích định nghĩa văn hóa của UNESCO và của Danh nhân văn hóa thế giới Hồ Chí Minh.

    Nhân phát động thập kỷ phát triển văn hóa, trong bài phát biểu của mình, ông Tổng giám đốc UNESCO chúng tôi – Ơ đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định các đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài  tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc. Định nghĩa còn cho ta thấy không phải hoạt động nào của con người cũng tạo nên giá trị văn hóa, chỉ có “các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại”, trải qua thời gian dài hàng thế kỷ mới tạo ra được các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu…cái mà người ta có thể coi là văn hóa của mỗi tộc người. Định nghĩa này còn muốn nhấn mạnh tính riêng của mỗi nền văn hóa, cỗ vũ cho việc giữ gìn tính đa dạng của văn hóa thế giới, khuyến cáo nguy cơ suy thoái của các nền văn hóa dễ bị tổn thương trong làn sóng toàn cầu hóa, hệ lụy của cách thức phát triển kinh tế không tôn trọng yếu tố văn hóa vì con người.

    Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa có tính khái quát này, trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa, chúng ta dễ bị hiểu một cách sai lạc: Quản lý văn hóa là quản lý các hoạt động sáng tạo và thu hẹp hơn nữa là quản lý sáng tác văn học nghệ thuật. Thực tế quản lý văn hóa không phải như vậy, quản lý văn hóa cấp xã lại càng không phải chỉ có thế. Để có thể nhìn nhận văn hóa một cách đầy đủ, thiết thực hơn, chúng tôi cung cấp thêm một định nghĩa của Hồ Chí Minh với tư cách là một nhà văn hóa, một Danh nhân văn hóa thế giới.Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, trải nghiệm bằng hoạt động thực tiến của mình, Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật; Những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh ấy tức là văn hóa”. Định nghĩa của nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh giúp chúng ta bổ sung đầy đủ hơn cách hiểu văn hóa với nghĩa khái quát và cả với nghĩa cụ thể của từng lĩnh vực hoạt động và các yếu tố khác gắn liền với đời sống thường nhật của con người. Suy cho cùng, mọi hoạt động của con người trước hết đều “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, những hoạt động sống đó trải qua thực tiễn và thời gian được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tập quán, chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy, lưu truyền từ đời này qua đời khác thành kho tàng  quý giá mang bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhân loại.

    Văn hoá là khái niệm đa nghĩa. Tuy nhiên từ góc độ tiếp cận về quản lý văn hóa, có thể dễ dàng nhận thấy hai yếu tố quan trọng khi đề cập tới khái niệm văn hóa, đó là: Hoạt động văn hóa và giá trị văn hóa. Trong quản lý văn hóa, cách tiếp cận này giúp ta phân loại các vấn đề cần quản lý dễ dàng hơn, có tính hệ thống hơn, và đương nhiên hoạt động quản lý sẽ cụ thể hơn, hiệu quả hơn.

    – Hoạt động văn hóa

    Xét theo nghĩa rộng thì mọi hoạt động “vì lẽ sinh tồn và mục đích cuộc sống” đều có thể coi là hoạt động văn hóa. Cấy lúa, trồng khoai hay săn bắn, hái lượm đều vì lẽ sinh tồn của các cộng đồng người và vì thế nó là hoạt động văn hóa. Tuy nhiên, xã hội loài người ngày càng phát triển, các hoạt động của con người ngày càng đa dạng với mục đích rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau giữa các thành viên trong cộng đồng và giữa các cộng đồng. Nếu coi mọi hoạt động sống của con người đều là văn hóa dễ dẫn đến sự đồng nhất những hoạt động thuần túy phục vụ sự tồn tại của con người với tư cách là một sinh thể sống như các sinh vật khác với các hoạt động mang tính đặc thù chỉ của con người mới có, thậm chí sẽ không phân biệt được những hoạt động có tính nhân văn và những hoạt động phản nhân văn của con người. Cùng với sự phát triển xã hội, khoa học xã hội nói chung và khoa học nghiên cứu về văn hóa nói riêng cũng phát triển và đòi hỏi sự phân chia có tính đặc thù hơn cho các hoạt động của con người. Chính vì vậy, các hoạt động mang tính sáng tạo, đáp ứng nhu cầu không chỉ là vật chất mà còn là tinh thần của con người mới được coi là những hoạt động văn hóa. Những hoạt động như vậy cũng khác nhau trong các cộng đồng người khác nhau và trong hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Điều đó cho phép chúng ta hiểu rằng không phải tất cả các hoạt động sống của con người đều là hoạt động văn hóa.

    -  Giá trị văn hóa

    Trước tiên cần phân biệt giá và giá trị. Vật nào đó có thể đem trao đổi, mua, bán đều có một giá. Ngay các sản phẩm văn hóa như phim, ảnh, tranh, tượng, sách, băng, đĩa nhạc…đều có thể đem trao đổi, mua bán. Bởi thế chúng có giá được quy đổi bằng tiền tệ, vàng bạc hoặc các vật ngang giá khác. Đó là giá của chúng chứ không phải là giá trị của chúng. Có giá cao phần nào phản ánh giá trị của chúng nhưng không phải là toàn bộ giá trị của chúng. E. Căng (1724 – 1804 ) cho rằng: Vật nào có thể đem trao đổi được đều có một giá, duy có một số vật không lấy gì thay thế được thì có một giá trị. Quả thật, có những thứ không thể đem trao đổi, mua, bán vì chúng không có giá, khó có thể định giá theo cách quy đổi bằng tiền tệ, vàng bạc hay các vật ngang giá khác. Ví như tình bạn, tình yêu, lòng yêu nước, các di sản văn hóa có giá trị của các cộng đồng, quốc gia, dân tộc…nó không thể thay thế bằng bất kỳ vật ngang giá nào khác, bởi nó là những giá trị xã hội được một cộng đồng, một quốc gia, một dân tộc thừa nhận, tôn thờ và khát khao vươn tới. Nó điều chỉnh hành vi của mỗi thành viên và của cả cộng đồng xã hội ấy. Nó là những giá trị xã hội. Giá trị văn hóa chỉ là bộ phận trong hệ giá trị xã hội. Giá trị văn hóa đề cập cụ thể trong tài liệu này giới hạn trong phạm vi: giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Quản lý giá trị văn hóa ở đây được hiểu là quản lý các di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể.              

    Trên thực tế, sự tồn tại khách quan của di sản văn hóa trong đời sống xã hội khó có thể chỉ ra một di sản văn hóa nào thuần túy chỉ là vật thể hay phi vật thể. Ví như di sản văn hóa Văn Miếu – Quốc tử giám (Hà Nội) được Nhà nước xếp hạng như là một di sản văn hóa vật thể. Tuy nhiên, ý nghĩa vật thể của các bia tiến sỹ không nhiều, nó chỉ như là các chứng tích khẳng định Việt Nam có một nền giáo dục và khoa cử lâu đời. Chính ý nghĩa ngoài vật chất ấy là căn cứ để UNESCO công nhận nó là di sản văn hóa, ký ức nhân loại. Về phương diện vật chất, với điều kiện kỹ thuật và tài chính hiện nay người ta có thể cho trạm, khắc các bia đá đẹp hơn nhiều, nhưng có đẹp đến đâu cũng không thay được các bia tiến sĩ đang được giữ gìn trong Văn Miếu – Quốc tử giám. Ngược lại “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, nó không phải là di sản văn hóa vật thể, nhưng nếu thiếu vắng những cái cồng, chiêng nguyên bản mang ý nghĩa vật chất thì cái ý nghĩa cao siêu khác cũng khó mà tồn tại. Như vậy, sự phân

    chia văn hóa vật thể và phi vật thể chỉ mang ý nghĩa tương đối, di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể cũng có ý nghĩa tương tự. Bởi vậy, người làm quản lý cần nắm những đặc điểm của di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể để phân loại chúng trong hệ thống các di sản giúp cho việc quản lý được thuận tiện và hiệu quả.

    Luật Di sản văn hóa

    được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 1 năm 2001 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đã quy định: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước của nhân dân ta”. Tại Điều 1. khái niệm di sản văn hóa được quy định cụ thể như sau: “Di sản văn hóa quy định tại luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

    Từ khái niệm như đã nêu, cán bộ Văn hóa- Xã hội xã cần biết về một số khái niệm niệm quan đến di sản như sau:

    Di sản văn hóa phi vật thể: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác”. ( Khoản 1 Điều 4 Luật Di sản văn hóa.)

    – Di sản văn hóa vật thể: “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,bao gồm di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.” (Khoản 2 Điều 4).

    – Di tích lịch sử – văn hóa:

    Di tích lịch sử – văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.”

    (Khoản 3 Điều 4).

     

    – Danh lam thắng cảnh:“Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học.” (Khoản 4. Điều 4.).

     - Di vật: “ Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”( Khoản 5 Điều 4).

    – Cổ vật: “Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lích sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên”(Khoản 6 Điều 4).

    – Bảo vật quốc gia: “Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.” (Khoản 7 Điều 4).

    b) Quản lý nhà nước về văn hóa

    Quản lý Nhà nước về văn hoá là gì?

    Từ định nghĩa trên chúng ta có thể làm rõ thêm nội hàm quản lý nhà nước về văn hóa, chỉ ra các thành tố cấu thành hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa.

    Thứ nhất

    : Chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa là Nhà nước. Nhà nước Việt Nam được tổ chức thống nhất từ trung ương đến các địa phương, quyền quản lý được phân cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh (tỉnh và các thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (huyện thuộc tỉnh, quận thuộc thành phố), cấp xã (xã thuộc huyện, phường thuộc quận). Quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp nào thì cơ quan nhà nước cấp ấy là chủ thể quản lý. Quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp xã thì UBND xã là chủ thể quản lý nhà nước. Công chức Văn hoá – Xã hội xã được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa giúp UBND xã có thể được coi là chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn xã.       

    Thứ ba:

    Mục đích quản lý nhà nước về văn hóa là: Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa ở từng cấp, từng địa phương, từng hoạt động cụ thể thì mục đích quản lý nhà nước về văn hóa phải được xác định cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ và hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ quản lý nhà nước chương trình mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thì cấp trung ương mục đích là gì? Cấp tỉnh, cấp quận huyện, cấp xã phường là gì? Phải được xác định một cách cụ thể. Có như vậy hoạt động quản lý mới hiệu quả.

    Thứ tư:

    Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về văn hóa là Hiến pháp, Luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Như vậy quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về văn hóa nói riêng có công cụ là hệ thống luật và các văn bản có tính pháp quy. Quản lý bằng pháp luật chứ không phải bằng ý chí của nhà quản lý!

    Thứ năm:

    Cách thức quản lý là “sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích” chứ không phải là việc làm có tính thời vụ, cũng không phải là sự thụ động của nhà quản lý, càng không phải là hoạt động đơn lẻ, tùy tiện của nhà quản lý.  

    Đối với người làm công tác quản lý nhà nước về văn hóa luôn tự đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi: Ai là người quản lý? Quản lý ai và quản lý cái gì? Quản lý vì cái gì? Trong tay mình đang có công cụ nào để quản lý? Ngoài 4 câu hỏi cơ bản trên, người quản lý có kinh nghiệm còn biết đặt một số câu hỏi có tính nghiệp vụ khác:  Mình đã nắm chắc các công cụ đó chưa? (luật và các văn bản quy phạm pháp luật)? Hoạt động quản lý đang diễn ra trong điều kiện, hoàn cảnh nào? Trách nhiệm và quyền hạn quản lý nhà nước của cấp mình đến đâu?… Người làm công tác quản lý nhà nước về văn hóa dù ở cấp nào cũng cần trả lời các câu hỏi trên một cách thuần thục mới có thể thực thi nhiệm vụ quản lý có hiệu quả.

    1.2. Quản lý nhà nước về gia đình

    1.2.1.Gia đình là đối tượng quản lý của nhà nước

    Nhà nước quản lý gia đình gắn  liền với quản lý công dân tại nơi cư trú. Đây là cách quản lý chặt chẽ nhất từ khi nhà nước ra đời. Gắn kết gia đình và nơi cư trú có các quy định của nhà nước về nhiều mặt như: quản lý hộ tịch, hộ khẩu thường trú, tạm trú, tạm vắng, đăng ký khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn, ly hôn, đăng ký kinh doanh, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm….

    K

    hái niệm quản lý nhà nước về gia đình có thể hiểu như sau:

    Quản lý nhà nước về gia đình là quản lý những vấn đề cơ bản thuộc nội dung và quan hệ gia đình nhằm định hướng, điều tiết sự phát triển gia đình theo một mục tiêu nhất định, nhằm phát huy vai trò của gia đình đối với cộng đồng xã hội và quốc gia; đây là quá trình tiến hành các hoạt động pháp lý, các hoạt động cung cấp biện pháp và dịch vụ của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu và nội dung trên.

    Khái niệm trên cho thấy, quản lý nhà nước về gia đình cũng mang những  đặc điểm chung của quản lý nhà nước và xã hội:

    -  Chủ thể quản lý nhà nước về gia đình là Nhà nước, cụ thể ở cấp Trung ương là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ở địa phương là Ủy ban nhân dân các cấp ( Sở VHTTDL, Phòng VHTT huyện, Ban VHTT cấp xã là cơ quan, tổ chức, tham mưu cho UBND cùng cấp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về gia đình của cấp mình)

      1.2.2. Nhiệm vụ quản lý nhà nước về gia đình

     

     - Tham mưu cho Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp về nội dung các nghị quyết, kế hoạch, chương trình công tác hàng năm về phòng, chống bạo lực gia đình; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc; phân công cán bộ, đảng viên phụ trách các địa bàn dân cư, các gia đình chính sách, gia đình khó khăn.Tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện hương ước, quy ước, quy chế dân chủ cơ sở nhằm xây dựng gia đình văn hoá.

      – Tổ chức tuyên truyền giáo dục luật pháp về gia đình

       – Tổ chức các lớp tập huấn trang bị kiến thức, kỹ năng về gia đình, giáo dục đời sống gia đình, phòng chống bạo lực gia đình; các buổi nói chuyện chuyên đề về luật pháp đối với gia đình.

    – Phối hợp và tổ chức các đợt tuyên truyền giáo dục pháp luật về gia đình lồng ghép vào các hoạt động .

    – Tổ chức giáo dục đời sống gia đình: Xây dựng, tổ chức và quản lý các mô hình can thiệp bạo lực gia đình; triển khai nội dung giáo dục gia đình thông qua mô hình Câu lạc bộ Gia đình phát triển bền vững,

    các loại hình câu lạc bộ của các tổ chức chính trị xã hội: Phụ nữ Nông dân, Thanh niên…, tổ tư vấn ;

    – Công tác xây dựng gia đình văn hoá: Tổ chức vận động các gia đình đăng kí, phấn đấu đạt danh hiệu gia đình văn hoá; Chủ trì tham mưu xét chọn các gia đình đạt

    tiêu chuẩn gia đình văn hoá, gia đình văn hoá tiêu biểu, làng văn hoá, khu phố văn hoá…

    – Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội Nông dân, Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh tổ chức thiết thực các hoạt động

    nhân Ngày gia đình Việt Nam 28/6 hàng năm, biểu dương các gia đình tiêu biểu trong xã.

    – Kiểm tra đánh giá, phân loại các kết quả hoạt động, phong trào.

    1.3. Quản lý nhà nước về Thể dục thể thao (TDTT)

    Cơ quan

    quản lý nhà nước về TDTT các cấp có trách nhiệm quản lý toàn diện công tác TDTT trên địa bàn ; quản lý các đơn vị sự nghiệp (Trung tâm đào tạo  huấn luyện Vận động viên thể thao; Trung tâm hoạt động thể thao; Trường năng khiếu thể thao, Câu lạc bộ thể thao; cơ sở dịch vụ hoạt động thể thao) và quản lý các tổ chức xã hội về TDTT cùng cấp (Liên đoàn, Hiệp hội câu lạc bộ thể thao)

    Có 8 nội dung

    quản lý nhà nước về TDTT (quy định tại Điều 6, Luật TDTT):

    – Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển và các văn bản quy phạm pháp luật về TDTT.

    – Tổ chức, chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho TDTT.

    – Kiểm tra, đánh giá phát triển TDTT quần chúng và hoạt động thi đấu thể thao.

     - Tổ chức, chỉ đạo hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực TDTT.

    – Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực phát triển sự nghiệp TDTT.

    -  Tổ chức, chỉ đạo công tác thi đua, khen thưởng trong hoạt động TDTT.

    – Tổ chức, chỉ đạo thực hiện hợp tác quốc tế về thể thao.

    – Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về TDTT

    Để thực thi các công việc nói trên, các cơ quan hành chính nhà nước về TDTT ở Trung ương và địa phương ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, đơn vị; đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ công chức; sử dụng quyền lực của cơ quan hành chính nhà nước; tài sản và tài chính công để thực thi công vụ trong lĩnh vực TDTT theo 3 chức năng cơ bản của

    quản lý nhà nước

    1.4. Quản lý nhà nước về du lịch

    Nội dung quản lý nhà nước về du lịch (viết tắt là QLNN) được quy định tại Điều 10, Luật Du lịch bao gồm:

    1) Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch.

    2) Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế – kỹ thuật trong hoạt động du lịch.

    3) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch.

    4) Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ.

    5) Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

    6) Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài.

    7) Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch.

    8) Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch.

    9) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch.

     QLNN là một bộ phận của quản lý nhà nước về kinh tế, nhưng do đặc thù của hoạt động du lịch, nên hoạt động QLNN có những đặc trưng riêng về thể chế quản lý, về tổ chức bộ máy, về quản lý nhân lực và cơ chế điều hành.

    Về thể chế quản lý:

    – Coi hoạt động của khách du lịch là đối tượng QLNN

    – Cần hệ thống văn bản pháp luật về du lịch đồng bộ, nhất quán, tránh dùng biện pháp hành chính

    – Không để việc “sản xuất” các sản phẩm du lịch diễn ra một cách tự phát, chạy theo lợi nhuận kinh tế ảnh hưởng đến tài nguyên cho phát triển bền vững.

    Về tổ chức bộ máy quản lý:

    – Bộ máy QLNN, trong hoạt động của mình đã thể hiện tính liên ngành rõ rệt.

    – Một trong chức năng của bộ máy QLNN là chức năng quản lý kinh tế đối ngoại.

    Về nhân lực:

    – Những người đứng đầu một doanh nghiệp du lịch thực hiện cả hai chức năng quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh.

    – Công chức làm chức năng QLNN, doanh nghiệp ngoài hiểu biết về pháp luật và nghiệp vụ cần am hiểu phong tục tập quán của mỗi địa phương, từng vùng và quốc tế; có trình độ văn hoá cao trong ứng xử giao tiếp

    V

    iệc quản lý nhân lực ngoài quản lý như thông lệ như các ngành kinh tế khác, còn phải điều hành theo chương trình

    2. Một số vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về văn hóa trong thời kỳ đổi mới

    2.1. Một số vấn đề chung trên phạm vi toàn quốc

      

     Quản lý nhà nước về văn hoá trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường là một trong những lĩnh vực có rất nhiều vấn đề đặt ra. Việc xác định vấn đề nào là trọng tâm trong quản lý nhà nước về văn hoá hiện nay có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả quản lý. Cần quan tâm về một số vấn đề sau trong quản lý nhà nước về văn hóa hiện nay.

    2.1.1. Vấn đề nhận thức

     Trong thực tiễn hoạt động nhiều năm qua, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, một vấn đề lớn đặt ra là: phát triển văn hoá chưa đồng bộ với phát triển kinh tế dẫn đến nhiều hệ lụy về phát triển xã hội, đồng thời làm cho phát triển kinh tế không bền vững. Nguyên nhân chính của vấn đề đó là: nhận thức chưa đầy đủ về văn hoá trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá.

    – Đổi mới kinh tế đi trước một bước.

    Đó là sự sáng tạo trong hoàn cảnh cụ thể ở nước ta chỉ có thể đạt hiệu quả với điều kiện phải nhận thức đúng là: kinh tế đi trước một bước để tiếp tục đổi mới  văn hoá – xã hội đồng bộ cùng với phát triển kinh tế. “ Đi trước một bước” không có nghĩa là đổi mới kinh tế xong mới đổi mới văn hoá, “ hy

    sinh văn hoá” để phát triển kinh tế. Trên thực tế, nhiều nơi, nhiều lúc yếu tố văn hoá đã bị coi nhẹ vì phát triển kinh tế. Nhìn tổng thể, đổi mới văn hoá chưa theo kịp đổi mới kinh tế.

    – Vai trò quản lý nhà nước về văn hoá chưa được nhận thức đúng đắn.

    Trong xã hội có người cho rằng văn hoá là nhu cầu của con người, nó phát sinh phát triển theo nhu cầu tự nhiên, hãy để nó phát triển theo quy luật vốn có của nó. Những người có quan niệm như vậy không nhiều, nhưng quan niệm ấy lại là cái cớ để tồn tại những lệch lạc trong nhìn nhận quản lý nhà nước về văn hoá: Quản lý hay không quản lý thì văn hoá cũng cứ phát triển theo đường đi của nó.

    – Đổi mới nhận thức về quản lý nhà nước bất cập so với phát triển văn hoá.

    Các hoạt động văn hoá ngày càng đa dạng, các dịch vụ văn hoá cũng phát triển khá mạnh, một mặt đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội, mặt khác cũng gây nhiều hệ lụy với những đánh giá khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, gây tâm trạng bất an

    trong dư luận xã hội. Quản lý nhà nước không theo kịp sự phát triển, thêm vào đó còn tồn tại cách hiểu sai “quản lý đến đâu, phát triển đến đó” dẫn đến nhận thức lệch lạc, quy quản lý nhà nước vào một việc cho và không cho (đẻ ra tệ xin – cho với bao hệ lụy đi kèm), dẫn đến cách quản lý hạn chế sự phát triển “không quản lý được thì cấm”!

    2.1.2. Vấn đề đặt ra từ thực trạng quản lý di sản văn hóa và các hoạt động văn hóa

    a) Về quản lý di sản văn hoá

    Trên phạm vi toàn quốc đã tiến hành kiểm kê, đánh giá, xếp hạng các di sản văn hoá. Đặc biệt là việc lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận xếp hạng nhiều di tích, danh thắng thế giới của Việt Nam như: Di sản Cố đô Huế, Hoàng thành Hà Nội, Văn bia Văn Miếu – Quốc tử giám, Nhã nhạc cung đình Huế,  Quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Cồng chiêng Tây Nguyên…và các di sản thiên nhiên khác. Việc trùng tu, tôn tạo hàng ngàn di sản văn hoá vật thể; phát hiện, giữ gìn và phát huy nhiều di sản văn hoá phi vật thể có giá trị. Tuy nhiên vẫn còn những vấn đề đặt ra cụ thể sau :

    – Việc lập hồ sơ xếp hạng di sản chưa theo kịp yêu cầu bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong điều kiện mới.

    – Việc trùng tu, tôn tạo di sản văn hoá vật thể chưa đáp ứng nhu cầu chống xuống cấp. Mặt khác, nhiều nơi trùng tu tôn tạo làm mất đi giá trị gốc của di sản.

    – Việc phát hiện và giữ gìn di sản văn hoá phi vật thể chưa kịp thời dẫn đến mai một di sản khó khắc phục. Việc giữ gìn các hiện vật chủ thể của di sản văn hoá phi vật thể chưa được coi trọng, thậm chí còn mua bán, trao đổi như cồng chiêng Tây Nguyên…

    – Việc phát huy các giá trị di sản văn hoá làm chưa bài bản, thậm chí còn sai lệch làm giảm giá trị gốc của di sản.

    – Việc đăng ký cố vật, giữ gìn và quảng bá cổ vật còn hiều hạn chế, thậm chí nhiều nơi để mất cắp cổ vật mức độ đáng báo động.

    Nguyên nhân chủ quan của những vấn đề trên trước tiên phải kể đến sự hạn chế về kiến thức chuyên ngành và năng lực quản lý của cán bộ quản lý văn hoá các cấp. Nguyên nhân khách quan cơ bản là do các di sản văn hoá vật thể được xây dựng cách đây hàng trăm năm, thậm chí còn lâu hơn, lại là công trình bằng gỗ, gạch … theo thời gian đã xuống cấp nghiêm trọng, thậm chí đã thành phế tích khó khôi phục. Mặt khác, những tài liệu về di sản không được lưu giữ, hiểu biết của chúng ta về di sản còn hạn chế, chuyên gia, kỹ thuật viên, thợ lành nghề rất thiếu cùng với nó là tài

    chính quá lớn so với kinh tế kém phát triển trong thời gian dài. Những tổ chức, cá nhân “hảo tâm” đóng góp trùng tu di sản đôi khi can thiệp quá sâu làm sai lệch yếu tố nguyên gốc của di sản. Về di sản văn hoá phi vật thể không được quan tâm trong thời gian dài nên việc gữ gìn và phát huy giá trị gặp nhiều khó khăn, thậm chí khó khắc phục. Chuyên gia, cán bộ về lĩnh vực này rất thiếu và không được đào tạo bài bản.

    b) Về quản lý các hoạt động văn hoá

    Những bất cập chủ yếu trong quản lý hoạt động văn hoá :

    – Quản lý chưa theo kịp sự phát triển các loại hình hoạt động văn hoá và nhu cầu về hoạt động văn hoá của xã hội.

    – Hoạt động phát triển sự nghiệp văn hoá và dịch vụ văn hoá không được phân định rõ, nhiều khi pha tạp, lẫn lộn khó quản lý.

    – Quản lý hoạt động văn hoá trên các phương tiện nghe nhìn thiếu đồng bộ, chồng chéo, bất cập, kém hiệu quả.

    Để nhận diện rõ hơn những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước các hoạt động văn hoá chúng ta chia hoạt động văn hoá theo mấy mảng sau: hoạt động sáng tạọ văn hoá, nghệ thuật; hoạt động biểu diễn nghệ thuật; hoạt động  tổ chức sự kiện văn hoá, lễ hội; dịch vụ văn hoá.

    – Quản lý hoạt động sáng tạo văn hoá, nghệ thuật hầu như chưa có nhiều đổi mới. Cách thức cũ, nội dung cũ, kém hiệu quả. Những vấn đề đặt ra về hợp tác quốc tế trong sáng tạo văn hoá, nghệ thuật hầu như còn để ngỏ hoặc có đề cập nhưng chưa sâu, chưa cụ thể, khó triển khai.

    – Quản lý hoạt động biểu diễn vừa bất cập về nhận thức, vừa bất cập về phương

    thức, lúng túng trong quản lý dẫn đến tình trạng vừa buông lỏng vừa bó chặt, kém hiệu quả.

