Đại Hội Hiệp Hội Văn Hóa

--- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tục Tự Làm Hồ Sơ Đi Du Học Hàn Quốc Thế Nào ? Korea.net.vn
  • Hướng Dẫn Làm Hồ Sơ Đi Du Học Hàn Quốc
  • Hồ Sơ Xin Visa Du Lịch Nhật Bản
  • Trọn Bộ Kinh Nghiệm Xin Visa Nhật Bản Tự Túc Năm 2022
  • Xin Visa Đi Du Lịch Pháp Có Khó Không? Cách Chuẩn Bị Hồ Sơ Và Phỏng Vấn
  • Đại hội Hiệp hội Văn hóa – Du lịch Công đoàn Việt Nam lần thứ nhất

    Hiệp hội Văn hóa – Du lịch Công đoàn Việt Nam (VUCTA) đã được thành lập theo Quyết định số 161/QĐ-BNV ngày 26/2/2007 của Bộ Nội vụ. VUCTA là một tổ chức tự nguyện phi chính phủ của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, văn hóa thuộc Liên đoàn Lao động Việt hoạt động trên lĩnh vực du lịch văn hóa ở Trung ương và các địa phương.

    BCH Hiệp hội Văn hóa Du lịch Công đoàn Việt Nam lần thứ nhất ra mắt

    Đến dự và phát biểu tại Đại hội, Ủy viên TW Đảng, Chủ tịch Liên đoàn Lao động Việt Nam Đặng Ngọc Tùng nêu rõ: mục đích của VUCTA là liên kết hợp tác, phối hợp hỗ trợ nhau trong hoạt động kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực, tuyên truyền quảng bá văn hóa – du lịch, nâng cao chất lượng phục vụ thu hút khách góp phần thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên. Hy vọng, VUCTA sẽ liên kết được các đơn vị trong hệ thống Công đoàn cả nước cùng hợp tác, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để đạt được kết quả kinh doanh đem lại nguồn thu và lợi nhuận cho đơn vị và có nguồn kinh phí góp phần phát triển các tổ chức Công đoàn.

    Đại hội đã nhất trí bầu 17 đồng chí đại diện cho các đơn vị trong hệ thống Công đoàn vào Ban Chấp hành VUCTA; trong đó, 01 Chủ tịch Hiệp hội (đ/c Hoàng Minh Chính – Giám đốc Công ty Du lịch Công đoàn Việt Nam) và 3 Phó Chủ tịch Hiệp hội (đ/c Nguyễn Hồng Hải – Giám đốc Công ty Khách sạn Du lịch Công đoàn Bãi Cháy – Quảng Ninh; đ/c Trần Viết Thành -Giám đốc Công ty TNHH Dịch vụ Du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu; đ/c Trịnh Phúc Tuệ – Giám đốc Cung văn hóa hữu nghị Việt Tiệp – Hải Phòng) và 01 Tổng Thư ký Hiệp hội (đ/c Nguyễn Mạnh Hiền – Giám đốc Khách sạn Công đoàn Việt Nam)… Đồng chí Nguyễn Hòa Bình – Phó Chủ tịch Thường trực Tổng liên đoàn Lao động Việt là Chủ tịch danh dự của VUCTA.

    Chủ tịch VUCTA Hoàng Minh Chính cho biết: hiện nay, VUCTA đã có trên 80 đơn vị thành viên gồm các khách sạn, nhà nghỉ, trung tâm điều hành dịch vụ du lịch, nhà văn hóa, cung văn hóa lao động… Dự kiến đến hết năm 2007, VUCTA có thể sẽ có 200 thành viên. Mục tiêu trong thời gian tới của VUCTA là tuyên truyền các đường lối, định hướng phát triển du lịch; quảng bá Hiệp hội và các thành viên; xây dựng các kiost thông tin văn hóa – du lịch tại các địa phương… và làm cầu nối liên kết giữa các đơn vị trong hệ thống Công đoàn để cùng phát triển…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Du Lịch Mới “ép” Hướng Dẫn Viên Vào Hội Với Mức Phí Quá Cao?
  • Tổ Chức Đại Hội Hiệp Hội Du Lịch Tỉnh Vĩnh Phúc Lần Thứ Iii
  • Đại Hội Hiệp Hội Du Lịch Tỉnh Sơn La Lần Thứ Ii, Nhiệm Kỳ 2022
  • Về Hiệp Hội Du Lịch Tỉnh Sơn La
  • Quảng Nam Muốn Tái Cơ Cấu Thị Trường Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Thành Ngành Công Nghiệp Văn Hóa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Hàn Quốc Phát Triển Ngành Du Lịch Công Nghiệp Ở Việt Nam
  • Ngành Công Nghiệp Casino Ở Việt Nam Còn Nhiều Thách Thức
  • Ngành Du Lịch Đã Chuẩn Bị Tốt Nhất Để Phục Vụ Nhân Dân
  • Công Bố Biểu Trưng Của Ngành Du Lịch Bến Tre
  • Khai Thác Tài Nguyên Bản Địa Làm Du Lịch
  • Du lịch văn hóa là một trong những hình thức căn bản của du lịch, là loại hình du lịch khai thác các giá trị văn hóa tạo thành sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, mang lại lợi ích kinh tế – xã hội cho quốc gia, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa Việt Nam trong thời hội nhập. Hơn thế, các giá trị của di sản văn hóa Việt Nam không chỉ tạo nên sự hấp dẫn, sự khác biệt trong sản phẩm du lịch, mà còn là nguồn lực, là sức mạnh mềm cho phát triển bền vững và quảng bá thương hiệu quốc gia. Việc phát triển du lịch văn hóa thành một ngành công nghiệp văn hóa là phù hợp với tiềm năng, thế mạnh, chiến lược và kiến tạo cho sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa khác ở nước ta hiện nay. Bài viết nhằm diễn giải và bàn luận về phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam thành ngành công nghiệp văn hóa.

    1. Du lịch văn hóa

    Du lịch văn hóa là một trong hai hình thức quan trọng nhất của ngành du lịch, đó là du lịch tự nhiên và du lịch văn hóa. Từ lâu, du lịch văn hóa đã được nhiều tác giả và tổ chức quan tâm kiến giải. Du lịch văn hóa là hình thức du lịch phát triển dựa trên các giá trị văn hóa, đó là việc khai thác các giá trị của di sản văn hóa tạo các thành sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội và góp phần bảo tồn văn hóa. Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) định nghĩa: “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”. Luật Du lịch giải thích: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh những giá trị văn hóa mới của nhân loại”. Theo Nguyễn Phạm Hùng: “Du lịch văn hóa là hoạt động đa dạng của du khách rời khỏi nơi cư trú của mình trong một không gian và thời gian nhất định, nhằm thưởng thức, trải nghiệm, khám phá những điều mới lạ và khác biệt về văn hóa. Du lịch văn hóa là toàn bộ các dịch vụ du lịch do con người tạo ra, các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên văn hóa nhằm tạo ra sản phẩm du lịch mới lạ và khác biệt phục vụ nhu cầu thưởng, trải nghiệm, khám phá của du khách trong một không gian và thời gian nhất định”. Trần Thúy Anh (chủ biên), Du lịch văn hóa những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2014, tr. 7.