    – Hoạt dộng văn hoá luôn phát triển theo nhu cầu xã hội, nhu cầu càng đa dạng, hoạt động càng phong phú, việc quản lý không theo kịp sẽ càng tích tụ những bất cập cũ và nảy sinh các bất cập mới. Người làm công tác văn hoá không vì thế mà lúng túng làm rối công việc. Điều quan trọng là nhận diện bất cập, kịp thời đổi mới, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn khách quan.    

    c) Về cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và các phong trào văn hoá khác

    Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” là một cuộc vận động lớn, kế thừa một cách tổng hợp kết quả của nhiều phong trào trong nhiều năm của nhiều tổ chức, cơ quan từ trung ương đến địa phương. Kết quả của cuộc vận động có ý nghĩa thiết thực trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, cuộc vận động đang có những vấn đề đặt ra cả về tổ chức chỉ đạo, cả về hình thức và nội dung hoạt động.

    – Về tổ chức chưa có sự thống nhất ngay từ đầu về vai trò của các cơ quan văn hoá và tổ chức Mặt trận các cấp dẫn đến ban chỉ đạo ở các địa phương và trung ương chưa hoàn toàn thống nhất về mặt tổ chức.

    – Việc kế thừa kết quả của các phong trào của ngành văn hoá và của Mặt trận còn có điểm chưa thống nhất, thường theo quán tính, nếp quen cũ, chưa gắn kết cả về cách nghĩ và cách làm. Khái niệm khu dân cư của Mặt trận chưa được làm rõ và thống nhất, ngược lại, lực lượng cơ sở của văn hoá quá mỏng không thể đảm đương công việc chính tại cơ sở để vận động phong trào.

    Nội dung và hình thức phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, cơ quan văn hoá còn nhiều vấn đề đặt ra về chất lượng, ý nghĩa, tác dụng của việc công nhận danh hiệu, hình thức tôn vinh, khen thưởng gia đình văn hoá, làng văn hoá.

    – Cuộc vận động cần có nội dung, hình thức mới phù hợp hơn, đi vào chiều sâu tránh hình thức, nhàm chán, kém hiệu quả.

    2.2. Một số vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về văn hoá ở các xã khu vực đồng bằng

    2.2.1. Đối với các xã đồng bằng Bắc Bộ

    Các xã vùng đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi của văn hoá truyền thống mà ở đó thường có đình, chùa, miếu được xây dựng lâu đời, có giá trị văn hoá được xếp hạng di tích; có nhiều lễ hội độc đáo giàu bản sắc kèm theo đó là các di sản văn hoá phi vật thể như quan họ, ca trù, xẩm, hát xoan…các làng nghề còn lưu giữ đến ngày nay. Điều đó khẳng định vấn đề lớn nhất đối với các xã đồng bằng Bắc Bộ là quản lý di sản văn hoá vật thể và phi vật thể.

    – Nhiều địa phương, đình chùa đã bị đập phá hoặc sử dụng sai mục đích nên đã xuống cấp nghiêm trọng.

    – Số lượng di sản lớn, việc kiểm kê, đánh giá và xếp hạng chậm, nhiều di tích xuống cấp nghiêm trọng không được bảo vệ, nhiều di sản đã thành phế tích khó khôi phục

    .

    – Nhiều di sản đã được xếp hạng, nhưng do số lượng lớn, các di sản vật thể chủ yếu là các công trình gạch, gỗ lâu năm đã xuống cấp, không đủ kinh phí tu sửa kịp thời càng xuống cấp, càng khó tu sửa. Nhiều công trình tu sửa vội, không cân nhắc, nghiên cứu kỹ làm mất đi dáng vẻ ban đầu, thậm chí làm sai lệch, giảm giá trị của di sản.

    – Trình độ chuyên môn công chức Văn hoá – Xã hội xã không đồng đều, khối lượng công việc lớn, chưa chuyên sâu công tác văn hoá nên hiệu quả quản lý không cao.

    – Di sản văn hoá phi vật thể gắn liền với đời sống các nghệ nhân, đời sống khó khăn ở vùng nông thôn kéo dài cải thiện chưa được bao nhiêu. Các nghệ nhân có tên tuổi đều đã già yếu. Nhiều người đã mất, đem theo cả tài sản văn hoá đi theo. Khôi phục lại gặp nhiều khó khăn.

    – Cổ vật thường gắn với cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng việc bảo vệ cổ vật là vấn đề nan giải đối với nhiều địa phương.

    – Ngoài di sản văn hoá vấn đề quản lý các hoạt động văn hoá, lễ hội, dịch vụ văn hoá cũng còn nhiều vấn đề đặt ra như đã nêu trên.

    2.2.2. Đối với các xã đồng bằng Trung Bộ

    Các xã đồng bằng Trung Bộ trải dài theo chiều dài đất nước có nhiều di sản văn hoá độc đáo của các dân tộc khác nhau. Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ một thời gian dài chịu sự quản lý của hai thể chế chính trị khác nhau lại cùng chịu hậu quả nặng nề nhất của chiến tranh, đồng thời cũng là nơi có khí hậu khá khắc nghiệt, kinh tế kém phát triển, đời sống vật chất nhiều khó khăn nên vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về văn hoá nổi lên là việc bảo vệ và tu bổ các di sản văn hoá và thực hiện các chương trình mục tiêu.

    – Do chiến tranh và nhận thức cũng như điều kiện vật chất thiếu thốn nhiều di sản văn hoá các xã đồng bằng Trung Bộ ở cả hai miền trước đây bị tàn phá nặng nề, sau hoà bình vẫn chưa có điều kiện trùng tu, tôn tạo làm cho việc chống xuống cấp càng cấp bách hơn các khu vực khác trong cả nước.

    – Là vùng kinh tế chưa phát triển mạnh, nhiều xã thiếu kinh phí lập hồ sơ, làm dự án bảo vệ di sản…

    – Nhiều giá trị văn hoá phi vật thể đồng bằng Trung Bộ chưa được sưu tầm và phát huy đầy đủ trong đời sống hiện đại.

    2.2.3. Đối với các xã đồng bằng Nam Bộ

    Đồng bằng Nam Bộ là vựa lúa của cả nước đồng thời cũng là cái nôi của dân ca, đàn ca tài tử và những lễ hội giàu bản sắc dân tộc. Đồng bằng Nam Bộ là nơi sinh sống của các tộc người khác nhau, trong đó người Khơ Mer sống tập trung trong các làng xã vẫn giữ được nhiều nét văn hoá riêng độc đáo. Vấn đề đặt ra ở đây là việc gìn giữ và phát huy di sản văn hoá phi vật thể giàu bản sắc mà vẫn giữ được thống nhất trong phát triển.

    – Sự am hiểu về lễ hội, tôn giáo của các cộng đồng dân cư là vấn đề cần được quan tâm đối với các công chức Văn hoá – Xã hội xã. Không am hiểu đễ mắc sai lầm theo hướng vi phạm các quy định về tự do tôn giáo, tín ngưỡng, hoặc ngược lại giữ bản sắc riêng mà làm mất đi tính thống nhất của văn hoá dân tộc.

    – Chương trình mục tiêu xây dựng đời sống văn hoá cơ sở cần đi vào chiều sâu nhằm góp phần tổ chức đời sống cộng đồng làng xã theo hướng hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá ứng xử với môi trường sông nước (nhất là mùa nước nổi), chứ không phải chống lại thiên nhiên vốn rất ưu ái với vùng đồng bằng giàu có

    này.

    *****************

    1.Quản lý là gì? Quản lý nhà nước về văn hoá là gì?

    2. Vì sao nói: Nhà nước với vai trò chủ thể quản lý quyết định đặc điểm của quản lý nhà nước về văn hoá gia đình, thể thao và du lịch?

    3. Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về văn hoá, gia đình hiện nay ở địa phương đồng chí? Bài học kinh nghiệm giải quyết những vấn đề đó.

    4. Khó khăn nhất đối với việc thực thi nhiệm vụ của công chức Văn hóa – Xã hội xã là gì? Đề xuất kiến nghị?

    Tài liệu tham khảo

    1. Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương: Tư tưởng Hồ Chíu Minh về văn hoá. Hà Nội 2003;

    2. Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương: Xã hội hoá hoạt động văn hoá – Một số vấn đề lý luận và thực tiến. Hà Nội 2008

    3. PTS. Nguyễn Chí Bền (Tổ chức bản thảo). Hỏi và đáp về văn hoá Việt Nam. Nxb Văn hóa Dân tộc. Hà Nội 1998.

    4. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch: Văn bản của Đảng và Nhà nước về nếp sống văn hoá. Hà Nội. 2008

    5. Bộ VHTT – Cục VHTT cơ sở: Xây dựng gia đình văn hoá trong sự nghiệp đổi mới. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997.

    6. Khang Thức Chiêu (chủ biên): Cải cách thể chế văn hoá. Tập I,II. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1996.

    7. TS. Nguyễn Viết Chức (Chủ biên). Xây dựng tư tưởng đạo đức lối sống và đời sống văn hoá. Viện Văn hoá & Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2001.

    8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung Trung ương lần thứ 5, khoá VIII.

    9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.

    10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI

    12.. PGS. TS. Phạm Duy Đức: Phát triển văn hoá Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội .2009.

    13. Luật Sở hữu trí tuệ. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2005.

    14. Luật Di sản văn hoá và Nghị định hướng dẫn thi hành. Nxb.

    Chính trị quốc gia,

    Hà Nội. 2002.

    15. Luật Thể dục, Thể thao. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2006.

    16. Luật Điện ảnh. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    17. Luật Du lịch. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.  

    18.  Phan Ngọc: Bản sắc Văn hoá Việt Nam. Nxb Văn học. 2006

    19. Văn Quân: Về các giá trị dân tộc. NXB. Văn hóa Dân tộc. Hà Nội.1995

    20. PGS.TS. Hoàng Vinh: Một số vấn đề lý luận văn hoá thời kỳ đổi mới. Nxb, Chính trị quốc gia, 1996.

    21. GS. TS Hoàng Vinh: Mấy vấn đề lý luận và thực tiến xây dựng văn hoá ở nước ta. Viện Văn hoá & Nxb Văn hóa Thông tin.Hà Nội. 1999

    22. Viện Văn hoá: Văn hoá và phát triển. Nxb Văn hóa Thôn tin, Hà Nội.1995.

    23. Hồ Sĩ Vinh –  Huỳnh Khái Vinh ( Đồng chủ biên). Văn hoá Việt Nam một chặng đường. Nxb Văn hóa Thông tin 1994.

    24. Trần Quốc Vượng (Chủ biên): Cơ sở văn hoá Việt Nam. Nxb Giáo dục 2008

    CHỨC TRÁCH NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TIÊU CHUẨN NGHIỆP VỤ CỦA CÔNG CHỨC VĂN HÓA-XÃ HỘI XÃ

    TS. NSƯT. NGUYÊN VĂN KHÁNH

    Ths. HOÀNG THỊ BÌNH

    Thời lượng: 8 tiết

    A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

    1. Mục đích:

    – Cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản về chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn và tiêu chuẩn nghiệp vụ của công chức văn hóa-xã hội Xã.

    – Nâng cao kiến thức quản lý và kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn của công chức văn hóa-xã hội Xã.

    2. Yêu cầu

    : Học viên nắm vững chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn và tiêu chuẩn nghiệp vụ của công chức văn hóa-xã hội xã, đồng thời ứng dụng có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn ở địa phương.

    B. NỘI DUNG

    1. Khái niệm

    1.1. Khái niệm về cán bộ, công chức

    Điều 4, Luật Cán bộ, Công chức số 22/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 của Quốc Hội nước Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định:

    1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 

    2.

    Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong

    cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và

    trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ

    quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

    3. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

    1.2. Chức vụ, chức danh cán bộ, công chức cấp xã.

    Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ công chức bao gồm cán bộ cấp xã và công chức cấp xã.

    Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:

    a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;

    b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

    c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;

    d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

    đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

    e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

    g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

    h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. 

    Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:

    a) Trưởng Công an;

    b) Chỉ huy trưởng Quân sự;

    c) Văn phòng – thống kê;

    d) Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã);

    đ) Tài chính – kế toán;

    e) Tư pháp – hộ tịch;

    g) Văn hóa – xã hội.

    Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý.

    1.3. Nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức cấp xã

    – Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân :

    1. Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.

    2. Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân.

    3. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân.

    4. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

    – Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ:

    1. Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

    2. Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.

    3. Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

    4. Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao.

    5. Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

    6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    2. Chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn và tiêu chuẩn nghiệp vụ

    của công chức Văn hoá – Xã hội xã.

    Điều 14, Chương II, trong Quy định Tiêu chuẩn, nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (Ban hành kèm theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ) đã nêu rõ:

    2.1. Chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn

    – Giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc thông tin tuyên truyền giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tình hình kinh tế – chính trị ở địa phương và đấu tranh chống âm mưu tuyên truyền phá hoại của địch; báo cáo thông tin về dư luận quần chúng về tình hình môi trường văn hoá ở địa phương lên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.

    – Giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, văn hoá văn nghệ quần chúng, các câu lạc bộ, lễ hội truyền thống, bảo vệ các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh ở địa phương, điểm vui chơi giải trí và xây

    dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, ngăn chặn việc truyền bá tư tưởng phản động, đồi trụy dưới hình thức văn hoá, nghệ thuật và các tệ nạn xã hội khác ở địa phương.

    – Giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc tổ chức vận động để xã hội hoá các nguồn lực nhằm xây dựng, phát triển sự nghiệp văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao,

    bảo vệ các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các điểm vui chơi giải trí ở địa phương.

    – Hướng dẫn, kiểm tra đối với tổ chức và công dân chấp hành pháp luật trong hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao.

    – Lập chương trình, kế hoạch công tác văn hoá, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động, thương binh và xã hội trình Uỷ ban nhân dân cấp xã và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch được phê duyệt.

    – Thống kê dân số, lao động, tình hình việc làm, ngành nghề trên địa bàn; nắm số lượng và tình hình các đối tượng chính sách lao động – thương binh và xã hội.

    – Hướng dẫn và nhận hồ sơ của người xin học nghề, tìm việc làm, người được hưởng chính sách ưu đãi, chính sách xã hội trình Uỷ ban nhân dân xã giải quyết theo thẩm quyền.

    – Theo dõi và đôn đốc việc thực hiện chi trả trợ cấp cho người hưởng chính sách lao động, thương binh và xã hội…

    – Phối hợp với các đoàn thể trong việc chăm sóc, giúp đỡ các đối tượng chính sách; quản lý các nghĩa trang liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ và bảo trợ xã hội, việc nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng xã hội ở cộng đồng.

    – Theo dõi thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo.

    – Giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện sơ kết, tổng kết báo cáo công tác văn hoá, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động – thương binh và xã hội ở xã, phường, thị trấn.

    Lưu ý:

    Các cấp uỷ Đảng và các cấp Chính quyền địa phương căn cứ vào chỉ tiêu biên chế cấp xã loại I , loại II, loại III được quy định tại Nghị định 92 của chính phủ mà sắp xếp bố trí tuyển dụng công chức văn hoá – xã hội xã sao cho phù hợp và tương xứng với hoàn cảnh và điều kiện của từng địa phương. Nếu các xã loại I và loại II chỉ tiêu biên chế được quy định nhiều hơn thì có thể tuyển dụng 02 công chức văn hoá-xã hội xã. Và căn cứ vào trình độ năng lực của từng người mà phân công, phân nhiệm phần việc nào thuộc lĩnh vực văn hoá, phần việc nào thuộc lĩnh vực xã hội một cách rành mạch, rõ ràng, tránh sự chồng chéo, tạo điều kiện cho hai cán bộ công chức có cùng chức danh văn hoá- xã hội xã hoạt động có hiệu quả.

    2. 2. Tiêu chuẩn

    – Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.

    – Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.

    – Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên.

    2.3. Chế độ chính sách của Nhà nước đối với công chức văn hóa-xã hội xã.

    (

    Căn cứ theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã).

    – Chế độ tiền lương, phụ cấp

    Công chức cấp xã nói chung và công chức văn hóa-xã hội xã nói riêng nếu tốt nghiệp trình độ đào tạo từ sơ cấp trở lên phù hợp với chuyên môn của chức danh đảm nhiệm, thực hiện xếp lương như công chức hành chính quy định tại bảng lương số 2 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước), bảng lương số 4 (Bảng lương nhân viên thừa hành, phục vụ trong các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về việc chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang), nếu chưa tốt nghiệp đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định thì được hưởng lương bằng 1,18 so với mức lương tối thiểu chung;

    – Chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế

    Cán bộ cấp xã quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định này; công chức cấp xã quy định tại điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị định này và cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định này trong thời gian đảm nhiệm chức vụ, chức danh thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc theo quy định của pháp luật.

     Trường hợp cán bộ, công chức cấp xã khi nghỉ việc đã hết tuổi lao động, có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần, có nhu cầu tham gia bảo hiểm xã

    hội tự nguyện thì được đóng tiếp theo quy định tại Nghị định số 190/2007/NĐ-CP

    ngày 28 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ đến khi đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội thì được hưởng lương hưu hàng tháng.

    – Chế độ đào tạo, bồi dưỡng

    Cán bộ, công chức cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức phù hợp tiêu chuẩn chức danh hiện đang đảm nhiệm và theo quy hoạch cán bộ, công chức.

    Hình thức đào tạo, bồi dưỡng công chức bao gồm:

    a) Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức;

    b) Đào tạo, bồi dưỡng theo các chức danh lãnh đạo, quản lý.

    Nội

    dung, chương trình, thời gian đào tạo, bồi dưỡng công chức do Chính phủ Quy định.

    Cán bộ, công chức cấp xã khi được cử đi đào tạo, bồi dưỡng, được hưởng chế độ như sau:

    a) Được cấp tài liệu học tập;

    b) Được hỗ trợ một phần tiền ăn trong thời gian đi học tập trung;

    c) Được hỗ trợ chi phí đi lại từ cơ quan đến nơi học tập.

    3.. Đặc điểm tình hình đội ngũ cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã hiện nay

    Theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn thì cán bộ công chức văn hóa -xã hội xã có 11 nhiệm vụ trọng tâm. Tuy nhiên trong thực tế, cán bộ công chức văn hóa – xã hội xã phải thực hiện nhiều hơn con số 11 nhiệm vụ. Qua quá trình khảo sát thực tế tại một số địa phương trên cả nước, có thể liệt kê những nhiệm vụ của cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã như sau:

    – Tham mưu giúp UBND trong việc tổ chức các hoạt động TDTT, văn hóa, văn nghệ quần chúng, xây dựng các câu lạc bộ, lễ hội truyền thống, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh ở xã, điểm vui chơi giải trí và xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, kiểm tra các dịch vụ văn hóa, tổ chức phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, phụ trách đài truyền thanh, ngăn chặn việc truyền bá tư tưởng phản động, đồi trụy dưới hình thức văn hóa, nghệ thuật và các tệ nạn xã hội khác trên địa bàn xã.

    – Giúp UBND xã trong việc tổ chức vận động để xã hội hóa các nguồn lực nhằm xây dựng, phát triển sự nghiệp văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao …

    – Hướng dẫn, kiểm tra đối với các tổ chức và công dân chấp hành pháp luật trong các hoạt động văn hóa thông tin, thể dục, thể thao …

    – Lập chương trình, kế hoạch công tác văn hóa, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao và tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch đã được phê duyệt.

    Đội ngũ cán bộ công chức văn hóa – xã hội xã vùng Đồng bằng có những đặc điểm sau:

    Về trình độ: Hầu hết cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã đều được đào tạo từ nhiều ngành khác nhau trong khi đó đòi hỏi loại cán bộ này cần có chuyên môn đào tạo đa dạng do đó gặp khó khăn trong quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch, không có khả năng bao quát nhiệm vụ được phân công phụ trách. (Ví dụ: Bắc Ninh có 08 cử nhân, 05 Cao đẳng, 87 Trung cấp, Hưng Yên có 16% Đại học, 3% Cao đẳng, 67% Trung cấp, 14% Sơ cấp…)

    Về kỹ năng: Không có hoặc rất hạn chế kỹ năng sáng tạo và vận dụng những điều kiện hiện có, khai thác các nguồn lực xã hội và đổi mới phương pháp để thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả hơn, còn hạn chế trong công tác tham mưu cũng như hiệu quả tổ

    chức triển khai các hoạt động của phong trào văn hóa, thể dục thể thao, du lịch và gia đình.

    Về đào tạo, bồi dưỡng: Hàng năm tuy vẫn được duy trì chế độ bồi dưỡng nghiệp vụ do ngành cấp trên tổ chức song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, vẫn mang tính khái quát thiên về bồi dưỡng kiến thức mà chưa đưa ra được các kỹ năng trang bị cho cán bộ văn hóa-xã hội xã, thực tế là đội ngũ cán bộ công chức xã không được đào tạo đa ngành để đáp ứng những yêu cầu của công việc hiện nay, trong khi đó cán bộ văn hóa-xã hội xã phải phụ trách nhiều công việc nên rất khó có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao.

    4. Vai trò, vị trí và tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ công chức văn hóa -xã hội xã.

    4.1. Vai trò

    Sau khi nghiên cứu 11 nhiệm vụ, cũng như tiêu chuẩn chức danh cán bộ công chức Văn hóa-Xã hội xã phần văn hóa đã được Bộ Nội vụ ban hành kèm theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; Qua khảo sát thực tế trên 43 tỉnh thành đại diện cho các vùng miền trọng điểm của cả nước, ta nhận thấy người cán bộ công chức Văn hóa-Xã hội xã có vai trò rất quan trọng đối với đời sống văn hoá – xã hội ở cơ sở. Họ chẳng khác nào như sợi chỉ đỏ xuyên suốt có sức mạnh truyền tải đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tới quần chúng nhân dân trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có: Văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch đạt hiệu quả cao nhất. Đồng thời, họ cũng chính là nhịp cầu nối liền những tình cảm, tâm tư, sáng kiến, kiến nghị, đề xuất của nhân dân đến với các cấp uỷ Đảng và các cấp Chính quyền địa phương, để các cấp uỷ Đảng và các cấp Chính quyền địa phương phản ảnh kịp thời với Trung ương Đảng, Nhà nước nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung quan điểm đường lối, chính sách pháp luật, sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

    4.2. Vị trí và tầm quan trọng

    Nghiên cứu chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, tiêu chuẩn nghiệp vụ và vai trò của công chức văn hóa, xã hội xã, chúng ta nhận thấy người cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã có vị ví và tầm quan trọng rất to lớn đối công tác quản lý các hoạt động văn hoá – xã hội ở cơ sở. Họ là những người làm việc vừa có tinh thần trách nhiệm cao, vừa có khả năng thúc đẩy các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình, du lịch, phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa, phòng chống bạo lực gia đình… Trên địa bàn xã ngày càng có chất lượng và hiệu quả. Nổi bật là những công việc trọng tâm sau đây:

    – Thông tin tuyên truyền giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tình hình kinh tế – chính trị ở địa phương và đấu tranh chống âm mưu tuyên truyền phá hoại của địch; Nhận diện và phân biệt các loại hình tôn giáo, tín ngưỡng, mê tín dị đoan.

    – Xây dựng quy hoạch, kế hoạch hàng năm và kế hoạch 5 năm trong vấn đề phát triển các hoạt động thể dục, thể thao, văn hoá văn nghệ quần chúng, các câu lạc bộ, lễ hội truyền thống, bảo vệ các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh và xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá ở địa phương.

    – Tổ chức vận động để xã hội hoá các nguồn lực nhằm xây dựng, phát triển sự nghiệp văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, bảo vệ các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các điểm vui chơi giải trí ở địa phương.

    – Phối hợp với các đoàn thể trong việc chăm sóc, giúp đỡ các đối tượng chính sách; quản lý các nghĩa trang liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ và bảo trợ xã hội, việc nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng xã hội ở cộng đồng.

       – Xây dựng nội dung kịch bản chương trình Hội nghị và kịch bản tổ chức các Sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch.

       – Phối hợp với Ban Văn hóa xã, Ban chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.

    – Phổ biến, tuyên truyền, vận động, quản lý và hướng dẫn quần chúng nhân dân trong việc tổ chức việc cưới, việc tang, lễ hội, xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn xã.

    – Quản lý và tổ chức các hoạt động trong Nhà văn hóa, Khu văn hóa thể thao, Trung tâm Văn hóa, Khu vui chơi giải trí ở cơ sở.

    – Quản lý và tổ chức các hoạt động thông tin, cổ động, tuyên truyền, trang trí khánh tiết phục vụ đại hội, hội nghị trên địa bàn xã

    – Quản lý và khai thác các giá trị di sản văn hóa phục vụ hoạt động du lịch trên địa bàn xã.

    Tuyên truyền, vận động và giám sát việc thực hiện Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật phòng chống Bạo lực gia đình trên địa bàn xã.

    – Quản lý và tổ chức các phong trào thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ quần chúng.

     Với vị trí và tầm quan trọng to lớn của đội ngũ cán bộ công chức văn hoá – xã hội xã như đã nêu ở trên nhưng trên thực tế chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội đối với đội ngũ cán bộ công chức cấp xã nói chung, cán bộ công chức văn hoá- xã hội xã nói riêng hiện còn nhiều bất cập (trung bình hưởng bậc lương khởi điểm là 1,18 (trừ những công chức đã tốt nghiệp đại học). Với mức lương khởi điểm là 1,18 thì công chức văn hóa – xã hội xã rất khó có thể ổn định đời sống trong thời kỳ nền kinh tế nước nhà có nhiều biến động như hiện nay. Để giải quyết vấn đề thu nhập thấp của công chức văn hóa – xã hội xã, đồng thời nâng cao hơn nữa chất lượng các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch, xây dựng đời sống văn hóa mới, xóa bỏ bạo lực gia đình… Nhà nước cần phải có một cơ chế chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với đội ngũ cán bộ công chức văn hoá-xã hội xã; Đồng thời các cấp uỷ Đảng và các cấp Chính quyền địa phương cũng phải quan tâm đến đời sống của cán bộ công chức văn hoá – xã hội xã tại địa phương mình đang quản lý, tạo điều kiện cho họ yên tâm công tác và phát triển.

    5. Nhu cầu học tập nâng cao trình độ quản lý và kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công chức văn hoá – xã hội xã

    5.1. Tầm quan trọng của việc học tập nâng cao trình độ quản lý và kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công chức văn hoá – xã hội xã

    Như đã trình bày ở trên người cán bộ công chức văn hoá-xã hội xã có vai trò, vị trí và tầm quan trọng rất to lớn đối với công tác quản lý và phát triển các hoạt động văn hoá – xã hội ở cơ sở.

    Đặc điểm hạn chế nổi bật của đội ngũ cán bộ công chức

    văn hoá – xã hội xã

    ở các vùng nông thôn là

    trình độ năng lực còn nhiều khập khiễng, bất cập, lúng túng và bị động. Hầu hết đội ngũ này đều được lớn lên và trưởng thành từ các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng, chưa được đào tạo nghiệp vụ chuyên môn cũng như lý luận Chính trị – Hành chính chuyên sâu, đa phần là trình độ trung cấp, rất hiếm trình độ đại học, đặc biệt ở những vùng trung du, miền núi, dân tộc cho đến thời điểm này vẫn còn không ít cán bộ công chức văn hoá – xã hội xã chưa đạt tới trình độ trung cấp; Trong khi đó họ

    cùng một lúc phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau, lại thường xuyên thay đổi, rất ít cán bộ được công tác lâu dài vì phần lớn phụ thuộc vào cơ cấu nhân sự của Cấp ủy, Hội Đồng Nhân Dân và Ủy ban nhân dân cấp xã theo từng nhiệm kỳ. Thông thường những cán bộ công chức

    văn hóa – xã hội xã

    có phẩm chất, năng lực, chuyên môn và kinh nghiệm công tác tốt sẽ được Cấp ủy, Hội Đồng Nhân Dân và Ủy ban nhân dân cấp xã nhiệm kỳ mới tiến cử, hoặc đề bạt, bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ tịch phụ trách văn xã, ngược lại có thể sẽ phải nghỉ công tác hoặc chuyển đổi bố trí công việc khác, thay vào đó là nhân sự mới. Nhân sự mới rất ít người có nghề nghiệp tương đồng với các hoạt động văn hóa, thể thao gia đình và du lịch, cũng có thể đang công tác ở lĩnh vực khác chuyển sang hoặc mới được tuyển dụng và tình trạng đó lặp đi lặp lại theo từng nhiệm kỳ, nên trong thực tế trình độ và năng lực công tác của đội ngũ cán bộ công chức

    văn hoá-xã hội xã

    ở các vùng nông thôn hiện nay đang ở trong tình trạng đáng quan ngại.

    Do đó, hơn ai hết họ rất quan tâm đến việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, và mong muốn được học tập nâng cao kiến thức quản lý nhà nước và kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn, để đủ sức, đủ lực hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; Đồng thời tự thân họ luôn có ý thức trau dồi bản lĩnh chính trị, không hoang mang, dao động trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; và như vậy họ rất cần được các cấp uỷ Đảng và các cấp Chính quyền địa phương thường xuyên, liên tục mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng để giúp họ không chỉ có khả năng tổ chức, quản lý mà còn biết phát huy thế mạnh các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch của từng địa phương, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho nhân dân, giúp cho nhân dân biết gạn đục khơi trong, biết trân trọng giữ gìn những giá trị đạo đức truyền thống cao quí của gia đình, dòng tộc, nói rộng ra là của xứ sở quê hương đúng với cốt cách, tâm hồn và tinh thần yêu nước nồng nàn của cả dân tộc đã được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, làm cho đời sống văn hoá, thể thao, gia đình và du lịch của mỗi địa phương thêm phong phú, sinh động, hấp dẫn và ngày càng phát triển trở nên nhu cầu thiết yếu đối với họ hơn bao giờ hết.

    Vậy làm thế nào để người cán bộ công chức văn hoá – xã hội xã có khả năng quản lý, vận động tuyên truyền và hướng dẫn cộng đồng dân cư đang sinh sống trên các vùng nông thôn rộng lớn của tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tiến đến mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”? Một trong những giải pháp tích cực hữu hiệu nhất có thể trả lời được câu hỏi nêu trên là phải kịp thời mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức quản lý, nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng tác nghiệp các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch cho đội ngũ cán bộ công chức này. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức văn hóa – xã hội xã cần tập trung vào những nội dung chủ yếu và thiết thực mà chính đội ngũ cán bộ công chức văn hoá – xã hội xã có nhu cầu  như sau:

    5.2. Nhu cầu về nội dung đào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ cán bộ công chức văn hoá – xã hội xã

    a) Về kiến thức, lý luận chung

    – Đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa, thể dục thể thao, gia đình và du lịch nói chung, vùng đồng bằng, trung du miền núi nói riêng.

    – Hệ thống Luật và các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực: Văn hóa, thể dục thể thao, gia đình và du lịch, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thành lập Hội, hướng dẫn hoạt động các câu lạc bộ cơ sở; Luật và hệ thống văn bản quản lý pháp luật về cán bộ, công chức xã, kiến thức về văn hóa công sở, kiến thức về nền hành chính nhà nước, pháp luật, kỹ năng hoạt động công vụ và trách nhiệm đạo đức công chức, ứng dụng công nghệ tin học, kỹ năng soạn thảo văn bản quản lý nhà nước.

    – Cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở.

    – Đặc trưng văn hoá vùng, miền khu vực đồng bằng và vùng trung du, miền núi.

    – Nhận diện và phân biệt các loại hình tôn giáo, tín ngưỡng, mê tín dị đoan.

    – Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND xã trên các lĩnh vực: Văn hóa, thể dục thể thao, gia đình và du lịch.

    – Chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của công chức văn hoá – xã hội xã

    – Vai trò của Ban chỉ đạo xã, phường, trưởng thôn, ấp, trưởng tộc, chức sắc tôn giáo, các tổ chức đoàn thể trong xây dựng đời sống văn hoá cơ sở. 

    b) Về  kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn

    Cần phải đáp ứng đầy đủ tất cả những nhiệm vụ của người công chức văn hóa – xã hội xã phụ trách. Phải được cụ thể hóa trên từng công việc, đơn giản, dễ hiểu, dễ làm, dễ nhớ. Tài liệu cần ngắn gọn, súc tích, tập trung kỹ năng tác nghiệp những mảng công việc quan trọng. Bên cạnh chức năng nhiệm vụ của công chức văn hóa – xã hội xã cần gắn liền với nhiệm vụ trong xây dựng nông thôn mới:

    – Kỹ năng nắm bắt tình hình, tham mưu tư vấn về các hoạt động văn hoá, thể thao, gia đình và du lịch trên địa bàn xã.

    – Kỹ năng xây dựng chương trình kịch bản Hội nghị, chương trình kịch bản các Sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn xã.

    – Phương pháp phố biến, tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân xây dựng đời sống văn hoá ở địa phương.

    – Phương pháp quản lý và tổ chức việc cưới, việc tang, lễ hội trên địa bàn xã.

    – Kỹ năng quản lý và tổ chức các hoạt động thông tin, cổ động, tuyên truyền, trang trí khánh tiết phục vụ đại hội, hội nghị trên địa bàn xã.

    – Kỹ năng tuyên truyền, vận động và giám sát việc thực hiện Luật bình đẳng giới, Lụât Hôn nhân và Gia đình, Luật phòng chống bạo lực gia đình trên địa bàn xã.

    – Kỹ năng quản lý và tổ chức phong trào Thể dục thể thao quần chúng.

    – Kỹ năng quản lý và tổ chức phong trào văn hoá văn nghệ quần chúng.

    – Kỹ năng soạn thảo văn bản, viết báo cáo.

    – Kỹ năng thống kê, phân tích, đánh giá, tổng hợp số liệu các hoạt động văn hoá, gia đình, thể thao và du lịch trên địa bàn xã.

    – Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin.

    – Các kỹ năng, phương pháp quản lý, điều hành trên các hoạt động và lĩnh vực phụ trách cụ thể như: Kỹ năng tham mưu, xây dựng văn bản, chương trình, kế hoạch trong các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình; nghiệp vụ công tác trong các sự kiện, lễ hội, hội thi và tổ chức các giải thể thao; kiến thức quản lý mội trường văn hóa; quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch, quản lý di sản văn hóa, văn hóa tôn giáo, quản lý du lịch và kỹ năng tổ chức các hoạt động văn hóa thông tin miền núi; công tác thông tin cơ sở, quản lý dịch vụ văn hóa, hoạt động văn hóa công cộng …

    – Trang bị kỹ năng và phương pháp xây dựng điểm văn hóa tại các cộng đồng dân cư, thôn, buôn, bản, làng, ấp …

    – Trang bị kiến thức về công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động và dịch vụ văn hóa trên địa bàn xã; trang bị kiến thức tin học văn phòng và ngoại ngữ; kỹ năng vận hành các thiết bị kỹ thuật tăng âm, ánh sáng.

    – Quy trình tổ chức một hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch ở cơ sở; thể lệ tổ chức một cuộc liên hoan hoặc hội diễn văn nghệ, điều lệ chia bảng, sắp xếp lịch thi đấu một giải thể thao tại cơ sở.

    – Qui định hoạt động và phương pháp tổ chức đánh giá kết quả phong trào: Gia đình văn hóa, thôn, buôn, bản, làng văn hóa.

    5.3. Về hình thức tổ chức đào, bồi dưỡng.

    – Bồi dưỡng theo hình thức tập trung liên tục 2 tháng, trong đó có học tập nghiên cứu trên lớp và có phần học tập thực tế.

    – Hoặc Bồi dưỡng theo hình thức từ 05 đến 10 ngày cho từng lĩnh vực: Văn hoá, thể thao, gia đình và du lịch (có thể cấp chứng chỉ cho từng lĩnh vực).

    ***************

    1. Phân tích chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn và tiêu chuẩn nghiệp vụ của công chức văn hóa, xã hội xã theo Quyết định số 04/QĐ-BNV, ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ Nội vụ)?

    2. Phân tích vai trò, chức trách, nhiệm vụ của công chức văn hóa – xã hội xã trong tình hình hiện nay (áp dụng cụ thể đối với địa phương đang công tác).

    3. Mối quan hệ giữa công chức văn hóa – xã hội xã với Ban Văn hóa xã và Ban chỉ đạo toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa xã?

    4. Trước thực trạng về trình độ, kỹ năng của đội ngũ công chức văn hóa – xã hội xã hiện nay bạn có những kiến nghị và đề xuất gì để đội ngũ cán bộ công chức văn hóa – xã hội xã ngày càng phát triển và thực hiện có hiệu quả các công việc được giao?

    Tài liệu tham khảo

    1. Luật Cán bộ, Công chức số 22/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 của Quốc Hội nước Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

    2.

    Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ

    ngày 22 tháng 10 năm 2009

    về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

    3. Quyết định số 04/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ, ngày 16 tháng 01 năm 2004.

    4. Nội dung chương trình khung, chương trình môn học 02 Bộ tài liệu dùng Bồi dưỡng cán bộ công chức văn hoá xã hội xã – Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hoá, thể thao và du lịch (2011).

    VỀ VĂN HOÁ, GIA ĐÌNH, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

    TS. HOÀNG MINH THÁI

    Ths. PHẠM NHƯ QUỲNH

    Thời lượng: 8 tiết

     

    1. Mục đích:

    – Cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản về giới thiệu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch.

    – Biết vận dụng kiến thức cơ bản về giới thiệu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch.

    2. Yêu cầu:

    Học viên nắm được

    kiến thức cơ bản về giới thiệu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch,

    đồng thời ứng dụng có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn ở địa phương.

     

    Trong khuôn khổ chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức văn hóa – xã hội xã, chuyên đề này giới thiệu về một số văn bản quy phạm pháp luật quan trọng và một số quy định pháp luật cần thiết đối với công chức văn hóa – xã hội xã trong từng lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý Nhà nước của Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch.

     

    1. Về Văn hóa

    1.1. Một số quy định cần biết về di sản văn hóa

     

    a)

    Luật Di sản văn hóa

      năm 2001

    , sửa đổi và bổ sung năm 2009

    Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật

    thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 1).

    Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: 1) Tiếng nói, chữ viết; 2) Văn học dân gian; 3) Nghệ thuật trình diễn dân gian; 4) Tập quán xã hội và tín ngưỡng; 5) Lễ hội truyền thống; 6) Nghề thủ công truyền thống; 7) Tri thức dân gian.

    Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia (Khoản 2 Điều 4).

    Mọi di sản văn hóa ở trong lòng đất thuộc đất liền, hải đảo, ở vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước

    Cộng hòa xã họi chủ nghĩa Việt Nam

    đều thuộc sở hữu Nhà nước (Điều vi).

    Di sản văn hóa phát hiện được mà không xác định được chủ sở hữu, thu được trong quá trình thăm dò, khai quật khảo cổ đều thuộc sở hữu Nhà nước (Điều 7).

    Mọi di sản văn hóa trên lãnh thổ Việt Nam, có xuất xứ ở trong nước hoặc từ nước ngoài, thuộc các hình thức sở hữu, đều được bảo vệ và phát huy giá trị. Di sản văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài được bảo hộ theo tập quán quốc tế và theo quy định.

    Các hành vi bị nghiêm cấm

    (Điều 13):

    – Chiếm đoạt, làm sai lệch di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh;

    – Hủy hoại hoặc gây nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa;

    – Đào bới trái phép địa điểm khảo cổ; xây dựng trái phép, lấn chiếm đất đai thuộc di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh;

    – Mua bán, trao đổi và vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh và di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có nguồn gốc bất hợp pháp; đưa trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài

    ;

    – Lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để trục lợi, hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện những hành vi khác trái pháp luật.

     Quyền và nghĩa vụ tổ chức, cá nhân

    (Điều 14)

    :

    – Sở hữu hợp pháp di sản văn hóa;

    – Tham quan, nghiên cứu di sản văn hóa;

    – Tôn trọng, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

    – Thông báo kịp thời địa điểm phát hiện di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di tích lịch sử – văn hóa, danh làm thắng cảnh; giao nộp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do mình tìm được cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nơi gần nhất;

    – Ngăn chặn hoặc đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi phá hoại, chiếm đoạt, sử dụng trái phép di sản văn hóa.

     

    Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu di sản văn hóa

    (Điều 15):

    – Thực hiện các quy định tại Điều 14 của Luật D

    i sản văn hóa

    ;

    – Thực hiện các biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; thông báo kịp thời cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp di sản văn hóa có nguy cơ bị làm sai lệch giá trị, bị hủy hoại, bị mất:

    – Gửi sưu tập di sản văn hóa phi vật thể, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia vào bảo tàng Nhà nước hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp không đủ điều kiện và khả năng bảo vệ và phát huy giá trị;

    – Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham quan, du lịch, nghiên cứu di sản văn hóa;

    -  Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    Về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh (gọi chung là di tích) được xếp hạng như sau

    (Điều 29):

    Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, bao gồm: 1) công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của địa phương hoặc gắn với nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; 2) công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị trong phạm vi địa phương; 3) địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phương; 4) cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương.

    Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm: 1) công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; 2) công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật

    Việt Nam; 3) địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ; 4) cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù.

    Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Bao gồm: 1) công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; 2) công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; 3) địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới; 4) cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới.

    Các khu vực bảo vệ di tích bao gồm: 1) khu vực bảo vệ I là vùng có các yếu tố gốc cấu thành di tích; 2) khu vực bảo vệ 2 là vùng bao quanh hoặc tiếp giáp khu vực bảo vệ I. Các khu vực bảo vệ I và 2 phải được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định trên bản đồ địa chính, trong biên bản khoanh vùng bảo vệ của hồ sơ di tích và phải được cắm mốc giới trên thực địa. Khu vực bảo vệ I phải được bảo vệ nguyên trạng về mặt bằng và không gian. Trường hợp đặc biệt có yêu cầu xây dựng công trình trực tiếp phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích, việc xây dựng phải được sự đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền xếp hạng di tích đó. việc xây dựng công trình bảo vệ và phát huy giá trị di tích ở khu vực bảo vệ 2 đối với di tích cấp tỉnh phải được sự đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch.

    việc xây dựng công trình không được làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái của di tích. (Điều 32)

    Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc được giao quản lý, sử dụng di tích:

    Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc được giao quản lý, sử dụng di tích có trách nhiệm bảo vệ di tích đó; trong trường hợp phát hiện di tích bị lấn chiếm, hủy hoại hoặc có nguy cơ bị hủy hoại, phải kịp thời có biện pháp ngăn chặn và thông báo cho cơ quan chủ quản cấp trên trực tiếp, Ủy ban Nhân dân địa phương hoặc cơ quan Nhà nước thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch nơi gần nhất. Ủy ban Nhân dân địa phương hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch khi nhận được thông báo về di tích bị hủy hoại hoặc có nguy cơ bị hủy hoại phải kịp thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ và báo cáo ngay với cơ quan cấp trên trực tiếp. (Điều 33)

    Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải bảo đảm yêu cầu sau đây

    (Điều 34):

    – Giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích;

    – Lập quy hoạch, dự án trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trừ trường hợp sửa chữa nhỏ không ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích. Đối với di tích cấp tỉnh, phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch cấp tỉnh. Đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch;

    – Công bố công khai quy hoạch, dự án đã được phê duyệt tại địa phương nơi có di tích. Tổ chức, cá nhân chủ trì lập quy hoạch, dự án hoặc chủ trì tổ chức thi công, giám sát thi công dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề đối với tổ chức và chứng chỉ hành nghề đối với cá nhân.

    Trong quá trình cải tạo, xây dựng công trình mà thấy có khả năng có di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc phát hiện được di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thì chủ dự án phải tạm ngừng thi công và thông báo kịp thời cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch. Khi nhận được thông báo, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch phải có biện pháp xử lý kịp thời để bảo đảm tiến độ xây dựng. Trường hợp xét thấy cần đình chỉ xây dựng công trình tại địa điểm đó để bảo vệ di tích thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch phải báo cáo lên cơ quan cấp trên có thẩm quyền quyết định. (Điều 37)

    Mọi di vật, cổ vật thu được trong quá trình thăm dò, khai quật khảo cổ hoặc do tổ chức, cá nhân phát hiện, giao nộp phải được tạm nhập vào bảo tàng cấp tỉnh nơi phát hiện. Tổ chức, cá nhân phát hiện, giao nộp di vật, cổ vật được bồi hoàn chi phí phát hiện, bảo quản và được thưởng một khoản tiền theo quy định của Chính phủ (Điều 41)

    Di sản văn hóa có trong nhà truyền thống, nhà lưu niệm phải được bảo vệ và phát huy giá trị theo quy định của Luật Di sản văn hóa. (Điều 52)

    Nội dung quản lý Nhà nước về di sản văn hóa bao gồm (Điều 54):

    – Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

    – Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa;

    – Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa;

    – Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa;

     - Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

    – Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

    – Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

     - Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa.

    b) Nghị định số 98/2010/NĐ-CP

    – Những hành vi làm sai lệch di tích là

    : 1) làm thay đổi yếu tố gốc cấu thành di tích như đưa thêm, di dời, thay đổi hiện vật trong di tích hoặc tu bổ, phục hồi không đúng với yếu tố gốc cấu thành di tích và các hành vi khác khi chưa được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch, tuyên truyền, giới thiệu sai lệch về nội dung và giá trị của di tích; 2) làm thay đổi môi trường cảnh quan của di tích như chặt cây, phá đá, đào bới, xây dựng trái phép và các hành vi khác gây ảnh hưởng xấu đến di tích. (Khoản 1 Điều 4.1)

    – Những hành vi gây nguy cơ hủy hoại hoặc làm giảm giá trị di sản văn hóa phi vật thể là

    : 1) phổ biến và thực hành sai lệch nội dung di sản văn hóa phi vật thể; 2) tùy tiện đưa những yếu tố mới không phù hợp làm giảm giá trị di sản văn hóa phi vật thể; 3) lợi dụng việc tuyên truyền, phổ biến, trình diễn, truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể để trục lợi và thực hiện các hành vi khác trái pháp luật. (Khoản 2 Điều 4.)

    Những trường hợp được coi là đào bới trái phép địa điểm khảo cổ: 1) tự ý đào bới, tìm kiếm di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trong khu vực bảo vệ di tích và địa

    điểm thuộc quy hoạch khảo cổ như di chỉ cư trú, mộ táng, công xưởng chế tác công cụ, thành lũy và các địa điểm khảo cổ khác; 2) tự ý tìm kiếm, trục vớt các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia còn chìm đắm dưới nước. (Khoản 3 Điều 4)

     

    1.2. Một số quy định về hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng

    a) Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP  

    Hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng bao gồm:  lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; triển lãm văn hóa, nghệ thuật; tổ chức lễ hội; viết, đặt biển hiệu; hoạt động vũ trường, karaoke, trò chơi điện tử. Các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa và các hình thức vui chơi giải trí khác: Thu âm (phòng thu nhạc và lời); ghi hình (quay camera); vẽ truyền thần, vẽ tranh, sao chép tranh; làm tượng; sản xuất hàng mã; dạy khiêu vũ, dạy nhạc; các trò chơi dân gian; biểu diễn nghệ thuật quần chúng và các hình thức vui chơi giải trí có nội dung văn hóa. (Điểm a khoản 1 Điều 2)

    Nơi tổ chức hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng bao gồm: nhà hát, nhà văn hóa, nhà triển lãm, trung tâm văn hóa, câu lạc bộ, cơ sở lưu trú du lịch, nhà khách, nhà nghỉ, nhà hàng ăn uống, giải khát, cửa hàng, cửa hiệu, sân vận động, nhà thi đấu thể thao, quảng trường, phương tiện vận tải hành khách công cộng và các phương tiện, địa điểm khác có tổ chức các hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa. (Điểm b khoản 1 Điều 2)

    Nghiêm cấm các hoạt động sau đây (Điều 3):

    – Các hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa có nội dung: 1) kích động nhân dân chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phá hoại khối đoàn kết toàn dân; 2) kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; truyền bá tư tưởng, văn hóa phản động, lối sống dâm ô đồi trụy, các hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, trái với thuần phong mỹ tục, gây hại cho sức khỏe và hủy hoại môi trường sinh thái; 3) tiết lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác do pháp luật quy định; 4) xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm vĩ nhân, xúc phạm dân tộc, vu khống, xúc phạm danh dự, uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân;

    – Lưu hành, phổ biến và kinh doanh các sản phẩm văn hóa bị cấm; sản xuất, nhập khẩu trái phép các sản phẩm văn hóa đã có quyết định đình chỉ lưu hành, cấm lưu hành, thu hồi, tịch thu, tiêu hủy; kinh doanh dịch vụ văn hóa mà không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép kinh doanh theo quy định;

    – Tổ chức các hoạt động văn hóa và kinh doanh văn hóa vi phạm các quy định về nếp sống văn minh, an ninh, trật tự và phòng, chống cháy nổ.

    Nhân bản băng, đĩa mà không được sự đồng ý của  chủ sở hữu bản quyền; thêm, bớt hình ảnh hoặc âm thanh làm thay đổi nội dung băng, đĩa đã được phép lưu hành; nhân bản băng, đĩa bị cấm lưu hành hoặc đã có quyết định thu hồi, tịch thu, tiêu hủy. (Khoản 3 Điều 6)

    Về kinh doanh dịch vụ karaoke.

    Hoạt động kinh doanh karaoke, phải tuân theo các quy định sau đây

    (Điều 32)

    :

    – Đảm bảo ánh sáng trong phòng trên 10 Lux tương đương 01 bốn đèn sợi đốt 40W cho 20m2;

    – Đảm bảo âm thanh vang ra ngoài phòng karaoke không vượt quá quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn mức ồn tối đa cho phép;

    – Chỉ được sử dụng bài hát đã được phép phổ biến; băng, đĩa đã dán nhãn kiểm soát theo quy định;

    – Không được bán rượu hoặc để cho khách uống rượu trong phòng;

    – Đảm bảo các điều kiện về an ninh, trật tự quy định tại Nghị định số 72/2009/NĐ-CP ngày 03/9/2009 của Chính phủ;

    – Mỗi phòng karaoke chỉ được sử dụng một nhân viên phục vụ từ 18 tuổi trở lên; nếu nhân viên phục vụ là người làm thuê  thì phải có hợp đồng lao động và được quản lý theo quy định của pháp luật về hợp đồng lao động;

       – Không được hoạt động sau 12 giờ đêm đến 8 giờ sáng (đối với phòng karaoke trong các cơ sở lưu trú du lịch được xếp hạng từ 4 sao trở lên hoặc hạng cao cấp thì được hoạt động sau 12 giờ đêm nhưng không quá 2 giờ sáng);

    – Các điểm karaoke hoạt động ở vùng dân cư không tập trung không phải thực hiện quy định về âm thanh nhưng phải thực hiện tất cả các quy định còn lại.

    Nghiêm cấm các hành vi khiêu dâm và mua bán dâm, mua, bán, sử dụng ma túy tại phòng karaoke. (Điều 34)

    Về kinh doanh dịch vụ trò chơi điện tử.

    Tổ chức, cá nhân kinh doanh trò chơi điện tử (bao gồm trò chơi trực tuyến – online games và trò chơi sử dụng các máy không kết nối với mạng Internet; không bao gồm trò chơi điện từ có thưởng dành cho người nước ngoài) phải thực hiện các quy định sau

    (Điều 35)

    :

    – Cửa hàng trò chơi điện tử phải cách các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông từ 200m trở lên; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông;

    – Trang thiết bị đảm bảo chất lượng âm thanh, hình ảnh; hình thức trang thiết bị phù hợp thẩm mỹ Việt Nam;

    – Nội dung trò chơi điện tử phải lành mạnh, không vi phạm các quy định cấm;

    – Không được hoạt động sau 10 giờ đêm đến 8 giờ sáng;

    -  Nghiêm cấm tổ chức kinh doanh trò chơi điện từ có tính chất đánh bạc.

     b) Quy định chi tiết thi hành một số quy định tại Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng

    (tại Thông tư số 04/2009/TT-BVHTTDL)

    Các hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa có nội dung kích động bạo lực, truyền bá các hành vi tội ác là những hoạt động trong đó có hình ảnh, ngôn ngữ, âm thanh, hành động miêu tả cảnh đánh đập, tra tấn, giết người dã man, tàn bạo và những hành vi khác xúc phạm đến nhân phẩm con người, trái với truyền thống yêu hòa bình và nhân ái của dân tộc Việt Nam, không nhằm tố cáo tội ác, không nhằm đề cao chính nghĩa, bao gồm: 1) mô tả cảnh đầu rơi, máu chảy, cắt, chặt bộ phận cơ thể con người; 2) mô tả cảnh đâm chém, đấm đá, đánh đập tàn bạo; 3) mô tả cảnh rùng rợn, kinh dị, quằn quại, đau đớn của con người; 4) mô tả cảnh thỏa mãn, khoái trá của kẻ gây tội ác; 5) mô tả các hành động tội ác khác. (Khoản 1 Điều 3)

    Các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa có nội dung thể hiện lối sống dâm ô đồi trụy là những hoạt động có hình ảnh, ngôn ngữ, âm thanh, hành động khêu gợi, kích thích dâm ô, trụy lạc, vô luân, loạn luân trái với truyền thống đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam, bao gồm: 1) mô tả bộ phận sinh dục, hành động tình dục giữa người với người, giữa người với súc vật, hành động thủ dâm dưới mọi hình thức; 2) mô tả khỏa thân, hoặc không khỏa thân nhưng kích thích tình dục; 3) mô tả nhu cầu tình dục. (Khoản 2 Điều 3)

    Hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa có nội dung mê tín dị đoan là những hoạt động có nội dung làm mê hoặc người khác, trái với tự nhiên, gây tác động xấu về nhận thức, bao gồm: Cúng khấn trừ tà ma, chữa bệnh bằng phù phép, lên đồng phán truyền, xem bói, xin xăm, xóc thẻ, truyền bá sấm trạng, phù chú, cầu lợi cho mình gây hại cho người khác bằng cách yểm bùa, đốt đồ mã ở nơi công cộng và các hình thức mê tính dị đoan khác.(Khoản 4 Điều 3)

    b) Các hành vi bị nghiêm hoạt cấm

    1.4.