    . Lê Hồng Lý (chủ biên), Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010, tr. 24.

    . Dương Văn Sáu, Văn hóa du lịch, Nxb Lao động, Hà Nội, 2022, tr. 41.

    . Đặng Hoài Thu và Phạm Bích Huyền, Các ngành công nghiệp văn hóa, Nxb Lao động, Hà Nội, 2012, tr. 9.

    . Hà Giang, Nhà hát múa rối Thăng Long, sáng tạo là mệnh lệnh sống còn, chúng tôi ngày 15/8/2020.

    . Đinh Thị Vân Chi, Nhu cầu trong của du khách trong quá trình du lịch, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004.

    . Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội, 2022.

    [14]. Phạm Hồng Thái (chủ biên), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở Nhật Bản và Hàn Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2022.

    Bài viết và hình ảnh: TS. Nguyễn Văn Bốn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Check In Là Gì? Tất Cả Những Khái Niệm Cần Biết Về Check In
  • Những Điều Thú Vị Bạn Nên Biết Khi Đi Du Lịch Singapore
  • 10+ Những Sản Phẩm Đặc Sắc Khi Đi Du Lịch Singapore Bạn Nên Mua?
  • 14 Món Quà Khi Đi Du Lịch Singapore Nên Mua
  • Chọn Mua Máy Ảnh Du Lịch Nên Chọn Mua Hãng Nào Tốt Nhất?
  • Hội Nhập Du Lịch Việt Nam Trong Cộng Đồng Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhân Lực Du Lịch Việt Nam Trước Bối Cảnh Hội Nhập Khu Vực Asean
  • Đừng Để Khách Du Lịch “Một Đi Không Trở Lại”
  • 20 Quà Lưu Niệm Nên Mua Ở Việt Nam Cho Người Nước Ngoài – Hướng Dẫn Du Lịch 2022
  • Di Sản Thế Giới Tại Việt Nam
  • Du Lịch Hà Nội Sau Một Năm Gia Nhập Wto
  • Trên đà phát trển, Cộng đồng chung ASEAN được thành lập vào ngày 31/12/2015, tạo nên một bước ngoặt lớn cho các nước ASEAN, làm sâu sắc thêm tiến trình liên kết để hiện thực hóa một Cộng đồng ASEAN vững mạnh.

    Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN là một trong ba trụ cột của Cộng đồng ASEAN, với mục tiêu góp phần xây dựng một Cộng đồng ASEAN “cam kết nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thông qua các hoạt động hợp tác hướng tới con người, xây dựng một cộng đồng ASEAN hướng vào người dân, lấy người dân làm trung tâm và có trách nhiệm xã hội nhằm đạt được tình đoàn kết và thống nhất lâu bền giữa các quốc gia và người dân ASEAN thông qua việc tạo dựng một bản sắc chung và một xã hội chia sẻ, đùm bọc, hoà thuận và rộng mở, nơi cuộc sống và phúc lợi của người dân được nâng cao”.

    Với vai trò là thành viên của ASEAN, du lịch Việt Nam đã luôn thể hiện trách nhiệm, tham gia tích cực và có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN.

    1. Trước hết Việt Nam là một điểm đến du lịch hấp dẫn trong mắt bạn bè quốc tế.

    “Việt Nam đất nước ta ơi

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    Cánh cò bay lả rập rờn

    Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều”.

    Từ lâu, 4 câu thơ trên của nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã đi vào tiềm thức mỗi người dân Việt Nam như một niềm tự hào về quê hương. Đất nước Việt Nam hình chữ S rất đẹp có cánh đồng lúa xanh mướt thẳng cánh cò bay, mở ra khung cảnh về một đất nước Việt Nam thanh bình. Rồi còn đó:

    “Bạn ơi hãy đến thăm quê hương chúng tôi

    Ngắm mặt biển xanh xa tít chân trời

    Nghe sóng vỗ dạt dào biển cả

    Vút phi lao gió thổi trên bờ

    Buồm vươn cánh vượt sóng ra ngoài khơi

    Trong nắng hồng bừng lên sáng ngời”.

                                       ( Bài hát Việt Nam quê hương tôi- Đỗ Nhuận)

    Trong con mắt bạn bè thế giới từng đặt chân đến Việt Nam dù chỉ một lần thì nơi đây thu hút họ bởi những vẻ đẹp choáng ngợp về cảnh sắc non nước và một nền văn hóa lâu đời giàu bản sắc dân tộc. Từ khắp nơi trên mảnh đất này bạn không chỉ ngắm cảnh làng quê thơ mộng, những ngọn núi kỳ vĩ mà thiên nhiên còn ban tặng cho những bờ biển và đảo tuyệt đẹp. Điểm xuyết những bờ biển dài trắng những cồn cát là  những rặng phi lao rì rào trong gió, hàng dừa xanh bên bờ đại dương tỏa bóng cho những biệt thự, khách sạn hiện đại đầy tráng lệ đem đến cho du khách nghỉ ngơi sau những giờ phút nô đùa trên sóng. Trong ánh hoàng hôn, bạn còn bắt gặp nhiều thuyền thúng, thuyền chài của ngư dân chuẩn bị ra khơi. Những bãi biển đẹp như Vũng Tàu, Mũi Né, Nha Trang…, các đảo du lịch như Đảo Lý Sơn, Đảo Phú Quốc được xem là đảo ngọc của Việt Nam. Không gì tuyệt vời hơn cảm giác được ngồi trên một con thuyền nhỏ bồng bềnh rẽ sóng trên biển Phú Quốc vào lúc bình minh. Màu trời, màu nước như quyện hòa trong ánh mặt trời rực rỡ, tạo nên một khung cảnh như mơ, như thực. Hàng phi lao rì rào trong gió, con đường quanh co ven biển, mặt nước lấp lánh ngàn triệu bọt sóng hoan ca…

    Hoặc như Chợ nổi Cái Răng ở Cần Thơ là một nét văn hóa đặc sắc ở Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng đất “Chín rồng” đâu đâu cũng chỉ thấy nước, sông ngòi chi chít, cửa sông đan xen như mạng nhện, ghe thuyền ngày đêm xuôi ngược. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt du khách là hình ảnh thuyền bè tấp nập trên sông, buôn bán nhộn nhịp thu hút chân du khách

    “Cần Thơ gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó lòng không muốn về…”

    Chợ nổi cái Răng ( Ảnh tác giả)

    Việt Nam còn là đất nước của nhiều di sản văn hóa thế giới.

    Đến Huế là chúng ta đến với mảnh đất của di sản văn hóa thế giới. Nghiêng mình bên dòng sông Hương thơ mộng, từ năm 1558 đến năm 1945, Huế từng là thủ phủ của 9 đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, là kinh đô của triều đại Tây Sơn và là kinh đô dưới 13 triều vua Nguyễn. Trải qua 4 thế kỷ, qua bao thăng trầm của lịch sử, Kinh đô Huế xưa kia nay đã trở thành di sản văn hóa, một quần thể di tích kiến trúc và thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam. Với vẻ đẹp riêng có, năm 1993, quần thể di tích cố đô Huế được Tổ chức Giáo dục – Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa thế giới.  Quần thể di tích gồm Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành. Cung điện, đền đài, lăng tẩm thực sự làm say đắm khách tham quan bởi phong cách kiến trúc và vẻ đẹp cao quý. 

    Kinh thành Huế về đêm, Nguồn: Internet

    Năm 1994 Việt Nam có thêm một kỳ quan thiên nhiên nữa được công nhận – đó là Vịnh Hạ Long ở Vịnh Bắc Bộ với cảnh quan kỳ thú gồm gần 3000 hòn đảo, đá, vách đá và hang động. Người dân địa phương thường gọi Vịnh là kỳ quan thứ 8 của thế giới, với những hòn đảo có tên gọi riêng với vẻ quyến rũ làm mê đắm lòng người.

     

    Vịnh Hạ Long, ảnh tác giả

    Năm 1999, Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn là địa danh tiếp theo của Việt Nam được công nhận là di sản văn hoá thế giới. Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á giai đoạn thế kỷ XV-XIX được bảo tồn nguyên vẹn. Đô thị cổ ngày nay còn gìn giữ được bản sắc của kiến trúc cổ. Thánh địa Mỹ Sơn là di sản kiến trúc của nhà nước Chămpa cổ đại. Nơi đây lưu giữ các mảnh vỡ của kiến trúc Chăm – mảnh vỡ của tường, cột và bàn thờ với những hoa văn trang trí, tượng đá. 

    Di sản tiếp theo được công nhận đó là Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được coi là “Thiên Nam đệ nhất động” của Việt Nam, được che chở bởi những cánh rừng nhiệt đới và núi đá vôi kỳ vĩ. Thế giới động Phong Nha đã khiến du khách bất ngờ và choáng ngợp bởi không gian lung linh, huyền ảo.  Phong Nha như một món quà của tạo hoá đã ban tặng cho vùng đất này một hệ thống hang động thật lộng lẫy. Nhũ đá từ trên rũ xuống, mảng đá từ dưới nhô lên tua tủa như cây rừng với những hình dáng kỳ lạ kích thích trí tưởng tượng của con người. Song mỗi người đều có thể đặt những tên gọi riêng cho từng không gian, từng khối thạch nhũ trong hang động kỳ bí này tùy theo trí tưởng tượng khác nhau.

    Ngoài ra Thành Nhà Hồ ở huyện Vĩnh Lộc- Thanh Hóa và Quần thể danh thắng Tràng An ở Ninh Bình cũng được UNESCO công nhận.

    Với chuyến du lịch “chấm phá” như thế, tất nhiên chúng ta chưa thể trình bày hết một cách đầy đủ về nước Việt Nam xinh đẹp, nhưng nó cũng phần nào giúp cảm nhận được bản sắc và sự đa dạng phong phú. Dù là người Việt Nam hay đến từ bất cứ nơi nào trên thế giới những nhìn nhận khách quan về đất nước Việt Nam giúp chúng ta thêm yêu mảnh đất hình chữ S thân thương này và cùng chung tay góp sức xây dựng một Việt Nam hòa bình, bền vững và phát triển như nhà thơ Lê Anh Xuân đã viết “Có nơi đâu đẹp tuyệt vời/ Như sông, như núi, như người Việt Nam”.

    Bên cạnh đất nước Việt Nam cảnh đẹp hữu tình, thì còn kết tinh trong đó vẻ đẹp là tâm hồn hết sức nghĩa tình, những con người Việt Nam giàu lòng mến khách, và một phong thái tự hào lẫy lừng về truyền thống bảo vệ và xây dựng đất nước. Vì vậy ngày càng tôi hiểu vì sao dải đất cong cong hình chữ S này như một hình ảnh nặng gánh trong tâm trí người Việt. Họ luôn tự so sánh mình với cây tre non mềm dẻo, có thể uốn cong nhưng không bao giờ gục ngã. Trong quá trình hình thành và phát triển, dân tộc Việt Nam không những phải đấu tranh với giặc ngoại xâm và làm nên những chiến thắng vang dội đi vào lịch sử dân tộc và thế giới, mà còn phải phòng chống thiên tai. Chính trong hoàn cảnh như thế đã gắn kết những con người Việt Nam xích lại gần nhau bảo vệ đất nước.

    Với diện tích không lớn nhưng Việt Nam là một đất nước độc đáo, đa dạng các loại địa hình, cảnh quan thiên nhiên phong phú, giàu truyền thống, phong tục, tập quán, đậm đà bản sắc dân tộc. Thêm vào đó là sự đa dạng của cuộc sống các dân tộc, ngôn ngữ và ẩm thực. Chuyến du lịch đến đất nước Việt Nam sẽ thực sự là một chuyến đi đáng nhớ, tràn ngập những ấn tượng và sự kiện khó phai mờ trong tâm trí du khách. 

    2. Hội nhập du lịch Việt Nam trong ASEAN

    Thời gian qua Du lịch Việt Nam hội nhập ASEAN được triển khai theo hướng thúc đẩy ký kết và thực hiện các hiệp định thỏa thuận hợp tác cấp chính phủ, cấp ngành song phương và đa phương, tranh thủ hợp tác, hỗ trợ của các nước thông qua các chương trình, dự án cụ thể và các cam kết mở cửa tự do hóa thương mại dịch vụ du lịch trong các khuôn khổ WTO, ASEAN, APEC, GMS…. Trong đó, ASEAN là một trong những khuôn khổ hợp tác mà Du lịch Việt Nam tham gia sâu rộng và có hiệu quả nhất.

    Du lịch Việt Nam bắt đầu tìm hiểu và tham gia các cơ chế hợp tác từ cuối những năm 1990, sau khi gia nhập ASEAN (1995). Việt Nam từng bước tham gia đầy đủ các hoạt động trong các nhóm/tiểu ban công tác du lịch từ đầu những năm 2000 và chủ động hội nhập từ cuối những năm 2000. Năm 2009, Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Du lịch và Diễn đàn Du lịch ASEAN (ATF) – sự kiện lớn nhất trong năm của du lịch ASEAN.

    Du lịch Việt Nam đã tham gia xây dựng 130 sản phẩm du lịch chung để kết nối ít nhất 2 quốc gia trong ASEAN theo các nhóm chuyên đề như du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa và di sản, du lịch cộng đồng, du lịch đường biển và đường sông đồng thời tích cực triển khai Chiến lược marketing du lịch ASEAN 2011 – 2022 với tiêu đề “Đông Nam Á – cảm nhận sự ấm áp” tập trung vào khai thác các thị trường Trung Quốc và Ấn Độ, khách du lịch trải nghiệm và sáng tạo, khách du lịch khám phá, khách du lịch công vụ, khách du lịch lưu trú dài ngày và người cao tuổi, khách trong nội vùng ASEAN.