    Một số quy định về Thư viện

    a) Chính sách của nhà nước về thư viện

    Nhà nước đầu tư ngân sách để phát triển thư viện, vốn tài liệu thư viện; mở rộng sự liên thông giữa các thư viện trong nước và hợp tác, trao đổi tài liệu với thư viện nước ngoài; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia phát triển các loại hình thư viện, thực hiện xã hội hóa hoạt động thư viện; đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ những người làm công tác thư viện đáp ứng nhu cầu phát triển các loại hình thư viện. (Điều 4 Pháp lệnh Thư viện)

    Người dân tộc thiểu số được tạo điều kiện sử dụng tài liệu thư viện bằng ngôn ngữ của dân tộc mình. (Điều 6.3 Pháp lệnh Thư viện)

    Người khiếm thị được tạo điều kiện sử dụng tài liệu thư viện bằng chữ nổi hoặc các vật mang tin đặc biệt. (Điều 6.4 Pháp lệnh Thư viện)

    Trẻ em được tạo điều kiện sử dụng tài liệu thư viện phù hợp với lứa tuổi. (Điều 6.5 Pháp lệnh Thư viện)

    b) Các hành vi bị  nghiêm cấm

    Tàng trữ trái phép tài liệu có nội dung: i) chống lại Nhà nước

    CHXHCNVN; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; ii) tuyên truyền bạo lực, chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; truyền bá tư tưởng, văn hóa phẩm phản động, lối sống dâm ô, đồi trụy, các hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan; phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc; iii) xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm vĩ nhân, anh hùng dân tộc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của công dân;

    Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật đời tư của công dân; Đánh tráo, hủy hoại tài liệu của thư viện; Lợi dụng hoạt động nghiệp vụ thư viện để truyền bá trái phép những nội dung nêu trên. (Điều 5 Pháp lệnh Thư viện)

    c) Đối với hoạt động của thư viện cấp xã và thư viện tư nhân

    Thư viện cấp xã

    có quyền và nhiệm vụ cụ thể sau: i) tổ chức phục vụ sách, báo cho nhân dân tại cơ sở; ii) xây dựng phong trào đọc và làm theo sách, báo; hình thành thói quen đọc sách, báo trong nhân dân địa phương. (Điều 6.3 Nghị định số 72/2002/NĐ-CP)

    Thư viện tư nhân

    là cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập trong lĩnh vực thư viện, do một người hoặc một nhóm người thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tự bảo đảm kinh phí hoạt động và hoạt động theo quy định của pháp luật. (Điều 2 Nghị

    định số 02/2009/NĐ-CP

    ). Thư viện tư nhân được thành lập khi có đủ các điều kiện sau đây:

    – Có vốn tài liệu ban đầu về một hay nhiều môn loại trí thức khoa học với số lượng ít nhất là 500 bản sách và 1 tên ấn phẩm định kỳ, được xử lý theo quy tắc nghiệp vụ thư viện;

    – Có diện tích đáp ứng yêu cầu về bảo quản vốn tài liệu và phục vụ công chúng với số lượng chỗ ngồi đọc ít nhất 10 chỗ, không ảnh hưởng tới trật từ, an toàn giao thông; đảm bảo vệ sinh môi trường và cảnh quản văn hóa;

    – Người đứng tên thành lập và làm việc trong thư viện: i) người đứng tên thành lập thư viện phải có quốc tịch Việt Nam, đủ 18 tuổi trở lên; có đầy đủ năng lực pháp lý và năng lực hành vi; am hiểu về sách báo và lĩnh vực thư viện; ii) người làm việc trong thư viện: phải tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên và được bồi dưỡng kiến thức về nghiệp vụ thư viện (đối với thư viện có vốn sách ban đầu từ 500 bản đến 1.000 bản); phải tốt nghiệp trung cấp thư viện hoặc tương đương; nếu tốt nghiệp trung cấp ngành khác thì phải được bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ tương đương trình độ trung cấp thư viện (đối với thư viện có vốn sách ban đầu từ 1.000 bản đến dưới 20.000 bản); phải tốt nghiệp đại học chuyên ngành thư viện-thông tin; nếu tốt nghiệp đại học chuyên ngành khác thì phải được bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ thư viện tương đương trình độ đại học thư viện-thông tin (đối với thư viện có vốn sách ban đầu từ 20.000 bản trở lên). (Điều 5 Nghị định số 02/2009/NĐ-CP)

    1.5. Một số quy định về đời sống văn hóa cơ sở

    a) Danh hiệu “Gia đình Văn hóa” ” thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố văn hóa”, “Làng văn hóa”

    Danh hiệu “Gia đình văn hóa” ở xã, phường, thị trấn được xét tặng cho hộ gia đình đạt các tiêu chuẩn sau: i) gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương nơi cư trú; ii) gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ; tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng; iii) tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả. (Điều 29 Luật Thi đua, Khen thưởng)

    Tiêu chuẩn danh hiệu “Gia đình văn hóa” thực hiện theo quy định tại Điều 29 Luật Thi đua, Khen thưởng với những nội dung cụ thể như sau:

    – Gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương: i) thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, không vi phạm pháp luật Nhà nước và quy ước, hương ước cộng đồng; ii) giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; vệ sinh môi trường; nếp sống văn hóa nơi công cộng; iii) không sử dụng văn hóa phẩm thuộc loại cấm lưu hành; không mắc các tệ nạn xã hội; không vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; iv) tham gia thực hiện đầy đủ các phong trào thi đua, các sinh hoạt, hội họp ở cộng đồng và bảo vệ di tích lịch sử-văn hóa, cảnh quan của địa phương.

    – Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ; tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng: i) vợ chồng bình đẳng, thương yêu giúp đỡ nhau, có trách nhiệm nuôi dạy con cái; con cháu hiếu thảo với bố mẹ, ông bà; ii) trẻ em trong độ tuổi di học đều được đến trường, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học trở lên; iii) mỗi cặp vợ chồng có một hoặc hai con, không sinh con thứ ba; iv) giữ gìn vệ sinh phòng bệnh, ăn ở sạch sẽ, có nhà tắm, hố xí hợp vệ sinh và sử dụng nước sạch. Các thành viên trong gia đình có nếp sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao; v) đoàn kết xóm giềng, tham gia các hoạt động: hòa giải, tương trợ giúp đỡ nhau trong lao động, sản xuất, khi khó khăn, hoạn nạn, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện ở cộng đồng.

    – Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả: i) kinh tế gia đình ổn định, tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm, có kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các thành viên; ii) các thành viên trong gia đình đều hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập. (Điều 4 Quy chế công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” ban hành kèm theo Quyết định số 62/2006/QĐ-BVHTT)

    Chủ tịch UBND cấp xã quyết định tặng giấy khen, danh hiệu “Gia đình văn hóa”. (Điều 80 Luật Thi đua, Khen thưởng)

    Danh hiệu thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố văn hóa được xét tặng cho thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố và tương đương đạt các tiêu chuẩn sau: i) đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển; ii) đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú; iii) môi trường cảnh quan sạch đẹp; iv) chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; v) có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng.(Điều 30 Luật Thi đua, Khen thưởng)

    Tiêu chuẩn công nhận danh hiệu “Làng văn hóa” đối với vùng đồng bằng (cận đô thị) thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi đua, Khen thưởng, với những nội dung cụ thể như sau:

    – Đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển: i) có từ 85% hộ trở lên có đời sống kinh tế ổn định; nhiều hộ sản xuất, kinh doanh giỏi; dưới 5% hộ nghèo, không có hộ đói; ii) có từ 80% hộ trở lên có nhà xây mái bằng hoặc lợp ngói, xóa nhà tranh tre dột nát; iii) trên 85% đường làng, ngõ xóm được đổ bê-tông, lát gạch hoặc làm bằng vật liệu cứng; iv) trên 90% số hộ được sử dụng điện.

    – Đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú: i) có các thiết chế văn hóa-thông tin, thể dục thể thao, giáo dục, y tế phù hợp, hoạt động thường xuyên; ii) thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng; iii) không có người mắc tệ nạn xã hội, tàng trữ và sử dụng văn hóa phẩm thuộc loại cấm lưu hành; iv) có từ 75% trở lên số hộ được công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”; khu dân cư hoặc trên 70% số khu dân cư được công nhận danh hiệu “Khu dân cư tiên tiến” 3 năm liên tục trở lên; v) 100% trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học trở lên; không có người mù chữ; vi) không có dịch bệnh; không để xảy ra ngộ độc thực phẩm đông người; giảm hàng năm 1,5% tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi; trên 90% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ theo quy định, phụ nữ có thai được khám thai định kỳ.

    – Môi trường cảnh quan sạch đẹp: i) đường làng, ngõ xóm phong quang, sạch sẽ; rác thải phải được thu gom xử lý; ii) có từ 85% hộ trở lên được sử dụng nước sạch, có nhà tắm, hố xí hợp vệ sinh; iii) tôn tạo, bảo vệ, phát huy các di tích lịch sử-văn hóa, cảnh quan thiên nhiên ở địa phương.

       – Chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước: i) thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân; ii) thực hiện tốt đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng và thực hiện tốt quy ước, hương ước cộng đồng; iii) đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; không có khiếu kiện tập thể vượt cấp kéo dài; iv) chi bộ Đảng và các tổ chức đoàn thể được xếp loại khá trở lên; v) chăm lo các đối tượng chính sách, đảm bảo có mức sống trung bình trở lên ở cộng đồng; vi) không có trọng án hình sự.

    – Có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng: i) hoạt động hòa giải có hiệu quả; những mâu thuẫn, bất hòa được giải quyết tại cộng đồng; ii) có phong trào giúp nhau làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện. (Điều 6 Quy chế công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” ban hành kèm theo Quyết định số 62/2006/QĐ-BVHTT)

    Tiêu chuẩn công nhận danh hiệu “Làng văn hóa” đối với vùng miền núi (vùng đồng bào dân tộc thiểu số; vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo): Điều 30 Luật Thi đua, Khen thưởng quy định

    như sau:

    – Đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển: i) đã định canh, định cư; có từ 60% số hộ trở lên có đời sống kinh tế ổn định, giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 3% trở lên hàng năm, không có hộ đói; ii) có từ 60% số hộ trở lên có nhà ở được xây dựng hoặc làm bền vững, giảm tỷ lệ nhà tạm từ 5% trở lên hàng năm; iii) có từ 50% trở lên số hộ được sử dụng điện; iv) đường làng, ngõ xóm được tu bổ, nâng cấp hàng năm.

    – Đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú: i) có tụ điểm sinh hoạt văn hóa-văn nghệ-thể dục thể thao, vui chơi giải trí ở cộng đồng; duy trì các sinh hoạt văn hóa-thể thao truyền thống của dân tộc; ii) thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc; iii) không có tệ nạn xã hội phát sinh; không trồng, buôn bán và sử dụng thuốc phiện; không tàng trữ và sử dụng văn hóa phẩm thuộc loại cấm lưu hành; iv) có từ 60% số hộ trở lên được công nhận danh hiện “Gia đình văn hóa”; khu dân cư hoặc trên 70% số khu dân cư được công nhận danh

    hiệu “Khu dân cư tiên tiến” liên tục 2 năm trở lên; v) có từ 70% trở lên số trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường, không có người tái mù

    chữ; vi) không có dịch bệnh; không để xảy ra ngộ độc thực phẩm đông người; thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới 1 tuổi; phụ nữ có thai được khám định kỳ.

    – Môi trường, cảnh quan sạch đẹp: i) đường làng, ngõ xóm, nơi sinh hoạt cộng đồng sạch sẽ; bảo vệ nguồn nước sạch; ii) có từ 60% số hộ trở lên được sử dụng nước hợp vệ sinh, có nhà tắm, hố xí hợp vệ sinh, đưa chuồng trại chăn nuôi

    cách xa nhà ở; iii) bảo vệ các di tích lịch sử-văn hóa, cảnh quan thiên nhiên của địa phương.

    – Chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước: i) thường xuyên tuyên tuyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân; ii) thực hiện tốt đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng và thực hiện tốt quy ước, hương ước cộng đồng; iii) đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; không có khiếu kiện tập thể vượt cấp; iv) chi bộ Đảng và các tổ chức đoàn thể được xếp loại khá trở lên; v) chăm lo các đối tượng chính sách, đảm bảo có mức sống trung bình trở lên ở cộng đồng; vi) không có trọng án hình sự. (Điều 7 Quy chế công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” ban hành kèm theo Quyết định số 62/2006/QĐ-BVHTT)

    Tiêu chuẩn công nhận danh hiệu “Tổ dân phố văn hóa” Điều 30 Luật Thi đua, Khen thưởng quy định như sau:

    – Có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển: i) có từ 90% số hộ trở lên có đời sống kinh tế ổn định; nhiều hộ giầu, dưới 5% hộ nghèo, không có hộ đói; ii) có từ 89% số hộ trở lên có nhà ở được xây bền vững, xóa nhà tranh tre dột nát.

    – Có đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú: i) có các thiết chế văn hóa, giáo dục, y tế; có điểm sinh hoạt văn hóa vui chơi giải trí; có hoạt động văn hóa, thể thao thường xuyên; ii) thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; không có tệ nạn xã hội; không tàng trữ và sử dụng văn hóa phẩm cấm lưu hành; iii) có từ 80% số hộ trở lên được công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”; khu dân cư hoặc trên 70% số khu dân cư được công nhận danh hiệu “Khu dân cư tiên tiến” liên tục 3 năm trở lên; iv) không có dịch bệnh; không để xảy ra ngộ độc thực phẩm đông người; giảm hàng năm 1,5% tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi; trên 90% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ thèo quy định, phụ nữ có thai được khám thai định kỳ.

    – Có môi trường, cảnh quan sạch đẹp: i) đường giao thông được trải nhựa hoặc bê-tông; có hệ thống đèn chiếu sáng; đường phố, nơi sinh hoạt công cộng sạch đẹp; thực hiện tốt pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đô thị; ii) có 100% số hộ được sử dụng nước sạch, vệ sinh môi trường được đảm bảo; iii) tôn tạo, bảo vệ các di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh ở địa phương.

    – Thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước: i) thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; ii) đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; thực hiện tốt nếp sống văn minh đô thị và Quy chế dân chủ ở cơ sở; iii) chi bộ Đảng và các tổ chức đoàn thể được xếp loại khá trở lên; iv) 100% trẻ em đang độ tuổi đi học đều được đến trường; đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở trở lên; v) có phong trào đền ơn đáp nghĩa và hoạt động từ thiện có hiệu quả. (Điều 8 Quy chế công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” ban hành kèm theo Quyết định số 62/2006/QĐ-BVHTT)

    b) Một số quy định đối với Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã

    Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã có chức năng tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí; bảo tồn, phát huy các hình thức sinh hoạt văn hóa, thể thao dần tộc; bồi dưỡng năng khiếu nghệ thuật, thể dục thể thao; nâng cao dân trí và mức hưởng thụ văn hóa, thể thao cho nhân dân; thu hút và tạo điều kiện thuận lợi cho các tầng lớp nahan dân tham gia mọi hoạt động văn hóa, thể thao; phục vụ các nhiệm vụ kinh tế-xã hội của địa phương. (Điều 2.1 Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL).

    Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã có nhiệm vụ:

    – Xây dựng các chương trình kế hoạch hoạt động hàng tháng, quý, năm trình UBND xã phê duyệt; tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch sau khi được phê duyệt;

    – Đề xuất, tham mưu cho UBND xã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã; thực hiện chủ trưởng xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa-thể thao trong phạm vi xã;

    – Phối hợp với các ngành, đoàn thể ở xã để tổ chức các hoạt động văn hóa-thể thao trên địa bản; hướng dẫn, giúp đỡ về chuyên môn nghiệp vụ cho các nhà văn hóa, câu lạc bộ văn hóa, thể dục thể thao ở các khu dân cư ở xã; xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ chuyên môn, cộng tác viên; quản lý tài sản, tài chính được giao theo chế độ hiện hành; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê; sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm thực tiễn, đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc;

    – Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí cho trẻ em;

    – Tham gia các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao do cấp huyện tổ chức. (Điều 2.2 Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL)

    Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã có quyền hạn:

    – Được ngân sách nhà nước đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị; trợ cấp cán bộ, cộng tác viên và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao;

    – Được cử cán bộ tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ, các cuộc liên họa, hội thi, hội diễn do cơ quan chuyên ngành cấp trên tổ chức;

    – Được mời những người có chuyên môn, nghiệp vụ trong các lĩnh vực văn hóa-thể thao để chỉ đạo, hướng dẫn hoặc dàn dựng các chương trình hoạt động của Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã theo quy định của pháp luật;

    – Được liên kết với các tổ chức, cá nhân để hoạt động dịch vụ văn hóa, thể dục thể thao, vui chơi giải trí trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật. (Điều 2.3 Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL)

    Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã, do UBND cấp huyện thành lập trên cơ sở hợp nhất các cơ sở hiện có như: nhà văn hóa, sân vận động, nhà tập luyện thể dục thể thao, câu lạc bộ văn hóa, câu lạc bộ thể dục thể thao hoặc đài truyền thanh, trung tâm học tập cộng đồng ở xã. (Điều 3.1 Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL).

    Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã chịu sự lãnh đạo của UBND xã, sự chỉ đạo hướng dẫn trực tiếp về nghiệp vụ của Trung tâm Văn hóa-Thể thao cấp huyện và chịu sự quản lý nhà nước của Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện. (Điều 3.2 Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL)

    Chủ nhiệm Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã là công chức xã phụ trách về văn hóa-xã hội, chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND xã về toàn bộ hoạt động của Trung tâm. Chủ nhiệm phải có bằng tốt nghiệp Trung cấp về chuyên môn ngành văn hóa-xã hội hoặc thể dục thể thao trở lên. Phó Chủ nhiệm do Chủ tịch UBND xã bổ nhiệm theo đề nghị của Chủ nhiệm Trung tâm. Cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ không chuyên trách là những người đã qua đào tạo, tập huấn về: văn nghệ quần chúng; hướng dẫn viên thể dục thể thao; biên tập viên tuyên truyền; kẻ vẽ; thư viện, bảo tàng; kỹ thuật viên (âm thanh, ánh sáng, truyền thanh); phương pháp viên, công tác câu lạc bộ, công tác độ. Cộng tác viên là trưởng các ngành, đoàn thể ở địa phương và những người tự nguyện, nhiệt tình, có khả năng tham gia tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao. (Điều 3.3 Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL).

    Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã là đơn vị sự nghiệp, được ngân sách địa phương (tỉnh, huyện, xã) đầu tư 100% kinh phí xây dựng, mua sắm trang thiết bị và đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Công chức xã về văn hóa-xã hội là Chủ nhiệm Trung tâm, các cán bộ cấp xã kiêm nhiệm nhiệm vụ của Trung tâm, cán bộ không chuyên trách hoạt động tại Trung tâm được hưởng chế độ, chính sách và phụ cấp theo quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH ngày 27/5/2010 của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội. Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã chủ động tạo nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ văn hóa-thể thao, hội phí sinh hoạt các câu lạc bộ, nhóm sở thích. Trung tâm thực hiện chính sách khuyến khích xã hội hóa và tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở hoạt động văn hóa-thể thao, vui chơi giải trí trên địa bàn xã. (Điều 4.3 Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL).

    Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã thực hiện các hoạt động sau: i) hoạt động tuyên truyền cổ động; ii) hoạt động văn nghệ quần chúng; iii) hoạt động thể dục thể thao; iv) hoạt động câu lạc bộ; v) hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa; vi) hoạt động triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; vii) các hoạt động văn hóa-thể thao khác. (Điều 5 Thông tư số 12/2010/TT- BVHTTDL)

    2. Về gia đình

    2.1.

    Một số quy định về thực hiện Bình đẳng giới trong gia đình

    2.2.

    Một số quy định cần biết phòng, chống bạo lực gia đình

    Thế nào là bạo lực gia đình: Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hai về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình. (Khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (PCBLGĐ)

    a) Các hành vi bạo lực gia đình

    Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;  Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

    Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

    Cưỡng ép quan hệ tình dục; Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính; Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở. (Điều 2.1 Luật PCBLGĐ)

    Các hành vi bạo lực gia đình quy định nêu trên cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng. (Điều 2.2 Luật PCBLGĐ)

       Người có hành vi bạo lực gia đình phải có nghĩa vụ:  Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi bạo lực; Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối; Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật. (Điều 4 Luật PCBLGĐ)

     

    Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình; Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật; Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Các quyền khác theo quy định của pháp luật. (Điều 5.1 Luật PCBLGĐ)

    b) Những hành vi bị nghiêm cấm

    Các hành vi bạo lực gia đình quy định tại Điều 2 của Luật PCBLGĐ

    Cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình; Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình; Trả thù, đe dọa trả thù người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình; Cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình; Lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để trục lợi hoặc thực hiện hoạt động trái pháp luật;

    Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình. (Điều 8

    Luật PCBLGĐ

    )

    c) Nguyên tắc hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình

    Kịp thời, chủ động, kiên trì; Phù hợp với chủ trương, đường lỗi của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; Tôn trọng sự tự nguyện tiến hành hòa giải của các bên; Khách quan, công minh, có lý, có tình; Giữ bí mật thông tin đời tư của các bên; Tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; Không hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình quy định tại Điều 14 và Điều 15 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình trong những trường hợp: i) vụ việc thuộc tội phạm hình sự, trừ trường hợp người bị hại yêu cầu không xử lý theo quy định của pháp luật hình sự; ii) vụ việc thuộc hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính. (Điều 12 Luật PCBLGĐ)

    d) Tư vấn về gia đình ở cơ sở

    UBND cấp xã xác định và lập danh sách đối tượng để thực hiện hoạt động tư vấn về gia đình ở cơ sở; Căn cứ vào kế hoạch phòng, chống bạo lực gia đình của địa phương và danh sách đối tượng, UBND cấp xã chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp, cộng đồng dân cư tổ chức thực hiện tư vấn về gia đình ở cơ sở;

    Việc tư vấn về gia đình ở cơ sở được thực hiện thông qua các hình thức: i) tư vấn trực tiếp; ii) tư vấn thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; iii) tư vấn thông qua các loại hình khác.

    Công chức làm công tác tư pháp phối hợp với công chức làm công tác văn hóa-xã hội cấp xã cung cấp, phổ biến tài liệu, thông tin, kiến thức về phòng, chống bạo lực gia đình cho người chuẩn bị kết hôn trước khi được cấp Giấy chứng nhận kết hôn; cung cấp nội dung tư vấn về gia đình ở cơ sở cho cơ quan thông tin đại chúng. Công chức làm công tác văn hóa-xã hội, công chức làm công tác tư pháp, cán bộ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi cấp xã, tổ viên của Tổ hòa giải ở cơ sở, nhân viên y tế ở cấp xã đã được tập huấn về tư vấn là người thực hiện tư vấn trực tiếp về gia đình ở cơ sở. (Điều 6 Nghị định số 08/2009/NĐ-CP)

    Các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ được áp dụng kịp thời để bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình bao gồm:  Buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình; Cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình;

    Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực gia đình;

    Cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần nạn nhân (trong khoảng cách 30 m; trừ trường hợp có sự ngăn cách như tường, hàng rào hoặc vật ngăn cách khác, bảo đảm đủ an toàn cho nạn nhân); sử dụng điện thoại, fax, thư điện tử hoặc các phương tiện thông tin khác để có hành vi bạo lực với nạn nhân (gọi chung là biện pháp cấm tiếp xúc). (Điều 19 Luật PCBLGĐ; Điều 8 Nghị định số 08/2009/NĐ-CP)

    Chủ tịch UBND cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn không quá 3 ngày khi có đủ các điều kiện sau đây: i) có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình; ii) đã có hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe dọa tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình (có giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về việc khám và điều trị thương tích do hành vi bạo lực gia đình gây ra; hoặc có dấu vết thương tích trên cơ thể nạn nhân có thể nhận thấy rõ bằng mắt thường hoặc có dấu hiệu rõ ràng về hoảng loạn tinh thần của nạn nhân bạo lực gia đình; hoặc có chứng cứ chứng minh có sự đe dọa gây tổn hại đến sức khỏe hoặc tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình); iii) người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc (nhà của người thân, bạn bè, địa chỉ tin cậy hoặc nơi ở khác mà nạn nhân bạo lực gia đình tự nguyện chuyển đến ở). (Điều 20.1 Luật PCBLGĐ; Điều 9 Nghị định số 08/2009/NĐ-CP)

    Chậm nhất 12 giờ, kể từ khi nhận được đơn yêu cầu, Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc; trường hợp không ra quyết định thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết. Quyết định cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký và được gửi cho người có hành vi bạo lực gia đình, nạn nhân bạo lực gia đình, người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo lực gia đình. Chủ tịch UBND cấp xã đã ra quyết định cấm tiếp xúc hủy bỏ quyết định đó khi có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình hoặc khi nhận thấy biện pháp này không còn cần thiết. (Điều 20.3 và 20.3 Luật PCBLGĐ)

    Trong trường hợp gia đình có việc tang lễ, cưới hỏi hoặc các trường hợp đặc biệt khác mà người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình phải tiếp xúc với nhau thì người có hành vi bạo lực gia đình phải báo cáo với người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo lực gia đình. Người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc có thể bị tạm giữ hành chính, xử phạt vi phạm hành chính (khi có đơn đề nghị của nạn nhân bạo lực gia đình hoặc người vi phạm quyết định cấm tiếp xúc đã bị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhắc nhở nhưng vẫn cố tình vi phạm). (Điều 20.4 và 20.5 Luật PCBLGĐ; Điều 12 Nghị định số 08/2009/NĐ-CP)

    3

    . Về Thể dục Thể thao

    3.1.