    Hàng năm, Du lịch Việt Nam tham gia Hội chợ Du lịch quốc tế TRAVEX bên lề Diễn đàn Du lịch ASEAN, tham gia và có đóng góp tích cực tại các phiên họp định kỳ và họp chuyên đề. Bên cạnh các nội dung hợp tác du lịch ASEAN nói chung, Việt Nam còn tích cực và chủ động trong các cơ chế hợp tác du lịch tiểu vùng và giữa ASEAN với các nước, tổ chức đối tác. Các khuôn khổ hợp tác phổ biến là: Hợp tác kinh tế ACMECS (hợp tác kinh tế gồm 5 nước Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam); Hợp tác GMS (còn gọi là chương trình hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng, gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và tỉnh Vân Nam, tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc); Hợp tác CLMV (gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam); Hợp tác giữa ASEAN với các nước và tổ chức đối tác (ASEAN với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc; ASEAN với Nga, ASEAN với Ấn Độ, ASEAN với Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO, ASEAN với Ngân hàng phát triển châu Á ADB…), và hợp tác du lịch song phương để đóng góp vào cơ chế hợp tác du lịch trong ASEAN.

    Gian hàng Du lịch Việt Nam tại Hội chợ Du lịch TRAVEX Philippines 2022,

    3. Tác động của việc hội nhập Du lịch Việt Nam với ASEAN

    Với dân số của ASEAN hơn 500 triệu dân, trong những năm qua, các thị trường nguồn du lịch thuộc khu vực ASEAN đóng góp khoảng 20% tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Một số nước ASEAN như Thái Lan, Singapore, Malaysia vừa là thị trường nguồn, vừa đóng vai trò là cửa ngõ quan trọng để khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Hợp tác du lịch với các nước ASEAN là quan hệ cùng có lợi khi các nước cùng hợp tác, bổ sung cho nhau về tất cả các khía cạnh trong phát triển du lịch, hỗ trợ nhau đồng thời cũng là hỗ trợ chính mình. 

    Mặt khác, quá trình hợp tác đã góp phần nâng cao sự hiện diện và uy tín của Du lịch Việt Nam trong khu vực. Đồng thời, Du lịch Việt Nam được tiếp cận nhiều thông tin và bài học kinh nghiệm quý báu về phát triển du lịch và nhận được sự hỗ trợ tích cực của các nước có ngành Du lịch phát triển hơn như Thái Lan, Malaysia, Singapore…; góp phần quan trọng vào việc thực hiện yêu cầu “gắn thị trường du lịch Việt Nam với thị trường du lịch khu vực và thế giới” như Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 đã đề ra.

     Nhìn chung, hội nhập về sản phẩm du lịch trong ASEAN đã góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Việt Nam hiện nay và tranh thủ được các nguồn khách nối tour trong khu vực để qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của du lịch khu vực ASEAN nói chung và khả năng kết nối khách giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và ngược lại. Mặt khác, chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch của Việt Nam cũng đã tăng lên rõ rệt, đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch trong và ngoài khu vực ASEAN về cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ lưu trú du lịch, chất lượng dịch vụ, chất lượng và sự đa dạng của ẩm thực trong sản phẩm du lịch, đặc biệt là đối với phân đoạn thị trường chất lượng cao, tập trung ở các trung tâm du lịch lớn trong nước.   

    Tham gia đầy đủ các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch chung trong ASEAN, hình ảnh và vị thế của Du lịch Việt Nam trong khu vực ASEAN được nâng lên do sự chủ động tổ chức và khởi xướng các sự kiện, hoạt động xúc tiến du lịch liên kết với các nước ASEAN. Thương hiệu quốc gia từng bước được cải thiện do các hoạt động tích cực của ngành Du lịch và các hoạt động xúc tiến quảng bá. Nhờ hội nhập quốc tế sâu rộng, du lịch nước ta đã xuất hiện trên bản đồ du lịch thế giới. Một số điểm đến nổi bật đã xác lập được thương hiệu trên thị trường quốc tế, tiêu biểu là Hạ Long, Hội An, Nha Trang, Đà Nẵng, Sa Pa, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Một số điểm đến du lịch ngày càng được biết đến nhiều hơn như Quần thể danh thắng Tràng An, Đồng bằng sông Cửu Long, Hà Giang, Phú Quốc… 

    Miền sông nước xuất hiện trong clip Welcome to Viet Nam.

    Du lịch Việt Nam phát triển góp phần GDP của cả nước. Tại cuộc tổng kết trực tuyến công tác ngành du lịch Việt Nam 2022 diễn ra tại 3 điểm cầu Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/12, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Nguyễn Văn Tuấn cho biết: Năm 2022, du lịch Việt Nam đón 7,943 triệu lượt khách quốc tế, tăng gần 1% với năm 2014. Khách du lịch nội địa đạt 57 triệu lượt, tổng thu từ khách du lịch đạt 338.000 tỷ đồng. 

    Hội nhập ASEAN là một bước ngoặt đánh dấu sự hội nhập khu vực một cách toàn diện của các nền kinh tế Đông Nam Á, qua đó mang lại những tác động tích cực tới Du lịch Việt Nam. Ngược lại các hoạt động hội nhập của Du lịch Việt Nam đóng góp vào quá trình hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN.

    Lê Thị Thu Thanh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thị Trường Nội Địa Là ‘bệ Đỡ’ Cho Du Lịch Việt
  • Chuyên Gia Kinh Tế Lê Đăng Doanh: “du Lịch Đang Đóng Góp Rất Lớn Cho Nền Kinh Tế Nước Nhà”
  • Bài 17: Du Lịch Thăm Quan
  • Việt Nam – Lào Nỗ Lực Phát Triển Du Lịch Vùng Biên Giới
  • Công Ty Tnhh Du Lịch Việt Hải Ngoại
  • Lễ Hội Dân Gian Với Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Vùng Du Lịch Văn Hóa Sinh Thái Khu Vực Tây Nguyên
  • Khám Phá Nền Văn Hóa Đặc Sắc Của Thái Lan
  • 9 Điều Thú Vị Trong Văn Hóa Thái Lan Mà Ít Người Biết
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Vân Nam
  • Du Lịch Trung Quốc Tự Túc: Du Ngoạn Vân Nam Trong 10 Ngày (Phần 1)
  • Vừa qua, tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, UBND tỉnh Phú Yên phối hợp với Viện Nghiên cứu phát triển Phương Ðông, Ðại học quốc gia Văn hóa nghệ thuật Moscow (Cộng hòa Liên bang Nga); Ðại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo “Văn hóa với Du lịch trong thế giới hội nhập”. Nhằm cung cấp thêm thông tin giúp các nhà quản lý, các doanh nghiệp du lịch tiếp cận đa chiều để xây dựng sản phẩm phù hợp, đẩy mạnh phát triển du lịch trong thế giới hội nhập, Báo Du lịch trích đăng các tham luận từ số 10 năm 2022. Khái quát về du lịch văn hóa

    Có thể hiểu, du lịch văn hóa là một loại du lịch mà mục đích chính là nâng cao hiểu biết cho cá nhân các giá trị văn hóa nhân văn khi họ trải nghiệm ở những vùng đất mới, cộng đồng mới…

    – Du lịch tìm hiểu bản sắc văn hóa: khách đi tìm hiểu các nền văn hóa là chủ yếu mục đích chuyến đi mang tính chất khảo cứu, nghiên cứu. Đối tượng khách chủ yếu là các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên – đó là các chương trình du lịch dã ngoại đến các làng dân tộc ít người thuộc các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu,… để khách tìm hiểu phong tục tập quán, lối sống văn hóa của các dân tộc đó. Khách sẽ đi bộ khi tham quan các bản làng và thường nghỉ qua đêm tại các bản làng đó.