    Một số quy định về chính sách phát triển thể dục, thể thao

    a) Chính sách chung

    Phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực, tầm vóc người Việt Nam, góp phần cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về thể thao, nâng cao sự hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Tăng dần đầu tư ngân sách nhà nước, dành quỹ đất và có chính sách phát huy nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao để đào tạo thành những tài năng thể thao, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thể dục, thể thao, phát triển một số môn thể thao trình độ thế giới;

    Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao, thành lập cơ sở dịch vụ hoạt động thể thao đáp ứng nhu cầu tập luyện, vui chơi, giải trí của nhân dân, bảo đảm để các cơ sở thể tao công lập và tư nhân được bình đẳng trong việc hưởng ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai theo quy định của pháp luật;

    Ưu tiên đầu tư phát triển thể dục, thể thao ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc. (Điều 4, Luật Thể dục thể thao)

    b) Phát triển thể dục, thể thao quần chúng

    Nhà nước có chính sách đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển thể dục, thể thao quần chúng, tạo cơ hội cho mọi người không phân biệt lứa tuổi, giới tính, sức khỏe, tình trạng khuyết tật được thực hiện quyền hoạt động thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, vui chơi, giải trí;

    UBND các cấp có trách nhiệm xây dựng các công trình thể thao công cộng, bảo đảm nhân lực về chuyên môn, nghiệp vụ thể dục, thể thao; xây dựng mạng lưới cộng tác viên thể dục, thể thao cơ sở đáp ứng yêu cầu hoạt động thể dục, thể thao của cộng đồng dân cư;

    Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm vận động hội viên tham gia hoạt động thể dục, thể thao nhằm rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe; phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về thể dục, thể thao tổ chức biểu diễn và thi đấu thể thao quần chúng;

    Cơ quan quản lý nhà nước về thể dục, thể thao các cấp phối hợp với tổ chức xá hội-nghề nghiệp về thể thao vận động mọi người tham gia phát triển phong trào thể dục, thể thao, phổ biến kiến thức, hướng dẫn tập luyện thể dục, thể thao phù hợp với sở thích, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cộng tác viên thể dục, thể thao cơ sở;

    Cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp có trách nhiệm tạo điều kiện để công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị mình được tham gia hoạt động thể dục, thể thao. (Điều 11 Luật Thể dục thể thao)

    c)Thể dục, thể thao cho người khuyết tật

    Nhà nước tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia hoạt động thể dục, thể thao nhằm nâng cao sức khỏe, hòa nhập cộng đồng; bảo đảm cơ sở vật chất và chế độ, chính sách cho vận động viên thể thao khuyết tật tập luyện và thi đấu các giải thể thao quốc gia, quốc tế;

    Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân hỗ trợ người khuyết tật tham gia hoạt động thể dục, thể thao;

    Công trình thể thao phải được thiết kế phù hợp để người khuyết tật tham gia hoạt động thể dục, thể thao. (Điều 14, Luật Thể dục thể thao)

    d) Thể dục, thể thao cho người cao tuổi

    Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích tổ chức, cá nhân chăm lo việc tập luyện, biểu diễn và thi đấu thể thao cho người cao tuổi;

    Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Người cao tuổi có trách nhiệm tuyên truyền, vận động người cao tuổi tham gia hoạt động thể dục, thể thao.

    Cộng tác viên thể dục, thể thao là người có trình độ chuyên môn thể dục, thể thao. Cộng tác viên thể dục, thể thao được trả thù lao khi thực hiện nhiệm vụ vận động, tổ chức, hướng dẫn mọi người tập luyện thể dục, biểu diễn-thi đấu thể thao và tham gia hoạt động phát triển phong trào thể dục, thể thao ở cơ sở. (Điều 5, Nghị định số 112/2007/NĐ-CP)

       đ) Đối với cơ sở thể thao ngoài công lập

       Cơ sở thể thao ngoài công lập được:

       Đăng ký tham gia các giải thi đấu quốc gia, quốc tế, được tổ chức các giải thi đấu thể thao khi được cơ quan thể dục thể thao cùng cấp đồng ý; Đăng cai tổ chức các giải thể thao của địa phương, giải thể thao quốc gia, quốc tế tổ chức tại Việt Nam bình đẳng như các cơ sở thể thao công lập; Đăng ký tổ chức tập huấn các đội tuyển thể thao của các địa phuơng, ngành, quốc gia; Ký hợp đồng đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao theo Chương trình phát triển thể thao thành tích cao quốc gia và từng địa phương; Chuyển nhượng vận động viên theo quy định về chuyển nhượng vận động viên do Liên đoàn, Hiệp hội thể thao quốc gia ban hành; Hợp đồng liên kết với cơ sở thể thao công lập để sử dụng, khai thác các công trình thể thao công cộng; Nhận khoán, thuê công trình thể thao của Nhà nước để cung ứng dịch vụ thể dục, thể thao. (Mục II. Thông tư số 01/2007/TT-UBTDTT)

    e) Tiêu chuẩn cộng tác viên thể dục, thể thao

    Là huấn luyện viên, hướng dẫn viên thể thao hoặc vận động viên có đẳng cấp từ cấp II trở lên; Có bằng cấp về chuyên ngành thể dục thể thao từ bậc trung cấp trở lên; Có giấy chứng nhận chuyên môn do Liên đoàn thể thao quốc gia, Liên đoàn thể thao quốc tế tương ứng cấp; Có giấy chứng nhận được đào tạo chuyên môn do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp (đối với các địa phương ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo nếu chưa có người đủ tiêu chuẩn này thì những người công tác văn hóa-xã hội, đoàn thanh niên, những hạt nhân phong trào thể dục thể thao… được xét làm cộng tác viên.) (Mục I.1 Thông tư số 05/2007/TT-UBTDTT)

    Cộng tác viên thể dục, thể thao được Phòng Văn hóa-Thông tin cấp huyện cấp thẻ cộng tác viên. (Mục I.2 Thông tư số 05/2007/TT-UBTDTT)

       Thủ tục cấp thẻ cộng tác viên: UBND cấp xã tổng hợp, gửi hồ sơ đến Phòng Văn hóa-Thông tin cấp huyện đề nghị cấp thẻ. Hồ sơ gồm: i) giấy đề nghị cấp thẻ cộng tác viên của UBND cấp xã; ii) bản sao văn bản, chứng chỉ, giấy xác nhận về trình độ chuyên môn; iii) giấy chứng nhận đủ sức khỏe của cơ sở y tế đa khoa cấp huyện trở lên; iv) sơ yếu lý lịch có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc cơ quan công tác; v) 02 ảnh 3×4. (Mục I.3 Thông tư số 05/2007/TT-UBTDTT)

    3.2

    .Một số quy định về những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thể dục, thể thao

    Lợi dụng hoạt động thể dục, thể thao xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; gây thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng con người, trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc;

    Gian lận trong hoạt động thể thao (gian lận tên, tuổi, giới tính trong thi đấu thể thao; trực tiếp làm sai lệch kết quả thi đấu thể thao; gian lận về thành tích và tuyển chọn người vào đội tuyển thể thao, các trường năng khiếu thể thao).

    Bạo lực trong hoạt động thể thao (cố ý gây chấn thương, chơi thô bạo gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người khác trong tập luyện, thi đấu thể thao; đe dọa, xúc phạm các tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động thể thao);

    Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm sai lệch kết quả thi đấu thể thao. (Điều 10, Luật Thể dục thể thao; Điều 3 Nghị định số 112/2007/NĐ-CP)

    4. Về du lịch

    4.1

    . Một số quy định về chính sách phát triển du lịch

    Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển du lịch để bảo đảm du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

    Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực sau đây: i) bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch; ii) tuyên truyền, quảng bá du lịch; iii) đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch; iv) nghiên cứu, đầu tư, xây dựng sản phẩm du lịch mới; v) hiện đại hóa hoạt động du lịch; vi) xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất-kỹ thuật du lịch, nhập khẩu phương tiện cao cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch hạng cao và khu du lịch quốc gia; vii) phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn nhằm sử dụng lao động, hàng hóa và dịch vụ tại chỗ, góp phần nâng cao dân trí, xóa đói, giảm nghèo.

    Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác quy hoạch; hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch; hỗ trợ công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch, bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du

    lịch.

    Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư

    ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài ở Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch.

    Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, các tầng lợp dân cư tham gia hoạt động du lịch, mở rộng giao lưu hợp tác giữa du lịch Việt Nam với du lịch khu vực và quốc tế.

    Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện hình thành quỹ hỗ trợ phát triển du lịch từ nguồn đóng góp của các chủ thể hưởng lợi từ hoạt động du lịch, nguồn đóng góp tự

    nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài. (Điều 6,Luật Du lịch)

    4

    .2. Sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch

    Cộng đồng dân cư có quyền tham gia và hưởng lợi ích hợp pháp từ hoạt động du lịch; có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch, bản sắc văn hóa địa phương; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường để tạo sự hấp dẫn du lịch;

    Cộng đồng dân cư được tạo điều kiện để đầu tư phát triển du lịch, khôi phục và phát huy các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian, ngành, nghề thủ công truyền thống; sản xuất hàng hóa của địa phương phục vụ khách du lịch, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương. (Điều 7 Luật Du lịch)

    4.3. Bảo vệ môi trường du lịch

    Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội nhân văn cần được bảo vệ, tôn tạo và phát triển nhằm bảo đảm môi trường du lịch xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh.

     Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình ban hành các quy định nhằm bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch.

    UBND các cấp có biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch phù hợp với thực tế của địa phương.

    Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh; khắc phục tác động tiêu cực do hoạt động của mình gây ra đối với môi trường; có biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội trong cơ sở kinh doanh của mình.

    Khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương và các tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc; có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự nhằm nâng cao hình ảnh đất nước, con người và du lịch Việt Nam. (Điều 9, Luật Du lịch)

    4.4.

    Một số quy định về các hành vi bị nghiêm cấm

    Làm phương hại đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc;

    Xây dựng công trình du lịch không theo quy hoạch đã được công bố;

    Xâm hại tài nguyên du lịch, môi trường du lịch;

    Phân biệt đối xử với khách du lịch, thu lợi bất chính từ khách du lịch;

    Tranh giành khách, nài ép khách mua hàng hóa, dịch vụ.

    Kinh doanh du lịch không có giấy phép kinh doanh, không có đăng ký kinh doanh hoặc kinh doanh không đúng ngành, nghề, phạm vi kinh doanh.

    Sử dụng tư cách pháp nhân của tổ chức khác hoặc cho người khác sử dụng tư cách pháp nhân của mình để hoạt động kinh doanh trái pháp luật.

    Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhận hối lộ, sách nhiễu, gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, khách du lịch. (Điều 12 Luật Du lịch).

    Tóm lại

    , các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch là những căn cứ pháp lý trong quản lý và tổ chức các  hoạt động trong các lĩnh vực tương ứng từ trung ương đến địa phương. Đối với khu vực, trung  miền núi và vùng dân tộc, cơ quan chức năng và chính quyền các cấp cần căn cứ vào thực tiễn tình hình địa phương để vận dụng các căn pháp lý đó sao cho phù hợp với từng vùng, dân tộc để các quy định của pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả trong quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch.

    ****************

    1) Anh (chị) hãy nêu những văn bản và nội dung quy định cơ bản về hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng?

    2) Anh (chị) hãy nêu những văn bản và nội dung quy định cơ bản về bình đằng giới và chống bao lực gia đình?

    3) Anh (chị) hãy nêu những văn bản và nội dung quy định cơ bản về Thể dục thể thao?

    4) Anh (chị) hãy nêu những văn bản và nội dung quy định cơ bản về du lịch?

     Văn bản tham khảo và tra cứu

    1. Về lĩnh vực Văn hóa

    -  Luật Di sản văn hóa ngày 29/6/2001;

    – Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ngày 18/6/2009;

    – Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa;

    – Nghị định số 86/2005/NĐ-CP ngày 08/7/2005 của Chính phủ về quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước;

    – Thông tư số 13/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định trình tự, thủ tục đề nghị công nhận bảo vật quốc gia;

    – Thông tư số 18/2010/TT-BVHTTDL ngày 31/12/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về tổ chức và hoạt động của bảo tàng.

    2. Về lĩnh vực Điện ảnh

    – Luật Điện ảnh năm 2006;

    – Luật sửa đổi, bổ sung Luật Điện ảnh năm 2009;

    – Nghị định số 54/2010/NĐ-CP ngày 21/5/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện ảnh và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh.

    3. Về hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng

    – Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ;

    – Thông tư số 04/2009/TT-BVHTTDL ngày 16/12/2009 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết thi hành một số quy định tại Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP;

    4. Về Thư viện

    – Pháp lệnh Thư viện ngày 28/8/2001;

    – Nghị định số 72/2002/NĐ-CP ngày 06/8/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện;

    – Nghị định số 02/2009/NĐ-CP ngày 06/01/2009 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng;

    – Thông tư số 56/2003/TT-BVHTT ngày 16/9/2003 của Bộ Văn hóa-Thông tin hướng dẫn chi tiết về điều kiện thành lập thư viện và thủ tục đăng ký hoạt động thư viện;

       – Quyết định số 77/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 28/8/2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của thư viện xã, phường, thị trấn.

    – Quy chế sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu hành, kinh doanh băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình ca nhạc, sân khấu ban hành kèm theo Quyết định số 55/1999/QĐ- BVHTT ngày 05/8/1999 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông

    tin;

    – Quy chế dạy âm nhạc ban hành kèm theo Quyết định số 07/2003/QĐ-BVHTT ngày 13/3/2003 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin;

    – Quy chế sao chép tác phẩm tạo hình ban hành kèm theo Quyết định số 17/2004/QĐ-BVHTT ngày 05/5/2004 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin;

    5. Về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội

    – Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

    – Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg ngày 28/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

    – Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

    – Kết luận số 51-KL/TW ngày 22/7/2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về thực hiện nếp sống  văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội;

    – Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL ngày 21/01/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.

    – Thông tư số 43/2003/TT-BVHTT ngày 16/7/2003 của Bộ Văn hóa-Thông tin hướng dẫn thực hiện Nghị định số 24/2003/NĐ-CP;

    – Thông tư số 79/2005/TT-BVHTT ngày 08/12/2005 của Bộ Văn hóa-Thông tin sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 43/2003/TT-BVHTT;

    7. Về đời sống văn hóa cơ sở

    – Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003, sửa đổi, bổ sung năm 2005;

    – Nghị định số 121/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng;

    – Quy chế công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” ban hành kèm theo Quyết định số 62/2006/QĐ-BVHTT ngày 23/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin;

    – Thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT/MTTW-BVHTT ngày 23/6/2006 của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Văn hóa-Thông tin hướng dẫn phối hợp chỉ đạo nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”;

    – Thông tư số 03/2009/TT-BVHTTDL ngày 28/8/2009 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Văn hóa tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

    – Thông tư số 11/2010/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định tiêu chí của Trung tâm Văn hóa-Thể thao quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh;

    – Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã.

    8. Về Gia đình

    – Luật Bình đẳng giới ngày 29/11/2006;

    – Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới;

    – Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04/6/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới;

    – Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 của Chính phủ về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới;

    – Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới;

    – Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020;

    – Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ngày 21/11/2007;

    – Chỉ thị số 16/2008/CT-TTg ngày 30/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức triển khai thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình;

    – Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình;

    – Nghị định số 110/2009/NĐ-CP ngày 10/12/2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình;

    – Quyết định số 2879/QĐ-BVHTTDL ngày 27/6/2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc triển khai mô hình can thiệp phòng, chống bạo lực gia đình trên toàn quốc;

    – Thông tư số 02/2010/TT-BVHTTDL ngày 16/3/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về thủ tục đăng ký hoạt động, giải thể cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; tiêu chuẩn của nhân viên tư vấn; cấp thẻ nhân viên tư vấn, chứng nhận nghiệp vụ chăm sóc, tư vấn và tập huấn phòng, chống bạo lực gia đình.

    9. Về Thể dục, thể thao

    – Luật Thể dục, thể thao năm 2006;

    – Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2022;

    – Nghị định số 112/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thể dục, thể thao;

    – Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường;

       – Thông tư số 01/2007/TT-UBTDTT ngày 09/01/2007 của Ủy ban Thể dục, thể thao hướng dẫn Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập trong lĩnh vực thể dục, thể thao;

    – Thông tư số 05/2007/TT-UBTDTT ngày 20/7/2007 của Ủy ban Thể dục, thể thao hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 112/2007/NĐ-CP;

    – Thông tư số 02/2009/TT-BVHTTDL ngày 17/3/2009 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn việc tổ chức và đánh giá phong trào thể dục thể thao quần chúng tại địa phương;

    – Thông tư số 07/2010/TT-BVHTTDL ngày 28/7/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về quản lý hoạt động chuyên môn của hội cổ động viên thể thao;

    – Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã;

    – Thông tư số 15/2010/TT-BVHTTDL ngày 31/12/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định điều kiện hoạt động của cơ sở thể thao tổ chức hoạt động billards và snooker;

    – Thông tư số 16/2010/TT-BVHTTDL ngày 31/12/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định điều kiện hoạt động của cơ sở thể thao tổ chức hoạt động thể dục thể hình;

    10. Về Du lịch

    – Luật Du lịch;

    – Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch;

    – Thông tư số 88/2008/TT-BVHTTDL ngày 31/12/2008 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2007/NĐ-CP về lưu trú du lịch;

    – Thông tư số 89/2008/TT-BVHTTDL ngày 31/12/2008 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2007/NĐ-CP về kinh doanh lữ hành, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại Việt Nam, hướng dẫn du lịch và xúc tiến du lịch;

    – Thông tư liên tịch số 06/2009/TTLT-BCA-BVHTTDL ngày 22/7/2009 của Bộ Công an và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn phối hợp công tác bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội trong hoạt động du lịch;

    KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA KHU VỰC ĐỒNG BẰNG

    PGS. TS. LÂM BÁ NAM

    Ths. HOÀNG THỊ LÂM

    Thời lượng: 8 tiết

    A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU               

    1. Mục đích:

    – Cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản về văn hóa khu vực đồng bằng ở nước ta.

    – Biết vận dụng những đặc điểm văn hóa khu vực đồng bằng ở địa phương mình vào hoạt động quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch trên địa bàn xã.

    2. Yêu cầu

    : Học viên nắm được đặc điểm văn hóa khu vực đồng bằng, đồng thời ứng dụng có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn ở địa phương.

    B. NỘI DUNG

    1. Mở đầu

    1.1 Đặt vấn đề

    Theo GS Ngô Đức Thịnh, về nghĩa cụ thể: Không gian văn hóa như là một không gian địa lý xác định, mà ở đó một hiện tượng hay tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại, biến đổi và liên kết nhau như một hệ thống. Theo ý nghĩa trừu tượng, có thể hiểu “không gian văn hóa’’ như một “trường’’(khái niệm trong vật lý) để chỉ hiện tượng hay tổ hợp các hiện tượng( một nền văn hóa của tộc người, quốc gia hay khu vực) có khả năng tiếp nhận và lan tỏa (ảnh hưởng), tạo cho nền văn hóa đó một không gian (trường) văn hóa rộng hay hẹp khác nhau

    .

    Khi nghiên cứu không gian văn hóa, không thể không nghiên cứu vùng văn hóa (đương nhiên có cả các tiểu vùng) bởi lẽ khi nói đến văn hóa là nói đến tính đa dạng bao gồm đa dạng văn hóa vùng và tộc người mà theo đó văn hóa khu vực đồng bằng không là một ngoại lệ. Khi nói đến văn hóa vùng cũng không thể không nói đến những sắc thái vùng (và cả tiểu vùng) vốn khá đa dạng về văn hóa, về tính cách, về tâm lý như các sử gia thời Nguyễn từng ghi nhận trong Đại Nam nhất thống chí

    thế kỷ XIX.

    Khi nói đến văn hóa khu vực đồng bằng chúng ta thường hay coi đó là không gian văn hóa Việt, bởi người Việt thường được mệnh danh là chủ nhân của những đồng bằng châu thổ. Điều đó là đúng nhưng không phải chỉ có thế. Trong không gian văn hóa ấy do các điều kiện lịch sử, từ hàng ngàn năm trước bên cạnh người Việt đã có nhiều tộc người khác cùng chinh phục và khai thác làm nên tính đa dạng của văn hóa Việt Nam

    .

    Do đặc trưng của vị trí địa lý, vùng đồng bằng là địa bàn có điều kiện thuận lợi nhất trong giao lưu văn hóa. Nếu coi lãnh thổ Việt Nam là bao lơn nhìn ra Thái Bình Dương thì cư dân đồng bằng chính là chủ nhân quan trọng nhất đối diện và vươn ra biển Đông, tiếp thu và giao thoa văn hóa với nhiều vùng miền trong khu vực và thế giới thông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường hàng hải trong lịch sử, từ bắc xuống nam, từ đông sang tây. Vùng đồng bằng cũng chính là nơi tiếp nhận, ảnh hưởng và lan tỏa nhiều nền văn hóa Đông,Tây với không ít những thách đố quyết liệt từ hàng ngàn năm trước cho tới tận ngày nay, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.

    Khái niệm đồng bằng được sử dụng phổ biến ở nước ta nhằm chỉ một khu vực địa lý phân theo các cảnh quan địa lý và địa hình. Trên đại thể, vùng đồng bằng tương ứng với vùng thấp, cao hơn một chút là vùng trung du (hay vùng giữa, vùng đệm) và vùng núi, cao nguyên (vùng cao).

    Nhìn trên bản đồ Việt Nam theo hình chữ S nối liền một dải, vùng đồng bằng gắn liền với vùng duyên hải, chiếm khoảng ¼ diện tích đất liền của cả nước. Theo các nhà địa lý, địa chất, do tính đa dạng của thiên nhiên, khu vực đồng bằng có thể phân chia thành thành các dạng: Đồng bằng châu thổ Bắc Bộ; các đồng bằng ven biển Trung Bộ và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long

    có quá trình hình thành và những đặc trưng riêng trong quá trình kiến tạo địa lý. Trong mỗi vùng như vậy lại được phân chia thành nhiều tiểu vùng với các sắc thái riêng. Để tiện bạn đọc theo dõi, trước khi xem xét về các đặc trưng văn hóa theo vùng và tộc người, chúng tôi xin trình bày khái quát về các vùng và tiểu vùng từ góc độ sinh thái nhân văn:

    1. 2. Các vùng cảnh quan đồng bằng

    1.2.1. Đồng bằng sông Hồng

    Đồng bằng sông Hồng hay đồng bằng Bắc Bộ là một châu thổ được hình thành do sự bồi tụ phù sa của sông Hồng và sông Thái Bình trong một vụng biển mà bờ là một vùng đồi núi. GS. Lê Bá Thảo gọi đồng bằng sông Hồng là món quà của các dòng sông. Sông Hồng và sông Thái Bình chính là sự hội nhập nhiều dòng sông ở thượng nguồn và trên vùng đồng bằng hiện tại được chia ra làm nhiều sông nhánh, các nhánh này càng ra gần biển càng tỏa ra thành nhiều nhánh nhỏ hơn. Sông Hồng sau khi rời khỏi Sơn Tây đã tách ra một sông nhánh quan trọng là sông Đáy, khi tới Hà Nội lại tách thêm thành sông Đuống, đến Hưng Yên thì chia nước theo sông Luộc và sông Phủ Lý, xuống Nam Định, Thái Bình thì tỏa ra thành sông Trà Lý, Sông Nam Định và sông Ninh Cơ. Mạng lưới sông Thái Bình (được hợp thành bởi sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam) từ phía dưới Phả Lại càng đa dạng và phức tạp hơn do ảnh hưởng của Thủy triều. Ban đầu có 2 nhánh chính là sông Kinh Thầy và sông Thái Bình nhưng từ Hải Dương thì mạng lưới sông nhánh dày đặc.

    Bờ biển của châu thổ thường phẳng và thoai thoải. Từ hàng vạn năm trước đã diễn ra quá trình đấu tranh quyết liệt gữa đất liền và biển cả và về sau này là cuộc đấu tranh bền bỉ, quyết liệt của con người với thiên nhiên trong quá trình chinh phục và khai thác vùng đất này .

    Ranh giới tự nhiên của đồng bằng sông Hồng bắt đầu phía đông từ Yên Lập đi men chân núi qua Phả Lại, vòng lên Lục Nam rồi men theo chân đồi Lạng Giang mà đi tới Kép, tiếp theo chân đồi Yên Thế sang Phú Bình, Phổ Yên, vòng qua chân núi Tam Đảo sang Vĩnh Yên, Việt Trì rồi theo sông mà tới Bất Bạt. Ranh giới phía Tây đồng bằng đi men theo chân núi Ba Vì, qua Chợ Bến, Dục Khê, Đoan Vĩ, từ đó đi ra biển theo chân các dãy núi đá vôi ngăn cách Ninh Bình và Thanh Hóa.

    Đồng bằng sông Hồng gắn liền với dòng sông Cái (sông Mẹ) vĩ đại, hàng năm cung cấp trên 100 triệu tấn phù sa, đóng vai trò chính trong việc tạo dựng đồng bằng châu thổ và nền văn minh rực rỡ trong thời đại dựng nước của dân tộc ta. Tuy nhiên, gắn liền với quá trình chinh phục khai thác vùng đồng bằng này cũng không tránh khỏi những thách đố quyết liệt trong điều kiện 2 mùa nóng lạnh điển hình, nắng lắm, mưa nhiều, dư thừa dông bão. Vì thế hệ thống đê sông và sau này là đê biển với hàng ngàn km được coi là công trình công cộng vĩ đại nhất đã được nhiều thế hệ người Việt dựng nên trên vùng đất này.

    Vùng đồng bằng sông Hồng với tổng diện tích khoảng 15.000 cây số vuông, được các nhà địa lý phân chia thành các tiểu vùng. Trên đại thể, có thể thấy các dạng không gian chính như vùng đồng bằng trung tâm cái nôi đầu tiên của châu thổ, vùng hạ châu thổ-duyên hải, nơi được hình thành cùng với quá trình biển lùi và quá trình cư dân tiến dần ra biển.Vùng đồng bằng trung tâm tập trung các đô thị lớn đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế văn hóa của toàn bộ vùng đồng bằng châu thổ.

    1.2

    2. Các đồng bằng ven biển Trung Bộ

    Trải dài trên quốc lộ 1 từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh từ Thanh Hóa đến Bình Thuận với trên 1300 km là các đồng bằng ven biển miền Trung: Thanh-Nghệ-Tĩnh, Bình-Trị-Thiên, Nam-Ngãi-Bình-Phú và Khánh Hòa-Ninh Thuận-Bình Thuận. Điểm đặc biệt của các đồng bằng ở đây là rìa phía đông đồng bằng cũng là bờ biển và núi nhoài ra biển, khác với đồng bằng sông Hồng và do đó do các mạch núi đâm ngang theo hướng tây, đông đã làm cho đồng bằng bị chia cắt thành các ngăn nhỏ. Thêm nữa ở nhiều nơi dãy Trường Sơn vươn ra đến sát biển làm cho nhiều dải đồng bằng bị thu hẹp như ở Quảng Bình, Quảng Trị, Phan Rang, Phan Thiết. Tuy nhiên, sườn của bờ biển vẫn lan ra rất xa ra phía đông đặc biệt là từ Đà Nẵng trở vào. Cuộc sống và hoạt động của các đồng bằng miền Trung không tách rời khỏi ảnh hưởng của dãy Trường Sơn ở phía Tây và biển ở phía Đông và do đó đất đai thường trộn lẫn phù sa từ núi và cát của biển cả, tạo nên những cồn cát nổi tiếng trải dọc miền Trung.

    Phần lớn các đồng bằng đều có diện tích vừa phải. Theo số liệu ghi chép của P.Guru, một học giả người Pháp, tổng cộng toàn bộ khoảng 14.500 Km2, trong số đó rộng nhất là đồng bằng Thanh Hóa: Gần 3000 km2 và hẹp nhất là Phan Rang: 220 km2.

    Nhìn trên bản đồ có thể thấy các đồng bằng Trung Bộ trải dài trên 9 độ vĩ tuyến và do đó tác động rất mạnh đến các yếu tố của khí hậu như mưa bão, giá rét. Nhìn chung nhiệt độ càng tăng dần từ bắc xuống nam và vượt qua đèo Hải Vân các khối khí lạnh càng suy yếu dần và lượng mưa tăng lên làm cho khu vực này có nhiều bão và gió

    vào mùa hè. Hệ thống sông dày đặc từ Trường Sơn đổ ra biển và cảnh quan đồng bằng khá đa dạng, điều kiện tự nhiên nhiều khắc nghiệt với 3 thông số: Lũ lụt, hạn hán, cát bay.

    1.2.3 Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long

    Sông Hậu chảy ra biển ít phân chia hơn. Cách biển khoảng 75 km sông bắt đầu chia thêm 2 cửa là Trịnh An và Tranh Đề ngoài cửa chính Bát Xắc.

    Sông Cửu Long là dòng sông lớn và do đó đã tạo nên vùng đồng bằng rộng lớn gần 40.000 km2, gấp gần 2,5 lần so với đồng bằng sông Hồng và các đồng bằng miền Trung cộng lại. Hệ thống sông và kênh rạch chằng chịt trên khắp châu thổ đã tạo nên yếu tố sông nước cho khu vực đồng bằng châu thổ và là yếu tố quan trọng đưa phù

    sa bồi đắp hàng năm làm nên vựa lúa quan trọng nhất cả nước. Tư duy sống chung với lũ đã ăn sâu vào tiềm thức của cư dân ở khu vực này khác với cư dân đồng bằng sông Hồng.

    Trên khu vực đồng bằng rộng lớn xuất hiện hệ thống rừng ngập mặn điển hình tạo nên những vùng rừng đặc biệt về đa dạng sinh học, nhất là ở vùng “đất  mới’’ từ Kiên Giang cho đến Cà Mau.

    Ngoại trừ những vùng đất cao được khai phá từ thời cổ đại, đồng bằng sông Cửu Long được định hình về diện mạo như sau này gắn liền với quá trình nam tiến và mở cõi của những cư dân người Việt và nhiều dân tộc thiểu số khác trên 300 năm trước.

    2. Đặc trưng văn hóa khu vực đồng bằng

    2.1. Đặc trưng văn hóa người Việt vùng đồng bằng

    2.1.1.Đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ-chiếc nôi văn hóa của người Việt.

    Đồng bằng Bắc Bộ theo lý thuyết khu vực học của các nhà nghiên cứu Nhật Bản là một trong 10 vùng văn hóa điển hình ở Đông Nam Á. Có thể nói Đồng bằng Bắc Bộ và cả bắc Trung Bộ, vốn gắn liền với quốc gia từ buổi đầu dựng nước (châu Hoan, châu Diễn hay xứ Thanh, xứ Nghệ) là vùng văn hóa- lịch sử cổ, là cái nôi hình thành dân tộc Việt (Kinh) và văn hóa Việt, đồng thời cũng là nơi hình thành các nền văn hóa nổi tiếng trong tiến trình lịch sử dân tộc.

    Lịch sử văn minh Việt Nam từ thời Hùng Vương tới hiện nay là sự tiếp nối từ văn hóa Đông Sơn đến Đại Việt và văn hóa Việt Nam trong đó tiêu biểu là các di tích Bạch Hạc, Cổ Loa, Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội. Các nhà văn hóa đã phân chia các sắc thái tiểu vùng như: Kinh Bắc, vùng Đất Tổ, vùng Trung tâm, vùng Duyên hải …

    Là cội nguồn, đồng bằng Bắc Bộ cũng đồng thời là trung tâm của đời sống chính trị xã hội và là nơi hình thành và phát triển những truyền thống văn hóa lâu đời thông qua hoạt động kinh tế, các dạng thức của văn hóa vật thể và phi vật thể, các quan hệ xã hội…làm nên bản lĩnh và cốt cách dân tộc.

    Chúng ta thường nói văn hóa Việt Nam là văn hóa xóm làng, văn minh Việt Nam là văn minh nông nghiệp và người Việt Nam chủ yếu là nông dân. Đó dường như là một hằng số để cho đến thời hiện đại vấn đề tam nông vẫn còn là cốt lõi. Điều đó trước hết được thể hiện tại đồng bằng sông Hồng từ hàng ngàn năm trước.

    Lịch sử tụ cư của cư dân người Việt ở đồng bằng sông Hồng diễn ra từ hàng ngàn năm trước. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học, sử học, dân tộc học, quá trình này diễn ra khoảng từ 7000 đến 4000 năm trước. Từ vùng thung lũng chân núi người Việt từng bước chinh phục và chiếm lĩnh vùng đồng bằng sông Hồng. Cách ngày nay khoảng 2800-2700 năm với văn hóa Đông Sơn, văn hóa đồng bằng sông Hồng phát triển rực rỡ với văn hóa đồ đồng. Kỹ thuật đúc đồng đã tạo cơ sở cho sự phát triển mạnh của sản xuất nông nghiệp.

    Trên lãnh thổ Việt Nam, đồng bằng sông Hồng là nơi có mật độ dân số đông nhất so với các vùng trong cả nước, gấp khoảng 3 lần so với đồng bằng sông Cửu Long và gấp khoảng 6 lần so với các tỉnh duyên hải miền Trung. Trong khi đó như đã đề cập, diện tích đồng bằng sông Hồng chỉ chiếm khoảng ¼ diện tích đồng bằng cả nước và do đó không ở đâu hiện tượng đất chật người đông lại điển hình như ở khu vực này. Do sức ép dân số, vấn đề nông nghiệp luôn được đặt ra thường xuyên liên tục ở đồng bằng sông Hồng.

    Như vậy, văn hóa đồng bằng sông Hồng trước hết là văn hóa nông nghiệp, trong đó nghề trồng lúa đóng vai trò chủ đạo, dù đời sống kinh tế-xã hội hiện nay có nhiều thay đổi. Lối sống cổ truyền hàng nghìn năm trước vẫn được lưu truyền và ảnh hưởng mạnh mẽ đến lối sống cư dân thời kỳ công nghiệp hóa mà sự phục hồi hội làng là một ví dụ. Tất nhiên, bên cạnh nông nghiệp còn có hoạt thủ công nghiệp, thương nghiệp, đánh bắt cá sông biển… Trong các hoạt động kinh tế đó, thủ công nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong diện mạo bức tranh đồng bằng sông Hồng và là nơi xuất hiện dày đặc các nghề thủ công và các làng thủ công phản ánh quá trình lao động sáng tạo và bàn tay tài hoa của ông cha ta qua hàng nghìn năm lịch sử.

    Khi nói đến văn hóa Việt người ta thường nhấn mạnh đến 3 nhân tố cơ bản: NHÀ-LÀNG-NƯỚC. Đây là 3 nhân tố cốt lõi được hình thành bởi điều kiện lịch sử kinh tế xã hội quy định và có mối quan hệ mật thiết với nhau.

    Nhà với cách là gia đình mà trước hết là tiểu gia đình phụ quyền luôn được coi là tế bào xã hội, là nơi tiếp nhận, trao truyền, nuôi dưỡng và phát huy văn hóa dân tộc. Cùng với tiểu gia đình còn có sự tồn tại của đại gia đình (tứ đại đồng đường, Ngũ đại đồng đường). Trên nền tảng ý thức hệ Nho giáo gia đình người Việt là gia đình phụ quyền tôn ty trật tự chặt chẽ. Gia đình là một đơn vị xã hội đồng thời là một đơn vị kinh tế (thông qua các hoạt động nông nghiệp, thủ công nghiệp, trao đổi hàng hóa). Mặc dù ảnh hưởng đậm của ý thức hệ Nho giáo nhưng trong gia đình người Việt, phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh tế và cuộc sống gia đình, cao hơn nhiều so với các xã hội Á Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Mối quan hệ trong gia đình (vợ -chồng, Bố mẹ-con…) cởi mở và bền chặt. Trong một số hoạt động kinh tế phụ nữ luôn đóng vai trò quan trong như trồng lúa, một số hoạt động thủ công nghiệp, đặc biệt là buôn bán nhỏ phụ nữ có vai trò quan trọng hàng đầu. Ca dao mô tả:

    Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa

    Tuy nhiên, khi nói đến gia đình không thể không nói đến gia tộc, một dạng thức gia đình mở rộng được liên kết trước hết bởi mối quan hệ dòng máu và cả hôn nhân:

    Thiết chế dòng họ: Trong hệ thống thiết chế của người Việt dòng họ có vai trò rất quan trọng từ trong lịch sử cho đến thời hiện tại. Dấu ấn của dòng họ gắn liền với quá trình hình thành cộng đồng cư dân (làng, xóm). Vì thế không có gì lạ, nhiều làng xã mang tên dòng họ có công dựng làng ban đầu như Lê Xá, Ngô Xá, Nguyễn Xá (Nguyên Xá), Lưu Xá, Đặng Xá… Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trước đổi mới, vai trò của dòng họ bị “chìm khuất” tiếp tục được trỗi dậy với xậy dựng cải tạo nhà thờ họ, quỹ khuyến học dòng họ, khu mộ dòng họ và thậm chí thành lập Ban liên lạc các dòng họ trong phạm vi cả nước rầm rộ trong những năm gần đây. Vì thế có nhà nghiên cứu gọi đây là văn hóa dòng họ.

    : Trong hệ thống thiết chế của người Việt dòng họ có vai trò rất quan trọng từ trong lịch sử cho đến thời hiện tại. Dấu ấn của dòng họ gắn liền với quá trình hình thành cộng đồng cư dân (làng, xóm). Vì thế không có gì lạ, nhiều làng xã mang tên dòng họ có công dựng làng ban đầu như Lê Xá, Ngô Xá, Nguyễn Xá (Nguyên Xá), Lưu Xá, Đặng Xá… Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trước đổi mới, vai trò của dòng họ bị “chìm khuất” tiếp tục được trỗi dậy với xậy dựng cải tạo nhà thờ họ, quỹ khuyến học dòng họ, khu mộ dòng họ và thậm chí thành lập Ban liên lạc các dòng họ trong phạm vi cả nước rầm rộ trong những năm gần đây. Vì thế có nhà nghiên cứu gọi đây là

    Thiết chế gia đình, dòng họ gắn chặt với thiết chế làng. Quan niệm truyền thống của người Việt gắn bó với quê hương làng xóm, dù trong nghèo khổ thì mỗi thành viên đều gắn bó với làng, họ quan niệm: Sống ở làng, sang ở nước.

    Làng Việt ở đồng bằng là một không gian tự quản và do đó thường được hình dung được bao bọc bởi lũy tre xanh mà điển hình là đồng bằng Bắc Bộ và vì thế người ta thường hay nói tính khép kín tương đối của làng xã: Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ.

    Trong lịch sử dài lâu, trước những thách đố của thiên nhiên, con người phải chung lưng đấu cật, dựa vào nhau để tồn tại và do đó làng xã thành nơi cố kết các thành viên theo quan niệm: Bán anh em xã mua láng giềng gần, tối lửa tắt đèn có nhau… Từ đó hình thành nên thiết chế mang tính tự quản của làng xã. Ngoài thiết chế quan phương (chính thống) của hệ thống chính quyền mà thời nào cũng có, trong làng xã cổ truyền còn tồn tại hàng loạt các thiết chế phi quan phương khác như: Phe, hội, phường, giáp, vốn rất đa dạng, ví dụ riêng hội có: Hội tư văn, hội đồng niên, hội đồng môn, hội đi chùa, hội cày, hội cấy… Mỗi thiết chế như vậy nhằm thỏa mãn một nhu cầu nhất định của các thành viên cộng đồng.

    Trong từng cộng đồng làng bao giờ cũng có hương ước để đảm bảo cho sự vận hành, mặc dù không phải lúc nào lệ làng cũng phù hợp với luật nước theo kiểu (phép vua thua lệ làng).

    Mỗi cộng đồng làng luôn tồn tại một không gian tâm linh (đình, đền, chùa) mang dấu ấn và đặc trưng của làng và gắn liền với nó là các hoạt động văn hóa-tôn giáo. Tôn giáo ở làng Việt ngoài ý thức hệ Nho giáo, phải kể đến Phật Giáo, Đạo giáo trên nền

    tảng tín ngưỡng dân gian rất đa dạng và đi liền với nó là hệ thống lễ hội làng xuân, thu nhị kỳ của cư dân nông nghiệp: Tháng giêng ăn tết ở nhà /Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè.

    Đời sống tâm linh là cái nền vững chắc nhất của quan hệ cộng đồng làng xã, phản ánh ý thức về cội nguồn (gia đình, dòng họ, cộng đồng) từ cộng đồng làng rồi mở rộng ra thành cộng đồng liên làng và cao hơn là cộng đồng siêu làng theo cách nói của GS. Hà Văn Tấn, trên cơ sở đó mà hình thành ý thức quốc gia, với sự hiện diện của Nước, trong mối quan hệ Nhà-Làng-Nước:

    Ai ơi mồng chín tháng tư

    Không đi hội Gióng cũng hư mất đời

    Hay

    Dù ai đi ngược về xuôi

    Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba

    Hay

    Ai là con cháu rồng tiên

    Tháng ba mở hội Trường Yên thì về

    Khi nghiên cứu về làng xã các nhà nghiên cứu đều thống chất chung có văn hóa làng, mặc dù nội hàm khái niệm chưa dễ thống nhất. Phải chăng vì thế mà sau này ở Việt Nam rầm rộ xây dựng làng văn hóa rồi ấp văn hóa, bản văn hóa, buôn văn hóa?

    Nói đến văn hóa của người Việt còn phải kể đến các dạng biểu hiện khá đặc sắc của văn hóa vật thể và phi vật thể, từ ăn, mặc, ở, đi lại đến đời sống tinh thần (tín ngưỡng, lễ nghi, phong tục, văn học, nghệ thuật…) với các mảng màu đậm nhạt khác nhau như nông thôn, đô thị, vùng trung tâm và vùng duyên hải mà nhiều công trình nghiên cứu như Địa chí văn hóa dân gian vùng đất tổ, Địa chí Kinh Bắc-Hà Bắc, Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội, Địa chí Nam Định, Địa chí Hải Dương, Địa chí Vĩnh Phúc…

    2.1.2. Văn hóa Việt ở đồng bằng trong quá trình Nam tiến: Trung và Nam Trung Bộ đến Nam Bộ

    Kể từ khi Nguyễn Hoàng được cử vào làm trấn thủ Thuận Hóa mở rộng dần bờ cõi về phía nam cũng là lúc đánh dấu quá trình người Việt từng bước xác lập vị trí và chủ quyền trên vùng đất này. Thực ra từ đầu kỷ nguyên Đại Việt, các triều đại Lý-Trần cũng bắt đầu hướng về phương Nam và do đó đất Châu Ô, châu Lý đã thuộc về Đại Việt sau sự kiện hôn nhân Huyền Trân-Chế Mân đầu thế kỷ XIV mà sử sách đã ghi lại.

    Về đại thể đây là vùng đất Chăm Pa cũ và do đó trên vùng đồng bằng duyên hải này với những đặc trưng về cảnh quan địa hình mà GS. Trần Quốc Vượng khái quát

    thành Núi-Biển-Sông-Đèo được coi là một vùng văn hóa với các xứ như xứ Huế, xứ Quảng…

    Trên dọc dài ven biển miền Trung, văn hóa Việt từ bắc miền Trung theo dấu chân những người mở cõi, mang theo tên đất, tên làng ngôn ngữ và đương nhiên cả thánh thần, lối sống và thích nghi trên vùng đất mới. Hình thức chuyển cư thường gắn liền với các địa phương và trong nhiều trường hợp là các dòng họ mà điển hình là vùng Thanh-Nghệ. Khách quan mà nói con đường Nam tiến là con đường thuận đối với cư dân người Việt. Trong quá trình xác lập vị trí ở đây, các chúa Nguyễn đã thi hành nhiều chính sách nhằm thu phục nhiều bộ phận cư dân từ phía Bắc, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh lúc bấy giờ. Các chúa Nguyễn thu phục tất cả cư dân bất mãn với nhà Trịnh ở phía Bắc, từ dân tù tội đến các danh sĩ. Trường hợp Đào Duy Từ là một ví dụ điển hình đã được trọng dụng và trở thành quân sư hàng đầu của chúa Nguyễn trong cuộc chiến với quân Trịnh. Theo nhiều nhà nghiên cứu, dưới góc độ văn hóa, Đào Duy Từ là người có công mang loại hình hát bội (tuồng) vào miền Trung.

    đặc trưng về tính cách vùng miền, xứ mà dân gian đã tổng kết khá hay(). Tính đặc trưng vùng miền dễ sinh ra tính cục bộ địa phương tồn tại ngay cả thời hiện đại.

    Kho tàng văn hóa dân gian phong phú và sắc thái phương ngữ độc đáo giàu bản sắc không thể trộn lẫn. Thêm vào đó là cácmà dân gian đã tổng kết khá hay. Tính đặc trưng vùng miền dễ sinh ra tính cục bộ địa phương tồn tại ngay cả thời hiện đại.

    Trên 300 năm trước người Việt đã tràn xuống đồng bằng Nam Bộ. Trong buổi đầu, người Việt chọn các Giồng tức những gò đất cao và dài để làm điểm tụ cư. Trước khi người Việt đến nơi đây vẫn là vùng đất còn hoang vu. Một số nơi đã được người Khơ me khai phá nhưng về cơ bản vẫn là vùng trũng, hoang sơ, mênh mông sông nước. Có lẽ do địa hình sông nước mà làng Việt Nam bộ được hình thành trên cái nền sông nước tỏa ra trên diện rộng theo hệ thống kênh rạch khác hẳn sự quần cư của cư dân đồng bằng sông Hồng và tính mở rất cao.

    Phủ biên tạp lục. Vì thế sắc thái tính danh họ ở nhiều vùng Nam Bộ lại có tính tương đồng với các dòng họ Việt, Chăm ở miền Trung như Trà, Ma…

    Khác với quá trình hình thành làng xã ở Bắc Bộ và Bắc Trung bộ từ hàng ngàn năm trước gắn liền với sự tạo dựng nền văn minh dân tộc, làng Việt ở Nam Bộ được hình thành với quá trình di dân mở mang bờ cõi với nhiều nguồn cư dân, nhiều thành phần cư dân theo chủ trương của các chúa Nguyễn mà Lê Quý Đôn đã từng ghi lại trong. Vì thế sắc thái tính danh họ ở nhiều vùng Nam Bộ lại có tính tương đồng với các dòng họ Việt, Chăm ở miền Trung như Trà, Ma…

    “anh Hai” là đặc trưng nổi bật của cư dân Việt ở Nam Bộ, là sản phẩm của quá trình lịch sử và môi trường sống được hòa trộn tạo thành trong những thế kỷ vừa qua

    Làng Việt ở vùng Nam Bộ là các làng mới trên nền tảng làng Việt Trung Bộ và là nơi hội nhập và do đó không hề có quan niệm chính cư hay ngụ cư như ở phía Bắc, vốn là vật cản đè nặng lên đời sống người nông dân châu thổ Bắc Bộ, làm cho con người không thể thoát khỏi sự ràng buộc của quê hương bản quán. Thêm nữa do đặc điểm quá trình tụ cư nên ở Nam Bộ sự cố kết dòng họ không còn chặt chẽ như ở Bắc Bộ và Bắc trung Bộ. Trong điều kiện đó, tính cộng cảm của những con người phải rời khỏi quê hương làng xóm tìm kế sinh nhai đã tạo ra tính cởi mở, tính dân chủ bình đẳng của các thành viên cộng đồng lại trở thành yếu tố chi phối. Cư dân người Việt Nam Bộ vừa cởi mở vừa phóng khoáng trên một không gian bát ngát ruộng đồng, sông nước. Bên cạnh đó, quá trình khai khẩn chinh phục đồng bằng Nam Bộ còn có nhiều thành phần cư dân khác bên cạnh người Việt như người Hoa, người Khơ me và có thể còn có cả người Mạ, Mnông…mà xu hướng chung là đoàn kết gắn bó của mối quan hệ đa dân tộc. Tính phóng khoáng của cư dânlà đặc trưng nổi bật của cư dân Việt ở Nam Bộ, là sản phẩm của quá trình lịch sử và môi trường sống được hòa trộn tạo thành trong những thế kỷ vừa qua

    Cũng do những điều kiện thuận lợi do thiên nhiên ban tặng, người nông dân đồng bằng Nam Bộ không rơi vào cảnh khốn khó về đời sống như người nông dân Bắc Bộ, bởi đất rộng, chim trời cá nước, không phải chạy ăn từng bữa và do đó cuộc sống hòa đồng với thiên nhiên, rộng mở với thế giới bên ngoài thể hiện qua cách làm ăn, qua nếp sống sinh hoạt, nhà cửa, trang phục.

    Khác với đồng bằng Bắc Bộ với nền văn hóa được bồi tụ vun đắp qua hàng nghìn năm và sớm định hình, văn hóa của cư dân người Việt ở đồng bằng Nam Bộ song hành cùng phát triển với các dòng văn hóa khác như Khơ me, Chăm, Hoa và do đó bên cạch việc giữ gìn bản sắc là quá trình giao thoa giữa các nền văn hóa. Có thể thấy rõ điều nay trong các đặc trưng về nhà ở mang dáng dấp nhà Khơ me ở vùng Đồng Tháp Mười hay món canh chua được cải tiến từ Khơ me đến người Hoa rồi người Việt. Cũng như vậy đối với nhiều loại hình văn học dân gian, ví như dấu vết dân ca Chăm trong dân ca Nam Bộ và cả trong vọng cổ nổi tiếng của người Việt ở khu vực này.

    Nét đặc sắc của văn hóa người Việt ở Nam Bộ là sự ra đời của nhiều tôn giáo địa phương. Ngoài các hệ tư tưởng tôn giáo chung của người Việt như Nho, Phật, Đạo phổ biến trong cộng đồng người Việt dù mức độ đậm nhạt có khác nhau thì ở Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã xuất hiện các loại tôn giáo Cao Đài, Đạo Dừa, Hòa Hảo…phản ánh sự đứt đoạn và mất cân bằng trong đời sống văn hóa tâm linh của cư dân ở khu vực này.

    Nếu so sánh văn hóa người Việt Bắc Bộ và Nam Bộ, có thể thấy sự khác biệt trên các lĩnh vực:

    * Về môi trường tự nhiên:

    – Nhiệt đớí gió mùa với 4 mùa. Đồng bằng được khai thác sớm, mật độ dân số cao (Bắc Bộ)

    – Châu thổ trẻ khí hậu nhiệt đới 2 mùa mưa và nóng. Mật độ cư dân thấp, chịu nhiều ảnh hưởng của biển và thủy triều (Nam Bộ). Môi trường sông nước: Nhà Bè nước chảy chia hai/Ai về Gia Định Đồng Nai thì về

    * Yếu tố lịch sử

     - Có lịch sử lâu đời gắn liền với việc hình thành quốc gia dân tộc (Bắc Bộ)

     -  Vùng đất mới được khai thác trong quá trình Nam tiến (Nam Bộ).

    * Về cư dân

    – Địa bàn sinh tụ chủ yếu của người Việt (Bắc Bộ). Thành phần tộc người thuần nhất. Truyền thống đậm, đổi mới chậm.

     - Nơi chung sống của nhiều tộc người trong quá trình khai khẩn.

    * Về giao lưu văn hóa

    – Đồng bằng Bắc Bộ chịu ảnh hưởng mạnh của văn hóa Đông Á (Trung Quốc và sau này là Pháp, Nga).

    – Nam Bộ là ngã ba đường giao lưu. Ảnh hưởng mạnh văn hóa Ấn Độ và các quốc gia khu vực Đông Nam Á (về sau là ảnh hưởng văn hóa Pháp, Mỹ). Nhìn tổng thể vùng Nam Bộ giao lưu ảnh hưởng bên ngoài tác động mạnh

    2.2. Đặc trưng văn hóa Chăm

    Người Chăm là hậu duệ của cư dân Chăm pa-một quốc gia hình thành từ sau công nguyên trên lãnh thổ miền Trung Việt Nam cho đến thế kỷ XVII và có mối quan hệ đa chiều với quốc gia Đại Việt ở phía Bắc qua hàng thiên niên kỷ. Nếu coi Văn hóa Đông Sơn là mạch nguồn của văn hóa Đại Việt ở phía Bắc thì Sa Huỳnh là một dòng chảy tạo nên văn hóa Chăm Pa ở miền Trung

     Người Chăm cư trú tập trung ở Ninh Thuận, Bình Thuận, một số khác cư trú tại Bình Định, Phú Yên, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang.

    Trong cộng đồng người Chăm ở nước ta hiện nay có sự khác biệt về tín ngưỡng tôn giáo. Ngoài bộ phận người Chăm ở Nam Bộ theo Hồi giáo (Chăm Islam), người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận hoặc theo Bà La Môn giáo hoặc theo Bà ni (đạo Hồi cũ) . Về cơ bản người Chăm sống ở đồng bằng và có mối quan hệ mật thiết về văn hóa với các dân tộc thuộc ngữ hệ Mã lai-Đa đảo (Malayo-Polinêdia), trong đó đặc biệt phải kể đến người Raglay trong khu vực.

    Người Chăm là cư dân nông nghiệp. Dấu vết của các công trình công cộng của người Chăm ngoài hệ thống tháp Chăm nổi tiếng phải kể đến các công trình thủy lợi được xây dựng từ thế kỷ XII-XV. Người Chăm vốn là cư dân có nghề trồng lúa nước lâu đời và đã có ảnh hưởng tới người Việt ở phía Bắc. Theo ghi chép của Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ người Việt Bắc Bộ trước đây chỉ làm lúa 1 vụ (lúa mùa). Về sau do học hỏi kinh nghiệm từ người Chăm đã biết làm lúa 2 vụ. Đó là vụ lúa chiêm, tức lúa Chăm từng đi vào ca dao:       

    Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

    Bỗng nghe tiếng sấm phất cờ mà lên

    Trong xã hội người Chăm, tôn giáo có vị trí rất quan trọng. Bên cạnh ý thức dân tộc, người Chăm còn thể hiện rõ ý thức về cộng đồng tôn giáo.

    Do các điều kiện lịch sử và tôn giáo xã hội Chăm cổ truyền là xã hội phân chia đẳng cấp. Các yếu tố tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng thể hiện qua vai trò của tầng lớp tu sĩ. Cộng đồng người Chăm Islam có quan hệ rộng rãi với cộng đồng Hồi giáo Đông Nam Á.