    – Du lịch tham quan văn hóa: Đây là loại hình du lịch phổ biến nhất. Du khách thường kết hợp giữa tham quan với nghiên cứu tìm hiểu văn hóa trong một chuyến đi. Đối tượng tham gia vào loại hình du lịch này rất phong phú, bên cạnh những khách vừa kết hợp đi để tham quan, vừa để nghiên cứu còn có những khách chỉ để chiêm ngưỡng để biết, để thỏa mãn sự tò mò,… Do vậy, trong một chuyến du lịch, du khách thường đi đến nhiều điểm du lịch, trong đó vừa có những điểm du lịch văn hóa, vừa có những điểm du lịch núi, du lịch biển, du lịch dã ngoại… Đối tượng khách là những người ưa mạo hiểm, thích tìm cảm giác mới và chủ yếu là những người trẻ tuổi.

    – Du lịch kết hợp giữa tham quan văn hóa với các mục đích khác: mục đích chính của khách là trong chuyến đi nhằm thực hiện công tác hoặc nghề nghiệp nào đó và có kết hợp với tham quan văn hóa. Đối tượng của loại hình này là những người đi tham dự hội nghị, hội thảo, kỷ niệm những ngày lễ lớn, các cuộc triển lãm. Loại khách này đòi hỏi trình độ phục vụ hiện đại, phong phú, có chất lượng cao, quy trình phục vụ đồng bộ, chính xác, họ có khả năng thanh toán cao nhưng nói chung thời gian dành cho du lịch của họ rất ít. Thể loại du lịch cụ thể của loại hình du lịch này là du lịch công vụ.

    – Yếu tố thời vụ du lịch: so với các loại hình du lịch khác, du lịch văn hóa mang tính đại chúng. Tuy có chịu ảnh hưởng tính thời vụ nhưng không phụ thuộc hoàn toàn. Những đặc điểm này thể hiện rất rõ ở loại hình du lịch lễ hội. Đồng thời mức độ chênh lệch cung cầu của du lịch văn hóa thường không lớn.

    – Các yếu tố nhân khẩu học:

    + Yếu tố giới tính: Có tác động đến động cơ đi du lịch và động cơ đi du lịch văn hóa là một trong những nguyên nhân chủ yếu của nam giới vì đối với họ ít chịu sự ràng buộc của gia đình, thường có trình độ học vấn cao, có địa vị xã hội,…

    + Yếu tố độ tuổi: Tham gia vào các chuyến du lịch văn hóa chủ yếu vẫn là những khách du lịch cao tuổi và thanh niên. Đối với khách cao tuổi họ thường quan tâm nhiều đến chất lượng phục vụ, còn với khách du lịch thanh niên có xu hướng đòi hỏi tính mới mẻ, đa dạng trong dịch vụ du lịch, họ có khả năng thanh toán thấp, ít có kinh nghiệm trong đi du lịch, họ thường quan tâm đến giá cả nhưng ít quan tâm đến yêu cầu về chất lượng dịch vụ. Khách du lịch thanh niên thường tham gia vào các chuyến du lịch dã ngoại, săn bắn mạo hiểm, tham quan văn hóa,… Đối với những khách trung niên thường là những người có địa vị xã hội có khả năng thanh toán cao, có sự tự chủ lớn trong khi đi du lịch. Họ quan tâm nhiều đến chất lượng phục vụ,… họ thường kết hợp giữa đi công tác với đi du lịch.

    + Yếu tố trình độ học vấn: Những người có trình độ học vấn cao là loại khách được các nhà kinh doanh du lịch quan tâm nhiều vì những nhà học vấn cao thường thường là những người có địa vị xã hội cao, thu nhập cao, trình độ văn hóa cao nên có nhu cầu mở rộng sự hiểu biết tìm hiểu thế giới xung quanh cao hay có thể nói họ có động cơ văn hóa cao trong nhu cầu đi du lịch.

    Tác động của lễ hội dân gian đến du lịch văn hóa

    Lễ hội dân gian và du lịch văn hóa luôn luôn có sự tác động qua lại với nhau và cùng nhau phát triển làm hoàn thiện hơn ngành Du lịch. Trước hết, hoạt động du lịch văn hóa có nhiều tác động tích cực đối với lễ hội. Du lịch văn hóa có những đặc trưng riêng làm cải biến hay làm hấp dẫn hơn lễ hội dân gian truyền thống. Du lịch mang đến nguồn lợi kinh tế và các loại hình sinh kế mới có khả năng tạo ra thu nhập cao cho các địa phương có lễ hội. Du lịch văn hóa nói riêng, du lịch nói chung tạo việc làm cho người dân địa phương thông qua dịch vụ như: Vận chuyển khách, bán hàng hoá, đồ lưu niệm,… Nhân dân vùng có lễ hội vừa quảng bá hình ảnh văn hóa về đời sống mọi mặt của địa phương mình, vừa có dịp giao lưu văn hóa được du khách mang đến….

    Việt Nam có 54 dân tộc cùng sinh sống qua hàng nghìn năm lịch sử với những giá trị, bản sắc văn hóa riêng. Đó chính là tài sản quan trọng và rất tiềm năng để Việt Nam có thể thúc đẩy phát triển loại hình du lịch văn hóa. Tuy nhiên, để phát triển du lịch văn hóa thành công, ít để lại những hệ lụy mà do tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch của du khách để lại, Nhà nước Việt Nam cần xây dựng hoàn chỉnh những thể chế chính sách phù hợp, có hướng dẫn đồng bộ, nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, nhân dân và du khách, trong đó, đặc biệt lưu tâm là hệ thống pháp luật và hành lang pháp lý khác.

    LÊ THỊ VƯƠNG NGUYỆT – Giảng viên Trường Đại học Văn hóa chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nét Văn Hóa Độc Đáo Ở Nha Trang Khánh Hòa
  • Văn Hóa Ở Nha Trang
  • Du Lịch Vân Hồ Sơn La
  • Review Kinh Nghiệm Du Lịch Vân Đồn Quảng Ninh Tự Túc Từ A Đến Z
  • Du Lịch Vân Đồn Quan Lạn
  • Ảnh Hưởng Của Văn Hóa Nước Ngoài Trên Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nên Đi Phú Quốc Bằng Phương Tiện Gì
  • Tầm Nhìn Trong Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Quảng Ninh
  • Du Lịch Phú Quốc Bằng Phương Tiện Gì?
  • Mẹo Chuẩn Bị Hành Lý Khi Đi Du Lịch Thái Lan
  • Mẹo Vặt Khi Đi Du Lịch Thái Lan Để Không Bị Bỡ Ngỡ
  • Việt Nam là một nước được coi như là điểm hội tụ của các nền văn hóa Đông – Tây và dĩ nhiên cũng là nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hai nền văn hóa Phương Đông.

    Khi nói đến văn hóa Phương Đông cũng như nói đến sự ảnh hưởng của nó lên văn hóa Việt Nam thì người ta nghĩ ngay đến nền văn hóa vĩ đại Trung Hoa. Nền văn hóa Trung Hoa vừa mang tính cách đa dạng cả về văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất vừa có bề dày lịch sử vào hàng nhất nhì thế giới. Văn hóa Trung Hoa đã ảnh hưởng một cách sâu đậm đến hầu như toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt đối với văn hóa Việt Nam thì văn hóa Trung Hoa đã để lại nhiều dấu ấn và chứng tích đậm nét ăn sâu vào cả văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất. Nó đã gắn liền với các sinh hoạt trong đời sống của người dân Việt Nam từ xưa tới nay.

    Hoàn cảnh và thời gian thâm nhập vào Việt Nam

    Song song với mục tiêu chính trị – quân sự và thương mại, văn hóa Trung Hoa đã du nhập vào Việt Nam theo bước chân của các đạo quân xâm lược qua các thời kỳ xâm chiếm Việt Nam. Theo lịch sử Việt Nam, Trung Hoa xâm lược và cai trị Việt Nam trên một ngàn năm qua ba thời kỳ chính:

    – Thời kỳ thứ nhất, thời nhà Triệu, từ năm 207 – 39 TCN

    – Thời kỳ thứ hai, thời Đông Ngô, từ năm 43 – 543

    – Thời kỳ thứ ba, thời nhà Đường, từ năm 603 – 939

    Ba cuộc xâm lược kéo dài này, là thời gian văn hóa Trung Hoa luôn hiện diện trên đất nước Việt Nam, còn người Việt thì luôn phải tiếp cận và phải sống với nền văn hóa khổng lồ này để rồi nó đi sâu vào trong máu thịt của hàng trăm thế hệ người Việt Nam và chiếm lĩnh hầu hết vị trí của văn hóa thuần túy Việt Nam. Ngoài ba cuộc xâm lược kéo dài này, còn có một số cuộc xâm chiếm khác nữa đã làm cho văn hóa Việt Nam trở nên điêu tàn nhường chỗ cho văn hóa Phương Tây.

    Trong mấy thế kỷ tiếp xúc và giao lưu với văn hóa Phương Tây, văn hóa Việt Nam đã chịu ảnh hưởng khá sâu đậm vào nhiều lĩnh vực, cả trên văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất. Thế nhưng tùy lúc tùy nơi, người Việt có thể chấp nhận hay chống đối, nhưng bao giờ cũng là một sự thâu hóa linh hoạt, tiếp nhận những gì có ích và biến đổi cho phù hợp với tính cách, điều kiện và nhu cầu của người dân.

    Thời gian và hoàn cảnh thâm nhập

    Thời gian thâm nhập của văn hóa Phương Tây có thể manh nha từ thế kỷ XVI – XVII khi các giáo sĩ Phương Tây đến truyền đạo Kitô giáo. Ngoài ra, song song với tôn giáo, văn hóa Phương Tây còn đi vào Việt Nam bằng con đường chính trị, kinh tế, thương mại,… Chúng ta có thể chia thời gian và hoàn cảnh thâm nhập của văn hóa Phương Tây thành 4 thời kỳ chính:

    – Khởi đầu là thời kỳ thâm nhập của Kitô giáo

    – Thời kỳ thực dân xâm lược và giao lưu với văn hóa Pháp (1858 – 1945)

    – Thời kỳ giao lưu với văn hóa XHCN Max-Lênin (1945 trở đi)

    – Thời kỳ hiện tại, giao lưu với văn minh văn hóa nhân loại.

    PHẬT GIÁO

    Quá trình xâm nhập, phát triển và những bước thăng trầm của Phật giáo ở Việt Nam

    Đầu công nguyên (thế kỷ II) các nhà sư Ấn Độ đã đến Việt Nam theo đường biển và thiết lập ở Luy Lâu, trị sở quận Giao Chỉ, một trung tâm Phật giáo lớn.

    Đến thế kỷ IV – Việt Nam lại có thêm luồng Phật giáo Đại Thừa Bắc Tông từ Trung Hoa tràn vào Việt Nam và chẳng mấy chốc nó đã lấn át và thay thế luồng Nam Tông có từ trước đó. Vì thâm nhập vào Việt Nam trong bầu khí hòa bình nên Phật giáo đã phổ biến rộng khắp ngay từ thời Bắc Thuộc và tiếp tục phát triển sau này.

    Đến thời Lý – Trần Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cực thịnh. Nhiều chùa chiền được xây khắp cả nước. Dân chúng tô tượng, đúc chuông, sùng bái Phật Thích Ca.

    Sang đời nhà Lê, nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo; Phật giáo bị phái Nho công kích, triều đình không săn sóc nên Phật giáo đi vào con đường suy thoái.

    Đến thời Pháp thuộc Phật giáo càng bị chèn ép và suy kém rất nhiều. Tuy nhiên cho đến nay số tín đồ Phật giáo vẫn chiếm một con số rất lớn tại Việt Nam và có nhiều ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của người dân Việt Nam.

    Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa Việt Nam

    Phật giáo với tư cách là những giáo lý cao sâu, trừu tượng, thuần túy mang tính bác học hầu như lại ít ảnh hưởng tới đại đa số quần chúng. Cái ảnh hưởng lên lớp bình dân lại là những tư tưởng cơ bản nhưng đơn giản, dễ hiểu, nếp sống đạo đức, tác phong của các nhà sư.