    Bên cạnh các tôn giáo chính thống, trong cộng đồng người Chăm vẫn còn tồn tại hệ thống tín ngưỡng dân gian bản địa như tín ngưỡng đa thần giáo, các tập tục kiêng kỵ phổ biến của cư dân Đông Nam Á như quan niệm thần cây đa, ma cây gạo của người Việt.

    Trong sinh hoạt, sản xuất, người Chăm còn bảo lưu nhiều tập tục kiêng kỵ như

    hệ thống lễ nghi nông nghiệp, đánh bắt cá, các nghi thức chữa bệnh bằng cúng bái, bùa chú.

    Kho tàng văn hóa của người Chăm rất phong phú. Hệ thống kiến trúc Chăm thể hiện truyền thống kiến trúc đặc sắc thông qua hệ thống tháp Chăm và thánh địa Mỹ Sơn, được công nhận là di sản văn hóa thế giới. Bên cạnh đó còn có thể kể đến nền nghệ thuật Chăm đặc sắc trong kho tàng văn hóa Việt Nam.

    2.3. Đặc trưng văn hóa Khơ me

    Người Khơ me cư trú chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long. Về mặt lịch sử các nhà khoa học thường nhắc đến sự tồn tại của vương quốc cổ Phù Nam và về sau là Chân Lạp mà nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ

    Người Khơ me còn có các tên gọi khác như: Việt gốc Miên, Khmer Crôm… nhưng Khơ me là tên gọi chính thức (Khơ me bắt nguồn từ tiến Phạn là Khêmara có nghĩa là an vui và hạnh phúc).

    Là một trong những cư dân có mặt sớm ở đồng bằng sông Cửu Long, tụ cư thành các Phum và Sóc (các đơn vị xã hội cổ truyền) sống đan xen với các dân tộc khác như Việt, Hoa.

    Người Khơ me vốn là cư dân nông nghiệp ở vùng châu thổ đồng thời phát triển các nghề thủ công như gốm Tri Tôn, Sóc Xoài (Kiên Giang).

    Điểm nổi bật trong đời sống của người Khơ me là sự hiện diện và vai trò của Phật giáo tiểu thừa. Theo thống kê ban đầu ở đồng bằng sông Cửu Long có trên 400 ngôi chùa của người Khơ me. Trong quan niệm của người Khơ me, mỗi thành viên khi ra đời đã đã trở thành phật tử.

    Chùa không chỉ là trung tâm tôn giáo mà còn là trường học, là nơi tiến hành các sinh hoạt công cộng. Vì thế, chùa được coi là trung tâm của phum, sóc, là biểu tượng của văn hóa Khơ me. Trong xã hội tầng lớp sư sãi được coi trọng và họ thường tham gia hầu hết nghi lễ của cộng đồng, kể cả các tín ngưỡng dân gian.

    Chùa Khơ me là công trình kiến trúc đẹp thường được dựng ở vị trí trung tâm của cộng đồng và được coi là biểu tượng kiến trúc của tộc người.

    Người Khơ me có kho tàng nghệ thuật dân gian khá phong phú, đặc biệt hệ thống truyền thuyết, truyện cổ dân gian, lễ hội gắn liền với khung cảnh sông nước đồng bằng sông Cửu Long. Vùng Hà Tiên còn có động Thạch Sơn và sự tích Thạch Sanh giống như của người Việt. Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc dân gian Khơ me khá tinh xảo. Âm nhạc và nghệ thuật dân gian gắn liền với sân khấu mang bản sắc tộc người, trong đó múa rất phổ biến và mang tính nghệ thuật cao.

    Cùng cộng cư trên vùng đồng bằng sông Cửu Long, người Khơ me, người Việt và người Chăm đã có quá trình giao lưu văn hóa mạnh mẽ.

    Mặc dù mối quan hệ giữa người Khơ me Nam Bộ và người Khơ me ở Campuchia về cội nguồn nhưng do những biến cố chính trị tác động, Người Khơ me ở đồng bằng sông Cửu Long đã gắn bó với cộng đồng quốc gia dân tộc mặc dù vẫn giữ mối liên hệ đồng tộc.

    Trong bối cảnh chung của miền Nam không thể không nói đến những ảnh hưởng trong thời kỳ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới đối với đời sống của người Khơ me.

    3. Công tác quản lý và phát triển sự nghiệp văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch trên địa bàn xã khu vực đồng bằng

    3.1. Những nhận thức cơ bản

    Với đặc điểm văn hóa khu vực đồng bằng ở nước ta là đặc điểm văn hóa vùng miền của văn hóa người Việt (Kinh) và văn hóa các dân tộc Chăm, Khơ me ở Trung Bộ và Nam Bộ. Nói văn hóa và đặc điểm văn hóa khu vực đồng bằng tức là nói đến yếu tố và những giá trị, đặc điểm văn hóa của các tộc người sinh sống, lao động và sáng tạo gắn với môi sinh cụ thể: Đồng bằng mà ở đó có sự khác biệt so với khu vực trung du, miền núi, vùng dân tộc.

    Một là, văn hóa khu vực đồng bằng (gồm những sáng tạo, giá trị và đặc điểm văn hóa của người Kinh, Chăm, Khơ me) là đối tượng và là khách thể của quản lý nhà nước về văn hóa.

    Hai là, quá trình quản lý nhà nước là quá trình tác động của chủ thể là Nhà nước tới khách thể là đối tượng tiếp nhận-chính là cư dân các dân tộc thuộc các tổ chức, đơn vị hành chính ở đồng bằng.

    Ba là, sự hiểu biết về đối tượng tiếp nhận các tác động của nội dung quản lý sâu sắc hay sơ sài, hệ thống hay chắp vá (tức là hiểu biết về văn hóa khu vực đồng bằng, văn hóa của người Kinh, Chăm, Khơ me sinh sống ở khu vực này) sẽ mang lại hiệu quả cao hay thấp trong việc thực hiện các mục tiêu, nội dung quản lý nhà nước về văn hóa đặt ra.

    Bốn là, quá trình thực hiện các mục tiêu, chuyển tải và tác động các nội dung quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch khu vực hoặc ở các đơn vị hành chính cụ thể (tỉnh, huyện, xã) trong khu vực đồng bằng thì những đặc điểm văn hóa, điều kiện tự nhiên là yếu tố rất quan trọng để cán bộ văn hóa tìm ra những giải pháp, phương pháp và hình thức phù hợp để triển khai hoạt động quản lý và tổ chức các hoạt động phù hợp với đối tượng dân cư và đặc điểm tự nhiên.

    3.2. Kỹ năng vận dụng

    3.2.1. Trong tham mưu tư vấn

    Để tham mưu tư vấn các nội dung về kế hoạch, chương trình phát triển văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch của xã trong 5 năm và hàng năm, cán bộ văn hóa – xã hội xã khu vực đồng bằng cần nắm và thực hiện các vấn đề sau:

    – Tìm hiểu và xây dựng cho mình kiến thức, tình hình, đặc điểm điều kiện tự nhiên; đặc điểm kinh tế-xã hội dân số và phân bố dân cư của các dân tộc Kinh, Chăm, Khơ me để xây dựng các nội dung của kế hoạch, chương trình phát triển văn hóa của địa phương.

    – Tìm hiểu và xây dựng cho mình kiến thức, tình hình, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán của các dân tộc Kinh, Chăm, Khơ me để xây dựng các nội dung của kế hoạch, chương trình phát triển văn hóa của địa phương.

    – Phải coi hai vấn đề trên là yêu cầu và điều kiện chính để tham mưu và định ra các nội dung về phát triển văn hóa của các dân tộc trên địa bàn xã

    3.2.2. Trong quản lý

    Để thực hiện chức năng quản lý văn hóa trên địa bàn xã khu vực đồng bằng có một, hai hoặc cả ba dân tộc Kinh, Chăm, Khơ me cùng sinh sống trên địa bàn xã, cán bộ văn hóa-xã hội xã cần biết vận dụng các kiến thức và thực hiện các nhiệm vụ sau:

    – Căn cứ vào đặc điểm phong tục tập quán, đặc điểm sinh hoạt văn hóa và đặc điểm hoạt động kinh tế của đồng bào dân tộc Kinh, Chăm, Khơ me trên địa bàn xã để xây dựng kế hoạch triển khai các hoạt động phổ biến chính sách, pháp luật về văn hóa, về các nội dung quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch theo quy định của Trung ương và địa phương (tỉnh, huyện, xã).

    – Đối với mỗi dân tộc trong khu vực đồng bằng cần tìm ra những hình thức và phương pháp tổ chức các hoạt động, kiểm tra, đánh giá, tổng kết các hoạt động văn hóa phù hợp với đặc điểm phong tục tập quán xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng ở địa phương.

    3.2.3. Trong hướng dẫn và tổ chức các hoạt động

    Việc hướng dẫn và tổ chức các hoạt động văn hóa trên địa bàn xã khu vực đồng bằng đều phải dựa trên đặc điểm hoạt động kinh tế, đặc điểm phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa của một, hai hoặc ba dân tộc Kinh, Chăm, Khơ me cụ thể ở địa phương. Việc hướng dẫn và tổ chức các hoạt động văn hóa trên địa bàn các xã đồng bằng cần chú ý và quán triệt các nội dung:

    – Mỗi một dân tộc, mỗi loại hình hoạt động kinh tế trên địa bàn xã khu vực đồng bằng cần xây dựng chương trinh, kế hoạch hướng dẫn và tổ chức các hoạt động văn hóa phù hợp với đặc điểm đời sống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào. 

    – Tôn trọng những tập tục riêng, khác biệt về tập quán sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của từng dân tộc và xem đó là những căn cứ để xây dựng những hướng dẫn cụ thể, để tổ chức những hoạt động văn hóa sát hợp với tình hình dân trí, tập quán của các dân tộc trên địa bàn xã.

    – Xây dựng mạng lưới cộng tác viên và xây dựng những hạt nhân trong đồng bào các dân tộc Kinh, Chăm, Khơ me là người có uy tín, già làng trưởng bản, thanh niên ưu tú, tình nguyện…;có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng tập huấn cho đối tượng trên để họ có đủ năng lực phối hợp thực hiện nhiệm vụ cộng tác viên được giao.

    Kết luận

    Vùng đồng bằng tuy chỉ chiếm khoảng ¼ diện tích cả nước nhưng lại chiếm trên ¾ dân số cả nước, trong đó tập trung chủ yếu là người Việt (Kinh) cùng với các dân tộc thiểu số anh em khác như người Chăm, người Hoa, người Khơ me …

    Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, cư dân người Việt (Kinh) cùng với các dân tộc anh em khác đã đóng vai trò quan trọng bậc nhất đối sự tồn vong và phát triển của đất nước. Trong điều kiện địa lý tự nhiên thuận lợi văn hóa khu vực đồng bằng, trước hết là văn hóa Việt có điều kiện giao thoa với các nền văn hóa trong khu vực và trên thế giới và do đó văn hóa Việt vận động và biến đổi không ngừng và trong nhiều trường hợp là cầu nối giao thoa của nhiều dân tộc thiểu số nước ta .

    Do phân bố trên một địa bàn trải dài từ Bắc xuống Nam gắn liền với quá trình mở mang bờ cõi, văn hóa Việt ở từng khu vực bên cạnh các sắc thái chung đã hình thành nên những sắc thái đa dạng: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Chính sắc thái riêng đó đã làm phong phú thêm kho vốn chung của cộng đồng các dân tộc ở nước ta nói chung và người Việt nói riêng.

    Trên toàn bộ khu vực đồng bằng bên cạnh người Việt còn có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống. Sự giao thoa văn hóa Việt- Chăm, Việt-Khơ me, Việt-Hoa… đã làm phong phú thêm văn hóa của từng tộc người trong bức tranh đa tộc người giàu bản sắc ở nước ta.

    ***************

    1. Anh (chị) hãy nêu đặc điểm văn hóa dân tộc Việt, Chăm, Khơ me khu vực đồng bằng ở nước ta?

    2. Làm thế nào để vận dụng kiến thức văn hóa khu vực đồng bằng trong tham mưu tư vấn, quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch trên địa bàn xã?

    Tài liệu tham khảo

    1.Vũ Tự Lập (chủ biên): Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng. NXB Khoa học xã hội, HN, 1991.

    2. Lê Bá Thảo: Thiên nhiên Việt Nam. NXB Giáo Dục, HN, 2008.

    3. Ngô Đức Thịnh: Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam. NXB Khoa học xã hội, HN, 2006.

    4. Ngô Đức Thịnh: Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam. NXB Trẻ Tp Hồ Chí Minh 2004.

    5. Trần Quốc Vượng ( chủ biên ).Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam. NXB Khoa học xã hội, HN, 1996.

    XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở CƠ SỞ                                                      TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VÙNG ĐỒNG BẰNG HIỆN NAY

    HÀ VĂN TĂNG

    MA KIỀU LY

    Thời lượng: 8 tiết

    A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU               

    1. Mục đích:

    – Cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trên địa bàn xã vùng đồng bằng hiện nay.

    – Biết vận dụng kiến thức cơ bản về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trên địa bàn xã vùng đồng bằng hiện nay vào hoạt động quản lý và tổ chức ở địa phương mình.

    2. Yêu cầu

    : Học viên nắm được

    kiến thức cơ bản về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trên địa bàn xã vùng đồng bằng hiện nay,

    đồng thời ứng dụng có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn ở địa phương.

    B. NỘI DUNG

    Mở đầu

       Trước đây người ta chỉ quan niệm văn hoá là những gì do con người sáng tạo ra như tín ngưỡng, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, tập quán, đạo đức, kiến thức hay mức độ phát  triển của một con người, một xã hội…. Gần đây trong Hội nghị quốc tế về chính sách văn hoá vì sự phát triển đã thông qua tuyên bố Mêhicô (năm 1982) cho rằng: Văn hoá được coi là toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng. Thế giới ngày nay quan niệm văn hoá không chỉ là những giá trị tinh thần mà cả những giá trị vật chất, trong đó có khái niệm “di sản phi vật thể” và “di sản vật thể”.

    (1) .

    Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII (năm 1998) về “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc” đã đề cập văn hoá theo nghĩa rộng gồm lĩnh vực văn nghệ, vấn đề môi trường văn hoá, giáo dục-đào tạo và khoa học công nghệ, thông tin đại chúng, bảo tồn bảo tàng, di sản văn hoá và văn hoá các dân tộc thiểu số, chính sách văn hoá đối với tôn giáo, hợp tác quốc tế về văn hóa, thể chế văn hoá…

    Đây là Nghị quyết đầu tiên, toàn diện của Trung ương Đảng về văn hoá, không những đã đúc kết và hoàn chỉnh các quan điểm chỉ đạo đối với việc xây dựng và phát triển nền văn hoá cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa mà còn đề ra các nhiệm vụ cơ bản nhất của Đảng về văn hoá từ nay về sau trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

     Những điều đó một lần nữa lại tiếp tục được khẳng định và phát triển sâu sắc hơn tại Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (7/2004), với những quan điểm nhất quán, xuyên suốt mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải quán triệt và thực hiện là:

    – Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.

    – Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    – Văn hoá của chúng ta là nền văn hoá thống nhất và đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    – Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ tri thức đóng vai trò quan trọng.

    (1)

    – Văn hoá là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.

    Để có được nhận thức đúng đắn, toàn diện như trên là cả một quá trình chỉ đạo và hoạt động cách mạng trải qua thực tế kiểm nghiệm.

    (1)

    Từ những nhận thức sâu sắc về văn hoá văn nghệ như thế, Đảng ta còn tiến lên một bước mới xác định rằng: “xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hoá, vì xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và vì sự phát triển con người toàn diện, bền vững. Văn hoá gắn liền với con người và văn hoá phải gắn với sự phát triển, văn hoá là đổi mới. Để có được điều đó cần phải: “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá-nền tảng tinh thần của xã hội”.

    Với nhận thức toàn diện và hiện đại về văn hoá như vậy Đảng ta đã đề ra mục tiêu phấn đấu mà cái đích cuối cùng phải đạt tới là tạo được sự phát triển đồng bộ về chất lượng với 4 giải pháp chủ yếu, 10 nhiệm vụ cụ thể, trong đó chỉ rõ 3 nội dung nhiệm vụ trọng tâm là:

    – Một là: Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và trong từng cá nhân, gia đình, thôn xóm, đơn vị, tổ chức cơ sở.

    – Hai là: Nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ xây dựng đời sống con người Việt Nam theo 5 đặc tính được xác định trong nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII.

    – Ba là: Chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở nhất là cộng đồng dân cư, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, tốt đẹp, phong phú.

    Những vấn đề về văn hoá nêu trên là vấn đề chiến lược, mặt khác những nhiệm vụ quan trọng đó phải được thực hiện có tính chất thường xuyên, vừa cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài.

    Như vậy, Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở và Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá có điểm chung, mặc dù nội dung, vị trí, cách làm khác nhau, nhưng có quan hệ khăng khít, tác động lẫn nhau. Về cuộc vận động phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư có chuyên đề riêng. Bài này chỉ tập trung vào vấn đề Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở. (Viết tắt là: Xây dựng ĐSVH ở cơ sở).

    Vấn đề “Xây dựng ĐSVH ở cơ sở” đã được nêu lên trong văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ V của Đảng (năm 1981) rằng: Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hoá là đưa văn hoá thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, bảo đảm mỗi nhà máy, công trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, phường, ấp, hợp tác xã đều có đời sống văn hoá.(1)

    Nhằm cụ thể hoá chủ trương này Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nay là (Chính phủ) đã ra quyết định số 159/HĐBT ngày 19 tháng 12 năm 1983 nêu rõ: Từ nay đến 1985 phải đảm bảo cho phần lớn đơn vị cơ sở đều có hoạt động văn hoá, nhân dân lao động đựợc đọc báo, nghe đài, xem phim, xem nghệ thuật. Đặc biệt chú ý các vùng cao và biên giới. Theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, cần củng cố và xây dựng các cơ sở văn hoá ở cấp tỉnh và huyện: Nhà văn hoá, thư viện, rạp chiếu bóng, bảo tàng, triển lãm….ở phường, xã hay cụm kinh tế-kỹ thuật, từng bước xây dựng cơ sở văn hoá tuỳ theo thực tế cơ sở.

    Như vậy, vấn đề xây dựng ĐSVH ở cơ sở đã đựợc chuẩn bị rất đầy đủ cả về tư tưởng chỉ đạo, nội dung công tác, mục tiêu, đối tượng thực hiện rất cụ thể. Toàn ngành văn hoá đã có cả một chương trình, kế hoạch hoạt động chi tiết, tổ chức thi đua thực hiện rất mạnh mẽ, sâu rộng trong cả nước.

    1. Khái quát về xây dựng đời sống  văn hóa ở cơ sở

    1.1. Khái niệm về xây dựng ĐSVH ở cơ sở

    a. Xây dựng ĐSVH ở cơ sở

    Là xây dựng và phát triển toàn diện đời sống của con người, của cộng đồng cả về vật chất, về tinh thần và tạo điều kiện cho mọi người dân được tham gia hưởng thụ và sáng tạo văn hoá ngày càng tốt hơn. Đời sống muốn nói tới là toàn bộ những hoạt động trong một lĩnh vực nào đó, những điều kiện sinh hoạt lối sống chung của một tập thể, một xã hội của con người.

       Đời sống văn hoá bao hàm toàn bộ cách thức, hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển cho bản thân và cho xã hội trong điều kiện kinh tế-xã hội nhất định. Đời sống văn hoá chính là đời sống của con người, nó được biểu hiện ra muôn hình, muôn vẻ trong lao động, trong ứng xử, giao tiếp, trong việc tạo dựng môi trường văn hoá xã hội lành mạnh, trong cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân, trong cách sống của một cộng đồng xã hội.

    Do đó, xây dựng ĐSVH ở cơ sở là tổng hợp những hoạt động của người dân, nhiều cơ quan ban ngành, trước hết là của cơ quan, lực lượng làm công tác văn hoá nhằm tuyên truyền, giáo dục, quảng bá văn hoá, tổ chức các hoạt động văn hoá thiết thực, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu giao lưu, hưởng thụ, sáng tạo văn hoá tinh thần của nhân dân góp phần xây dựng nếp sống, môi trường văn hoá lành mạnh, tiến bộ trên từng cộng đồng dân cư.

    Do thực trạng và điều kiện khách quan ở cơ sở hiện nay rất khác nhau, sự chênh lệch về ĐSVH giữa cư dân thành thị với nông thôn, giữa các vùng nông thôn với nhau, giữa các dân tộc với nhau và giữa từng nhóm người khác nhau là điều không thể đơn giản, không phải một sớm, một chiều.

    Sự chênh lệch về mức độ hưởng thụ văn hoá này không đồng nhất với sự khác nhau trong văn hoá là cái góp phần tạo nên bản sắc văn hoá, đa dạng văn hoá. Bản sắc văn hoá phải giữ gìn. Chênh lệch, thiếu công bằng về hưởng thụ văn hoá cần phải khắc phục. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc xây dựng ĐSVH ở cơ sở là phải từng bước nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân, thu hẹp khoảng cách chênh lệch đó cùng với mở rộng giao lưu, hội nhập văn hoá giữa các cộng đồng, vùng miền, trong nước và quốc tế.

    Đời sống văn hoá ở ngay trong cuộc sống hàng ngày, trong mỗi con người, mỗi gia đình và cộng đồng nhất định. Nói cách khác đời sống văn hoá biểu hiện trong hoàn cảnh môi trường cụ thể và phụ thuộc vào từng cơ sở cụ thể. Xem xét đời sống văn hoá của một dân tộc, một quốc gia là vấn đề khó khăn, phức tạp. Cho nên chỉ có thể xem xét đời sống văn hoá của các đơn vị nhỏ để từ đó tổng hợp, so sánh hoặc suy ra đời sống văn hoá của một đơn vị lớn, cộng đồng lớn hơn. Ngược lại để xây dựng đời sống văn hoá của một cộng đồng dân tộc hoặc quốc gia cũng chỉ có thể đi từ các đơn vị, tổ chức nhỏ cơ bản nhất.

    b. “Xây dựng

    “, theo kinh điển là làm nên công trình theo kế hoạch nhất định. Xây dựng ĐSVH ở cơ sở là nhằm xây dựng cơ sở phát triển bền vững, có đời sống vật chất đầy đủ, đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú.

    Thông thường hiểu “xây dựng” là làm nên cái từ không đến có, làm ra cái mới tiến bộ và có ích lợi cho sự phát triển. Có khi xây dựng là tiến hành đồng thời với việc phá bỏ đi cái cũ, cái lỗi thời để hình thành nên cái mới tốt đẹp và hoàn chỉnh hơn. Như việc xây nhà phải làm nền, làm móng, chọn hướng…. Xây dựng ĐSVH ở cơ sở là tiến hành củng cố và phát huy những thành tựu văn hoá hiện có, nâng cao những giá trị tốt đẹp của tổ tiên truyền lại, từ đó tiếp tục xây dựng đời sống văn hoá tiến bộ, văn minh theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa.

    Xây dựng ĐSVH cũng có nghĩa đồng thời phải chống lại những mặt trái của văn hoá, được gọi là “phản văn hoá”. Đó là những sản phẩm văn hoá có nội dung độc hại như hủ tục, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, tập quán lạc hậu, thói hư tật xấu trong ứng xử hàng ngày. Do đó, cần sự chủ động đấu tranh với mọi biểu hiện tiêu cực, thụ động trong tư tưởng văn hoá. Có như thế mới xây dựng ĐSVH ở cơ sở thắng lợi. Kinh nghiệm là phải vừa “chống” vừa “xây”, lấy “xây” để chống, nhưng “xây” là chính.

    Xây dựng ĐSVH ở cơ sở có nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Nghĩa rộng của nó là toàn bộ cuộc sống kinh tế-xã hội trên một quê hương bản, làng, xóm, ấp, khu phố. Đó là sự ổn định và đảm bảo phát triển dân sinh, dân trí và dân chủ mà văn hoá thực hiện vai trò vừa là nền tảng vừa là mục tiêu và động lực của sự phát triển đó. Đây là việc nhìn nhận, đánh giá toàn bộ đời sống của một cơ sở theo chuẩn mực các giá trị văn hoá: Nghĩa hẹp của Xây dựng ĐSVH ở cơ sở là những tổ chức, hoạt động về văn hoá, thông tin…nhằm thoả mãn nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hoá thường xuyên của quần chúng, góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bẳn sắc dân tộc. Đây là những nội dung công việc gắn với chức năng, nhiệm vụ công tác văn hoá- thông tin mà ngành văn hoá-thông tin quản lý, chỉ đạo hướng dẫn thực hiện.

    Xây dựng ĐSVH ở cơ sở có hai chiều tác động là từ trên xuống và tại cơ sở tự chăm lo giải quyết là tự vận động. Nhà nước thông qua các chính sách và cơ quan văn hoá nhà nước phải tăng cường đưa về cho cơ sở, đưa đến tận người dân những giá trị tinh thần, những sản phẩm văn hoá cần thiết, mà ở cơ sở người dân phải được hưởng hoặc bản thân họ không thể làm ra được, đồng thời nhân dân từng địa phương, cơ sở phải tiếp nhận các giá trị và sản phẩm văn hoá như những món ăn tinh thần thiết yếu nhất. Mặt khác, cơ sở cũng phải cùng nhau gìn giữ, bảo vệ các giá trị truyền thống tốt đẹp bên cạnh việc sáng tạo, phát huy nội lực làm nên bộ mặt văn hoá mới, vun đắp nên nếp sống văn hoá lành mạnh ở từng vùng, từng khu dân cư, khu tập thể, đơn vị công tác, nơi lao động và sinh sống.

    Xây dựng ĐSVH ở cơ sở là vấn đề khó khăn, phức tạp có nội dung phong phú có ý nghĩa trước mắt và lâu dài phải tiến hành thường xuyên, liên tục, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và xã hội, cả hệ thống chính trị phải chăm lo, trong đó vai trò tham mưu, trách nhiệm chuyên môn của ngành văn hoá-thông tin rất nặng nề.

    c. Quan niệm về cơ sở

    Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 2006) cho rằng: cơ sở là cái làm nên nền tảng, trong quan hệ với những cái xây dựng trên đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát triển

    Theo(Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 2006) cho rằng: cơ sở là cái làm nên nền tảng, trong quan hệ với những cái xây dựng trên đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát triển 1

    Khái niệm “cơ sở” ở đây được hiểu là một tổ chức, một địa điểm cụ thể gắn với đơn vị hành chính cơ bản hoặc một đơn vị, cơ quan cụ thể của một tổ chức nhất định.

    Do đó, cơ sở hành chính hoặc mang tính hành chính và đơn vị cơ sở trong trường hợp này thể hiện ra 4 loại như sau:

    – Các đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.