    Từ khi du nhập, theo suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo luôn có mặt, gắn bó mật thiết với dân tộc và hầu như đã thấm sâu vào máu thịt của con người Việt Nam. Bởi vậy dù trực tiếp hay gián tiếp, hầu hết người Việt đều chịu ảnh hưởng của Phật giáo.

    a/. Con người Việt Nam và thuyết nhân quả của Phật giáo

    Phật giáo cho rằng mối quan hệ cơ bản phổ biến của mọi sự vật hiện tượng là quan hệ nhân quả. Quan niệm này có ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm về thế giới quan và nhân sinh quan của đại đa số người Việt. Người ta luôn nói với nhau: “gieo nhân nào thì gặt quả ấy”, “gieo gió gặt bão”, xem cái gì cũng là kết quả của một cái trước. Mỗi khi gặp sự việc gì xảy đến cho bản thân, người Việt dễ cho là phải có một nguyên nhân nào đó. Luật nhân quả có tác dụng trực tiếp là khuyên người ta làm thiện, tránh ác vì nhân nào thì quả ấy, thiện giả thiện báo, ác giả ác báo. Từ đây cũng dẫn đến quan niệm làm phúc để lại cho con cháu; cha ăn mặn, con khát nước. Trong nhiều trường hợp động lực thúc đẩy người Việt sống lương thiện chính là để tích đức lại cho con cháu.

    b/. Người Việt và quan niệm về cái Tâm của Phật giáo

    Phật giáo cho rằng cái tâm con người rất quan trọng, nó chi phối tất cả con người ta, “nhất thiết duy tâm tạo”, mọi thứ đều do tâm tạo ra. Quan niệm này đã ảnh hưởng sâu xa đến cách cư xử của người Việt Nam. Ngay trong quan hệ giữa người với người ở nước ta từ xưa đến nay dân ta đều coi trọng cái tâm. Trong mọi việc, vấn đề quan trọng là tấm lòng, là thành tâm, thực bụng. Đây là truyền thống quý báu của người Việt Nam với sự góp phần rất lớn của Phật giáo. Nguyễn Du đã thấm nhuần tinh thần này của Phật giáo và đã thốt lên trong tác phẩm của mình: “Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

    c/. Lòng từ bi của Phật giáo và tâm hồn khoan dung của con người Việt Nam

    Lòng từ bi của Phật giáo đã thấm nhập vào tâm hồn người Việt vốn mang trong mình hòa tính và nữ tính – nét đặc trưng của văn hóa nông nghiệp – để tạo nên bản tính hiếu hòa, khoan dung nơi tâm hồn người Việt. Điều này được chứng nghiệm qua các cuộc chiến tranh ở nước ta. Các cuộc chiến tranh xảy ra ở nước ta đều xuất phát từ ý đồ xâm lược của kẻ ngoại xâm, người Việt chỉ chiến đấu để bảo vệ chủ quyền của đất nước mình mà thôi. Trong các cuộc chiến khi mà kẻ địch không còn khả năng chống cự, người Việt không nỡ lòng nào giết họ. Trong nhiều trường hợp các tướng không những không giết quân giặc mà còn cấp thuyền, ngựa, lương thực cho họ được về nước. Tư tưởng này còn thể hiện rõ trong thái độ của Nguyễn Trãi: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo”.

    Quan niệm “nhu thắng cương”, “nhược thắng cường” đã được các thế hệ cha ông ta truyền lại cho nhau thể hiện rõ lòng khoan dung của người Việt, nhờ sự góp phần không nhỏ của Phật giáo.

    d/. Phật giáo và các lễ hội ở Việt Nam

    Lễ hội đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa của người Việt. Trong số những lễ hội lớn có một phần đóng góp không nhỏ của Phật giáo. Đến ngày hội dân chúng không những tại địa phương mà có khi còn từ các tỉnh khác tới tham dự lễ hội rất đông. Nhiều lễ hội có nguồn gốc từ Phật giáo đã trở nên như máu thịt, như một phần không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Một trong số những lễ hội đó có thể kể đến như Hội Chùa Hương ở tỉnh Hà Tây. Hội mở từ đầu tháng Giêng cho đến hết tháng Hai, ngày hội chính là ngày rằm tháng Hai. Hội Chùa Thầy mở vào ngày mồng bảy tháng ba âm lịch hằng năm tại tỉnh Hà Tây. Hội Đền Linh Sơn Thánh Mẫu tại núi Bà Đen, Tây Ninh. Hằng năm vào dịp xuân, từ mồng 10 tháng Giêng dân chúng các nơi tới hành hương lễ bái rất đông, nhất là ngày 15 tháng Giêng. Hội Miếu Bằng Lăng được tổ chức hằng năm vào ngày 15 và 16 tháng Ba âm lịch tại tỉnh An Giang,…

    NHO GIÁO Nho giáo và sự phát triển tại Việt Nam

    Ngay từ đầu công nguyên Nho giáo đã được truyền bá vào Việt Nam. Tuy nhiên, vì đây là thứ văn hóa của kẻ xâm lược áp đặt nên, ngoài một số người Việt đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan trong bộ máy cai trị Trung Hoa, trong suốt thời kỳ Bắc thuộc (207 – 906 TCN), Nho giáo tuy đã được đưa vào Việt Nam nhưng chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam.

    Đến thời tự chủ, Nho giáo bắt đầu phát triển tại Việt Nam. Với sự kiện Lý Thái Tổ (Lý Nhân Tông) cho lập văn miếu thời Khổng Tử năm 1070, có thể coi đây là lúc Nho giáo được tiếp nhận chính thức.

    Nho giáo được xem là thịnh hành nhất trong thời nhà Lê khi mà Nho giáo được coi như là Quốc giáo. Nho giáo còn hưng thịnh cho đến thời Pháp thuộc từ năm 1858 thì bị Pháp lấn át và bãi bỏ các kỳ thi về Nho học. Và cứ như thế, Nho giáo dần mất chỗ đứng không những trong xã hội mà còn phai nhạt dần trong lòng người Việt.

    Ảnh hưởng của Nho giáo tại Việt Nam

    Nho giáo đã có một sự ảnh hưởng khá sâu rộng lớn đến nhiều mặt của cuộc sống của người Việt trong một thời gian dài. Nhiều khi Nho giáo lại uyển chuyển để thích nghi với nền văn hóa của Việt Nam để rồi bị Việt Nam hóa. Vì thế có nhiều điểm ta không biết được đâu là văn hóa thuần Việt Nam và đâu là ảnh hưởng của Nho giáo. Tuy thế Nho giáo đã để lại nhiều ảnh hưởng rõ nét trên hai bình diện chính là gia đình và xã hội.

    Có thể khẳng định rằng văn hóa truyền thống của người Việt mang tính mẫu hệ giống như một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay như Chăm, Êđê, … Chính Nho giáo đã mang vào Việt Nam quan niệm phụ hệ.

    Nho giáo coi gia đình là đơn vị để xây nên sự vững mạnh cho đất nước nên gia đình cần phải có trật tự trên dưới rõ ràng. Với địa vị độc tôn của người cha trong gia đình, có quyền quyết định mọi việc trong nhà giống như một ông vua có quyền tuyệt đối trên các quan và thần dân.

    Trong gia đình con cái phải tuyệt đối vâng lời cha mẹ, ngay cả trong việc hôn nhân con cái cũng phải theo sự hướng dẫn của cha mẹ: cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Ngoài ra con cái phải sống với cha mẹ cho tròn chữ hiếu và hiếu là một việc bắt buộc đối với bổn phận làm con: “Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

    Thế nào là sống tròn chữ hiếu? Con cái được xem là có hiếu khi biết săn sóc, phụng dưỡng cha mẹ thật chu đáo khi còn sống khỏe mạnh cũng như lúc đau yếu, khi về già. Lúc cha mẹ qua đời còn phải chu toàn chữ hiếu bằng cách lo tang tế đàng hoàng, lại còn phải nhang khói đầy đủ để thờ phượng cha mẹ nữa.