    – Các cơ quan, tổ chức hành chính sự nghiệp.

    – Các đơn vị, tổ chức sản xuất, kinh doanh.

    – Các đơn vị lực lượng vũ trang, công an.

    Như vậy, xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính nhà nước cấp thấp nhất và là đơn vị cơ bản nhất để ở đó tiến hành triển khai tổ chức xây dựng ĐSVH ở nước ta. Song, trong thực tế việc xây dựng ĐSVH ở cơ sở nếu chỉ dừng lại ở xã, phường, thị trấn thì chưa đủ, và không thể thành công nếu không triển khai việc xây dựng ĐSVH ở các đơn vị bên dưới của các cơ sở xã, phường. Đó là những thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, plây, phum, sóc…(đối với xã) phố hay tổ dân phố (đối với phường, thị trấn). Đây là đặc thù có tính lịch sử của Việt Nam và cũng là nét đặc trưng văn hoá Việt Nam.

    Khái niệm “văn hoá làng” cũng từ đây mà ra, từ trong xây dựng ĐSVH ở cơ sở mà đi đến có làng văn hoá rồi phát triển trở thành có danh hiệu “Làng Văn hoá” như hiện nay. Những khái niệm xây dựng ĐSVH ở cấp xã và trên địa bàn cấp xã cũng nảy sinh rồi tiến tới có xã văn hoá. Từ “Văn hoá gia đình”, “Tộc ước” (quy ước của dòng

    họ) đến “Gia đình văn hoá”, từ Hương ước đến Quy ước văn hoá tiếp tục ra đời và phát triển.

    Chúng ta thường phân ra có văn hoá bác học và văn hoá dân gian. Cơ sở thường là nơi sản sinh ra các sản phẩm văn hoá dân gian, lưu giữ các giá trị truyền thống. Có thể nói đó là những bảo tàng sinh động, bảo vệ hiệu quả và truyền thụ sâu sắc các giá trị văn hoá dân tộc tốt nhất từ đời này sang đời khác, từ thế kỷ này sang thế kỷ khác.

    Các đơn vị hành chính sự nghiệp (như cơ quan nhà nước, đoàn thể,  bệnh viện, trường học…), đơn vị sản xuất-kinh doanh (công ty, xí nghiệp, khu công nghiệp…), đơn vị lực lượng vũ trang (các đơn vị công an, bộ đội, đồn biên phòng…) là những đơn vị cơ sở theo các tiêu chí riêng, có các điều kiện cho phép là những cơ sở có đủ điều kiện để tổ chức việc xây dựng ĐSVH theo quy định, có thể phối hợp và rất cần phối hợp với xã, phường, thị trấn theo chỉ đạo chung.

    Hiện nay, cần phân biệt việc xây dựng ĐSVH ở cơ sở do Bộ Văn hoá-Thông tin (trước đây) phát động và chủ trì với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở khu dân cư” do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam điều hành từ năm 1995 đến nay và phong trào vẫn theo hướng dẫn của UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Sự thống nhất của Ban chỉ đạo Trung ương phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, cuộc vận động này sẽ sang trang mới theo Chỉ thị số 1869 CT-TTg ngày 10/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Các khu dân cư ở đây nằm dưới cơ sở, chịu sự quản lý của cấp uỷ Đảng, chính quyền cấp cơ sở sẽ tập trung đầu mối, đỡ chồng chéo rối bận cho cơ sở hơn.

    1.2. Vài nét cơ bản về quá trình xây dựng ĐSVH ở cơ sở

    Đến nay vấn đề xây dựng ĐSVH ở cơ sở đã trở nên rất quen thuộc đối với người dân ở mọi miền đất nước. Đó cũng là mối quan tâm thường trực của những người làm

    công tác văn hoá nói chung, cán bộ văn hoá các địa phương, đặc biệt là ở các xã, phường.

    Từ khi thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Bộ Văn hoá-Thông tin khi đó đã chủ trương phát động trong cả nước phong trào xây dựng ĐSVH ở cơ sở (1981-1985), có những nội dung, chỉ tiêu rõ ràng với 6 mặt công tác chuyên ngành theo chức năng, nhiệm vụ của Bộ được xác định là: Thông tin cổ động, văn nghệ quần chúng, đọc sách báo và thư viện, nếp sống văn hoá, giáo dục truyền thống, hoạt động nhà văn hoá-câu lạc bộ.

    Quan niệm về xây dựng ĐSVH ở cơ sở lúc đó cũng xác định phải chú trọng cả 3 lĩnh vực là xây dựng và phát triển phong trào, tổ chức bộ máy ở cơ sở và xây dựng thiết chế văn hoá. Càng về sau khi cơ chế quản lý theo lối hành chính, bao cấp cũ dần bị phá vỡ, từ thực tiễn nảy sinh vấn đề tự chủ về kinh tế, đặc biệt là ở nông thôn, vấn đề xây dựng ĐSVH ở cơ sở cũng như hoạt động văn hoá nói chung cần phải thực hiện theo hướng xã hội hoá mà ban đầu ở nhiều địa phương, cơ sở đã thực hiện với cách gọi là “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.

    Có thể nói từ khi có phong trào xây dựng ĐSVH ở cơ sở hệ thống thiết chế văn hoá-thông tin ở cơ sở từng bước được phát triển, hoàn thiện mà trước đó ở mỗi địa phương chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Theo thống kê của Bộ Văn hoá-Thông tin đến năm 1999 (năm cuối của Thế kỷ 20) đã có 833 thiết chế văn hoá- thông tin cơ sở, trong đó có 76 Trung tâm Văn hoá-Thông tin (Nhà văn hoá thể thao) cấp quận, huyện, 597 đơn vị thông tin lưu động các cấp và 19.535 đội văn nghệ quần chúng các loại. Nhờ có các cơ sở vật chất, và phương tiện chuyên dùng được tạo dựng trong thời gian đó đã góp phần quyết định tới việc nâng cao đời sống văn hoá cho nhân dân ở khắp mọi miền Tổ quốc.

    Các hoạt động bề nổi như Liên hoan thông tin lưu động, Hội diễn văn nghệ quần chúng, Lễ hội hoặc tổ chức các hoạt động văn hoá-nghệ thuật ở địa phương hay vùng miền… nở rộ, ngày càng sâu đậm bản sắc dân tộc với những khai thác, sáng tạo đáp ứng nhu cầu giao lưu, hội nhập của thời kỳ đổi mới của đất nước và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa.       

    Công tác xây dựng ĐSVH ở cơ sở đến nay đã trải qua gần 30 năm (tính từ năm 1981), đã đi qua hai thế kỷ, từ những thập niên cuối của thế kỷ 20 đến thập niên đầu của thế kỷ này. Đó là một hành trình phấn đấu bền bỉ, liên tục với bao thăng trầm, biến đổi, với những phấn khởi, tự hào…cùng những ưu điểm và nhược điểm tồn tại khó tránh khỏi như các hoạt động khác. Một trong những cái được nhất, đáng kể nhất, cũng là tâm điểm nhất của những người làm công tác văn hoá cơ sở là xây dựng Làng văn hoá. Phong trào này thực sự phát triển từ cơ sở mà lên, đi từ không đến có bởi lúc đầu là tự phát, làm “chui” ở một số địa phương, chủ yếu là ở một số tỉnh khu vực đồng bằng Bắc Bộ như Nam Định, Hà Tây, Hà Bắc, Thanh Hoá…

    2

    . Nội dung cơ bản về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

    2.1. Xây dựng thiết chế văn hoá-thông tin ở cơ sở

    Thời đại nào, chế độ nào cũng cần đến những thiết chế văn hoá-thông tin để chuyển tải văn hoá chính thống của Nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân, đồng thời tổ chức hoạt động văn hoá phù hợp với yêu cầu tư tưởng, chuẩn mực đạo đức, lối sống, nếp sống của chế độ, thời đại đó.

    Như vậy, trong thực tiễn có nhiều thiết chế tín ngưỡng tôn giáo như nhà chùa, nhà thờ, đình, đền, miếu, phủ, am, cốc… Nhà rông, nhà dài, nhà gươl là thiết chế văn hoá của nhiều dân tộc ở Tây Nguyên. Các rạp chiếu phim, nhà văn hoá, phòng Karaoke, điểm internet, sàn nhảy, nhà giáo dục cộng đồng, điểm bưu điện văn hoá xã… là thiết chế văn hoá mới. Còn có cả các cơ sở vui chơi giải trí, công viên nghỉ dưỡng, du lịch, trực tiếp hay gián tiếp cũng góp phần nâng cao đời sống văn hoá cho người dân hiện nay. Cả nước có gần 5 vạn di tích lịch sử văn hoá, trong đó phần lớn là các thiết chế văn hoá truyền thống và tín ngưỡng.

    Trong Đại từ điển Tiếng Việt quan niệm thiết chế như “thể chế”, là “lập nên” hay “tạo dựng nên”. Thiết chế văn hoá có cả phần hữu hình và vô hình, có phần cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên dùng và cả phần về tổ chức bộ máy vận hành, tổ chức hoạt động, cơ chế, chính sách. Trong trường hợp này thiết chế còn được hiểu như thể chế thông qua vai trò điều hành nhịp nhàng cả 3 khâu Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và vai trò làm chủ của nhân dân, nhất là trong sáng tạo và tổ chức các hoạt động văn hoá.

    Thiết chế văn hoá-thông tin cơ sở được tạo dựng nên để phục vụ cho nhu cầu văn hoá tinh thần của người dân ở cơ sở. Cần phân biệt thiết chế văn hoá-thông tin cơ sở là những thiết chế do ngành Văn hoá-Thông tin cơ sở quản lý như: Nhà Văn hoá, Nhà thông tin-Triển lãm…. cụm pa-nô, cụm cổ động, đội văn nghệ quần chúng, không những chỉ có ở cơ sở mà còn ở các cấp trên của cơ sở như huyện, tỉnh….với những thiết chế văn hoá-thông tin ở cơ sở là những thiết chế văn hoá do cơ sở tạo ra và cơ sở trực tiếp quản lý. Sự phân biệt này chỉ tương đối. Cho nên khi nói đến các thiết chế văn hoá-thông tin cơ sở là nhắc tới đài, trạm phát thanh-truyền thanh, phòng truyền thống, thư viện, phòng đọc sách báo, trạm bảng tin. Còn có thiết chế văn hoá cơ sở lại do các ngành, bộ khác quản lý như hệ thống các nhà văn hoá của công đoàn, của quân đội, công an, đoàn thanh niên, thiếu nhi, nhà giáo dục cộng đồng…

    Trong việc xã hội hoá các hoạt động văn hoá, đặc biệt là quá trình xây dựng ĐSVH ở cơ sở đã có nhiều công trình văn hoá mới ra đời đáp ứng nhu cầu văn hoá-thông tin của nhân dân. Bên cạnh việc khôi phục, tôn tạo, khai thác sử dụng các thiết chế cũ, hoặc có từ trước, các thiết chế văn hoá-thông tin mới cơ bản đã phát huy hiệu quả và tác dụng. Tuy nhiên, vẫn còn có một số cơ sở, một số nơi việc khai thác và sử dụng các thiết chế này còn hạn chế. Không hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, còn lãng phí và bị thương mại hoá.

    Như vậy, thiết chế văn hoá-thông tin cơ sở là những cơ quan văn hoá-thông tin do ngành văn hoá-thông tin cơ sở quản lý, có chức năng thông tin và giáo dục văn hoá, có khi kiêm cả thể thao, vui chơi giải trí…. đáp ứng nhu cầu của mọi người về hưởng thụ, sáng tạo và bảo lưu những giá trị văn hoá. Nói cách khác, các thiết chế văn hoá-thông tin cơ sở có chức năng giáo dục văn hoá ngoài nhà trường, nâng cao dân trí, góp phần phát triển dân sinh, dân chủ ở cơ sở. Cùng với các hoạt động đa dạng, đa năng, phong phú thiết chế đó còn là nơi hội tụ, gắn kết cộng đồng, góp phần điều chỉnh hài hoà các mối quan hệ ở địa bàn dân cư. Đó còn là niềm tự hào của cộng đồng.

    Bên cạnh các cơ sở vật chất, thiết chế văn hoá còn bao hàm việc định biên, định xuất cho người làm công tác văn hoá-thông tin cùng với các chính sách, chế độ đảm bảo cho hoạt động chuyên môn ở cơ sở.

    Từ thực tiễn hoạt động văn hóa-thông tin cấp xã, phường ở các vùng miền trong cả nước, có thể nhận thức về thiết chế văn hoá-thông tin cơ sở như sau:

    Thiết chế văn hoá-thông tin cơ sở là những tổ chức và hoạt động thuộc lĩnh vực Văn hóa-Thông tin do chính quyền và nhân dân cơ sở tạo nên, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng nhằm xây dựng nền tảng chính trị, tư tưởng để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường sự đoàn kết giữa Đảng, chính quyền, các đoàn thể và quần chúng, bảo đảm thực hiện quy chế dân chủ để cùng xây dựng và tổ chức thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội, làm cho đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

    Thiết chế văn hoá-thông tin cơ sở là công cụ trực tiếp của cấp uỷ, chính quyền trong lãnh đạo quần chúng, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Thiết chế này cung cấp những thông tin chính thống, tổ chức những hoạt động văn hoá lành mạnh mà cấp uỷ, chính quyền định hướng, khuyến khích phát triển. Đây là kênh thông tin tuyên truyền sinh động bằng nhiều cách thức: Thông tin trực tiếp tình hình nhân dân ở cơ sở đang thực hiện các nhiệm vụ cụ thể; tổ chức các hình thức tập họp quần chúng để truyền đạt sự chỉ đạo của Đảng, chính quyền nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội; giới thiệu các mô hình sản xuất hiệu quả, các kiến thức khoa học kỹ thuật, cách tổ chức đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá văn nghệ… thông qua các hình thức sinh hoạt cộng đồng tự nguyện của nhân dân.

    Thiết chế văn hoá-thông tin cơ sở (VHTTCS) là nơi thực hiện phúc lợi xã hội của nhân dân cơ sở trong hưởng thụ văn hoá qua các hội thi, liên hoan, tập luyện, giao lưu, truyền bá các giá trị văn hoá truyền thống… Đây cũng là nơi họp Chi bộ, Đoàn thể, Hội Người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên; là nơi tổ chức các hoạt động khuyến học, tương thân tương ái; là nơi tụ hội vui chơi thể thao, dưỡng sinh, là nơi cất giữ các trang thiết bị, công cụ phục vụ hội họp, sinh hoạt văn hoá văn nghệ quần chúng… Đồ ng thời thiết chế VHTTCS cũng bắt nguồn từ nhu cầu gắn kết tình đồng chí, nghĩa đồng bào thể hiện trách nhiệm với cộng đồng trong ngôi nhà chung. Cũng do điều kiện kinh tế, nhiều nơi đã tập trung các thiết chế VHTTCS tại một địa chỉ được gọi chung là: Nhà văn hoá hoặc Nhà Thông tin….

    Đặc biệt, trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay, nhất là ở cơ sở trong khi các thiết chế cũ vẫn tồn tại song song thì thiết chế VHTTCS cần phải trở thành một hệ thống cơ sở vật chất đồng bộ và hoàn chỉnh để là nơi cho hệ thống chính trị cơ sở hoạt động, tích cực góp phần cho thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam với những hình thức hoạt động sinh động, gần gũi, thiết thực với nhân dân ở cơ sở.

    Việc xây dựng thiết chế VHTTCS (xã, phường, thị trấn) cần đảm bảo hội tụ các yếu tố sau:

    – Có tổ chức bộ máy, cán bộ nghiệp vụ có phương pháp hoạt động.

    – Có địa điểm, cơ sở vật chất, phương tiện trang thiết bị.

    – Có thể chế, luật lệ (quy chế, kinh phí hoạt động, chế độ chính sách).

    – Có đối tượng, nội dung, chương trình thường xuyên.

    2

    .2. Những hoạt động văn hoá-thông tin cơ sở

    Nhu cầu về văn hóa-thông tin của nhân dân rất phong phú, đa dạng. Vì vậy, các hoạt động văn hóa-thông tin cơ sở cũng rất phong phú, đa dạng. Có thể quy tụ hoạt động này thành một số loại hình cơ bản sau:

    2.2.1. Hoạt động thông tin-tuyên truyền, cổ động

    Nhiệm vụ chủ yếu của công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động là phổ biến rộng rãi trong công chúng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, động viên nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương, nêu gương người tốt, việc tốt, phê phán thói hư, tật xấu góp phần tạo dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh ở cơ sở.

    Trong công tác thông tin, tuyên truyền, cổ  động có nhiều biện pháp, hình thức. Triển lãm là hình thức giáo dục trực quan sinh động mà sâu sắc thu hút đông đảo quần chúng. Các tổ, đội thông tin lưu động là lực lượng xung kích, luôn đem tiếng nói của Đảng, Nhà nước đến tận những bản, làng xa xôi, hẻo lánh, dùng hình thức văn nghệ nhỏ, nhẹ để chuyển tải thông tin, kết hợp cổ động trực quan với tuyên truyền miệng. Hoạt động thông tin cổ động đòi hỏi rất nhanh nhạy, kịp thời, tác động trực tiếp tới đối tượng nên có hiệu quả cao.

    Ngày nay, nhờ ảnh hưởng của cách mạng khoa học và công nghệ đã xuất hiện các phương tiện truyền thông đại chúng được hiện đại hóa và thông tin mạng rộng khắp nên công tác thông tin cũng phát triển mạnh. Con người vì thế càng được tiếp cận và chịu tác động của cả thế giới năng động. Do đó, con người cũng dễ lúng túng trước sự bùng nổ thông tin. Như vậy, công tác thông tin cổ động được tiếp thêm khả năng mới, vì thế cũng cần định hướng đúng để giúp cho con người lựa chọn và tiếp nhận thông tin thuận lợi, để có nhận thức và hành động đúng, thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân tốt.

    2.2.2. Hoạt động câu lạc bộ, nhà văn hóa

    Câu lạc bộ là một tổ chức xã hội tập hợp theo nguyên tắc tự nguyện của những người cùng sở thích hoặc cùng giới thuộc các lĩnh vực chính trị-xã hội-kinh tế, khoa học-kỹ thuật, văn học-nghệ thuật và các hoạt động vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi, thể dục thể thao khác. Loại câu lạc bộ này cũng thường được tổ chức tại các cơ quan văn hóa-giáo dục như: Nhà Văn hóa (Cung), Trung tâm Văn hóa-Thông tin thuộc hệ thống Nhà nước (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) hoặc thuộc các ngành, giới như Quân đội, Công an, Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ, Mặt trận…

    Các Câu lạc bộ tổ chức các lớp học tập để nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, khuyến học, khuyến tài, sinh hoạt chuyên đề, bổ sung kiến thức cho mọi đối tượng, kích thích mọi người tham gia các quá trình sáng

    tạo trong hoạt động văn hóa, văn nghệ hoặc ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào đời sống.

    Tổ chức Câu lạc bộ để thu hút đông đảo quần chúng tham gia vào hoạt động văn hóa tại các cơ sở văn hóa một cách tích cực theo nguyên lý học mà chơi, chơi mà học, góp phần tự hoàn thiện mình. Nó còn hướng dẫn để công chúng tự đáp ứng các nhu cầu văn hóa của họ theo hướng lành mạnh và tiến bộ.

    Câu lạc bộ hoạt động theo tinh thần tự nguyện, tự quản. Tự quản về tổ chức, tự quản về nội dung, tự quản về tài chính theo đúng luật pháp của Nhà nước hiện hành.

    2.2.3. Hoạt động thư viện, đọc sách báo

    Sách báo là nguồn tri thức, là bạn tốt của mỗi người, góp phần trực tiếp vào việc nâng cao hiểu biết cho mọi đối tượng. Vì vậy, thư viện, phòng đọc thường xuyên chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động khai trí của các cơ quan văn hóa.

    Muốn cho việc đọc sách báo được phổ biến rộng rãi trong công chúng thì người hướng dẫn phải biết lựa chọn, giới thiệu các loại sách, báo có tác dụng thiết thực đến đời sống. Phải chú ý tới nhu cầu về sách, báo của bạn đọc, nhất là của thanh niên, thiếu nhi, của người cao tuổi, người khuyết tật….Hướng dẫn và thu hút lớp trẻ đọc sách, báo lành mạnh để nâng cao nhận thức, để tự hoàn thiện về nhân cách là nhiệm vụ quan trọng của công tác thư viện, tủ sách…thực hiện tốt chủ trương phát triển văn hóa đọc và tổ chức tốt ngày Hội đọc sách và Bản quyền thế giới 2/4 hàng năm. Có rất nhiều cách đưa sách hay, sách tốt đến quần chúng theo tinh thần “sách đi tìm người”, “túi sách trên lưng”. Hoạt động luân chuyển sách của thư viện vừa làm cho bạn đọc được tiếp cận nhiều với sách và vốn sách cũng như được tăng lên.

    2.2.4. Hoạt động giáo dục truyền thống

    Để tiến hành công tác giáo dục truyền thống văn hóa-lịch sử và cách mạng, ngành văn hóa chủ trương xây dựng các nhà bảo tàng, phòng truyền thống, các địa chỉ đỏ ở những nơi cần thiết để góp phần giáo dục truyền thống. Ở các đơn vị cơ sở có thể xây dựng Phòng truyền thống hoặc Góc truyền thống, Nhà lưu niệm…

    Các hoạt động có tính phong trào như: “uống nước nhớ nguồn”, “đi tìm địa chỉ đỏ”, “đền ơn đáp nghĩa”, tổ chức các ngày hội truyền thống cũng có ý nghĩa giáo dục tốt.

    Việc công nhận và xây dựng các di tích lịch sử-văn hóa cũng nhằm để giáo dục văn hóa hiệu quả. Cả nước hiện có trên 3000 di tích lịch sử-văn hóa đã được xếp hạng, trong đó có nhiều di sản văn hóa và di sản thiên nhiên văn hóa đã được thế giới công nhận là: Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố cổ Hội An, Quần thể Di tích Mỹ Sơn, Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Lễ hội Gióng… là niềm tự hào của đất nước, của các địa phương, cơ sở.

    2.2.5. Hoạt động văn nghệ quần chúng

    Hoạt động văn nghệ quần chúng là dạng hoạt động rất hấp dẫn, phong phú, đa dạng, không thể thiếu ở cơ sở, thu hút đông đảo quần chúng ở mọi lứa tuổi tham gia. Có thể nói hoạt động văn nghệ quần chúng là nhân tố quan trọng làm nên sức sống của một đơn vị văn hóa ở cơ sở. Hoạt động văn nghệ quần chúng bao gồm cả việc sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa-nghệ thuật, biểu diễn, lưu giữ và truyền bá những giá trị đó kể cả văn hóa-văn nghệ dân gian truyền thống.

    Có rất nhiều thể loại văn nghệ quần chúng như ca, kịch, múa, thơ,nhạc, họa, múa rối, xiếc… và biểu diễn trên sân khấu hoặc ngoài trời để tự biểu hiện tài năng nghệ thuật của họ.

    – Phản ánh kịp thời và sinh động cuộc sống đa dạng của nhân dân địa phương với các loại hình văn nghệ xúc tích, sâu sắc.

    – Đáp ứng những đòi hỏi về thưởng thức nghệ thuật của quần chúng, qua đó phát hiện và bồi dưỡng các tài năng trẻ. Có thể xem văn nghệ quần chúng là một vườn ươm nghệ thuật. Nhiều nghệ sỹ có tên tuổi trưởng thành từ phong trào văn nghệ quần chúng ở cơ sở.

    – Để phát triển văn nghệ quần chúng, các thiết chế văn hóa một mặt có nhiệm vụ nâng cao chất lượng cho phong trào văn nghệ ở cơ sở, một mặt đưa các giá trị văn hóa nói chung và giá trị nghệ thuật cao đến với quần chúng.

    2.2.6. Hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa, môi trường văn hóa

    Nếp sống là toàn bộ những ứng xử của con người, biểu hiện trong mối quan hệ đối với thiên nhiên, với xã hội và bản thân được lặp đi lặp lại nhiều lần trong cuộc sống, trở thành thói quen, thành phong tục. Đó cũng là một hệ thống chuẩn mực xã hội được cộng đồng chấp nhận và tự nguyện thực hiện. Phong tục, tập quán có những giá trị tốt đẹp cần bảo lưu và phát triển, có những hạn chế, lạc hậu cần khắc phục.

    Xây dựng nếp sống là xây dựng nếp sống cá nhân, nếp sống gia đình và nếp sống xã hội. Vì vậy, các thiết chế văn hóa-thông tin cơ sở và hoạt động của nó có tác dụng hình thành nếp sống văn hóa mới, khắc phục những tiêu cực, hạn chế của nếp sống cũ.

    Hiện nay, gia đình cũng được coi là một dạng cơ sở đặc biệt để xây dựng nếp sống văn hóa. Từ lâu Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng vấn đề xây dựng nếp sống văn hóa. Bộ Chính trị Đảng ta đã có chỉ thị 27/CT-TW về xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội cũng là để xây dựng nếp sống văn hóa mới, xây dựng con người mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đấu tranh bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan.

    2.2.7. Hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi giải trí

    Hoạt động thể dục, thể thao không chỉ nhằm mục đích tăng cường thể chất, mà còn rèn luyện nên những phẩm chất tinh thần như: ý chí bền bỉ, lòng dũng cảm, hoạt bát, thông minh và tinh thần tập thể, đồng đội, cũng như các hoạt động vui chơi khác, hoạt động thể dục, thể thao có tác dụng giải trí lớn.

    Ở những nơi có điều kiện như có Nhà văn hóa-thông tin, sân bãi… thì có thể kết hợp tổ chức thành các điểm vui chơi giải trí thường xuyên. Nơi chưa có điều kiện thì nên tổ chức hoạt động thể thao, thể dục, vui chơi, giải trí theo định kỳ thì nên tại đơn vị cơ sở, hoặc ở các gia đình có điều kiện.

    Thể dục, thể thao là một dạng hoạt động văn hóa thể chất rất cần ở cơ sở, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của mọi lứa tuổi.

    2.2.8. Xây dựng gia đình văn hóa

    Gia đình là môi trường hình thành nhân cách con người. Môi trường văn hóa trong gia đình là yếu tố quan trọng cho việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống của mọi thành viên. Phong trào xây dựng gia đình văn hóa ra đời từ năm 1961 ở miền Bắc đang xây dựng Xã hội Chủ nghĩa, qua bao thời kỳ bổ sung, hoàn thiện nội dung đến nay áp dụng cho toàn quốc, theo 4 tiêu chuẩn sau:

    – Gia đình ấm no, hòa thuận, tiến bộ, khỏe mạnh và hạnh phúc.

    – Thực hiện nghĩa vụ công dân.

    – Thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

    – Đoàn kết tương trợ trong cộng đồng dân cư.

    Xây dựng gia đình văn hoá có tác động trực tiếp đến xây dựng con người, đ&#