    Người phụ nữ bị xem là bị lệ thuộc vào người đàn ông trong suốt cuộc đời của mình. Với quan niệm tam tòng: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, nghĩa là ở gia đình phải theo cha, lấy chồng phải theo chồng và chồng chết thì phải theo con. Quan niệm nam tôn nữ ti hay trọng nam khinh nữ, mặc dù đã bị khúc xạ do bản chất mẫu hệ của văn hóa Việt Nam, nhưng đã một thời ảnh hưởng rất mạnh và nay vẫn còn hằn sâu trong tâm thức của người Việt, nhất là ở các vùng quê: nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô.

    Nho giáo nhấn mạnh đến vấn đề đạp nghĩa trong cuộc sống thường ngày giữa người với người, đề cao chữ nhân trong cách ứng xử của con người vì nhân và nghĩa là hai đức tính được đề cao hàng đầu trong Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín). Người Việt đã chịu ảnh hưởng sâu xa của quan niệm này, vì thế cho đến ngày nay người Việt vẫn luôn coi trọng đạo nghĩa. Sống với nhau phải có đạo nhân, nghĩa, không làm những việc trái với luân lý, nghĩa là trái với những điều được vạch ra trong Ngũ thường. Hơn nữa, trong các mối quan hệ thì phải biết tôn trọng lẫn nhau, lại phải biết kính trên, nhường dưới.

    Một nét ảnh hưởng nữa có thể kể đến là các loại nghi thức tế tự. Bao nhiêu nghi thức tiết lễ của Nho giáo đã dần được áp dụng trong việc phụng thờ của các tôn giáo khác, đáng kể hơn hết là trong đạo Thờ Phụng Tổ Tiên, đạo thờ Thần,…

    III. ĐẠO GIÁO (LÃO GIÁO) Bối cảnh hình thành Lão giáo và sự truyền bá vào Việt Nam

    Vào thời Lão Tử, người đời chuộng lễ nghĩa, chú ý rất nhiều đến những điều vụn vặt, làm bận tâm trí con người và vì những điều câu nệ tỉ mỉ đã làm mất đi cái khoáng đạt của tâm hồn. Trước tệ đoan đó, Lão Tử có ý muốn sửa đổi lại để con người sống theo lẽ tự nhiên. Vì thế với tôn chỉ vô vi, Lãi Tử đã lập nên Lão giáo.

    Lão giáo thâm nhập vào Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ II qua các đạo sĩ chạy lánh nạn đến Việt Nam. Ngay khi đến Việt Nam, Lão giáo đã tìm thấy những tín ngưỡng tương đồng đã có sẵn từ lâu vì người Việt từ xa xưa đã rất sùng bái ma thuật, phù phép; họ tin rằng các lá bùa, những câu thần chú có thể chữa bệnh, đuổi tà ma, tăng sức mạnh,… Đến thời Đinh Tiên Hoàng, văn hóa Lão giáo khá phát triển, nhưng không thịnh bằng đạo Phật và đạo Nho. Lão giáo ở Việt Nam chia làm hai phái chính: Lão giáo phù thủy và Lão giáo thần tiên.

    Ảnh hưởng của Lão giáo tại Việt Nam

    Vì Lão giáo được chia làm hai nhánh chính nên ảnh hưởng của nó tại Việt Nam cũng chia làm hai hướng rõ rệt, mối hướng ảnh hưởng lên từng tầng lớp khác nhau trong xã hội.

    Lão giáo phù thủy tác động khá sâu sắc đến tầng lớp bình dân khi họ tiếp cận văn hóa Lão giáo ở khía cạnh thần tiên, huyền bí; họ tin vào phép bói toán, tu luyện, phù thủy,… Do vậy, lối tiếp cận này đã dần mê tín dị đoan như xem bói, cúng, quảy, làm phép để trừ khử ma quỷ, lập đền miếu để thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Hải Thượng Lãn Ông,… và qua hệ thống đồng cốt để cầu xin giàu sang phú quý và chữa bệnh. Đền Ngọc Sơn (Hà Nội), điện Hòn Chén (Huế), điện Bà Chúa Xứ (An Giang) và các đền miếu khác là những nơi tín đồ Lão giáo thường tụ họp vào ngày rằm, mồng một hoặc các ngày lễ lớn khác để cầu xin, lên đồng, chữa bệnh,…

    Lão giáo thần tiên lại ảnh hưởng lên tầng lớp trí thức, đặc biệt là một số nhà Nho Việt Nam. Sinh không gặp thời, gặp chuyện bất bình ở chốn quan trường hay chỉ đơn giản là thích cuộc sống nhàn hạ, phóng khoáng, chán chường danh lợi, “nhìn xem phú quí tựa chiêm bao”, nên khi về già thường lui về sống ẩn dật, vui thú với thiên nhiên, bên chén rượu, bàn cờ, ngâm thơ; sống điều độ với tinh thần thanh thản trong khung cảnh thiên nhiên. Tiêu biểu có các nhà Nho như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Huy Ích, Nguyễn Công Trứ,…

    KITÔ GIÁO

    Có tài liệu cho rằng chân phước Ordorico Di Pordenone đã đến Chiêm Thành (Việt Nam ngày nay) vào tiền bán thế kỷ XIV. Tuy nhiên không có bằng chứng chắc chắn là Kitô giáo đã được truyền vào Việt Nam thời đó.

    Từ sau năm 1550 một số tu sĩ Đaminh đã vào Việt Nam truyền giáo, đến năm 1586 lại có thêm các tu sĩ dòng Phanxicô vào Việt Nam, nhưng việc truyền giáo kém hiệu quả vì vấn đề bất đồng ngôn ngữ.

    Sang đầu thế kỷ XVII có thêm các tu sĩ Dòng Tên vào truyền giáo tại Việt Nam. Nhiều giáo sĩ Dòng Tên thông thạo tiếng Việt Nam, lại hoạt động khôn khéo nên mặc dù gặp khó khăn phức tạp, có khi đổ máu nhưng thu hút được khá nhiều người theo đạo và cứ thế việc truyền giáo phát triển với số Kitô hữu tăng lên đều đặn.

    Đến thế kỷ XVIII việc cấm đạo trở nên gay gắt, với các sắc chỉ cấm đạo của các chúa Minh Vương, Võ Vương, đặc biệt trong ba đời vua của triều Nguyễn là Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức có tất cả 14 sắc chỉ cấm đạo Công Giáo. Nhiều nhà thờ bị đốt phá, giáo dân bị tù đày, giáo sĩ bị giết,…

    Sau khi chiếm được Việt Nam, nhất là sau khi thiết lập được chế độ thống trị, Pháp đã dành cho các giáo sĩ của Hội Thừa Sai Paris nhiều điều kiện thuận lợi cho việc truyền giáo. Vì thế hàng ngàn cơ sở tôn giáo được triển khai xây dựng, số tín hữu ngày càng tăng nhanh.

    Mãi đến năm 1933, sau hơn 400 năm truyền đạo, Giáo hội Việt Nam mới được quyền tự quản với vị giám mục đầu tiên là Nguyễn Bá Tòng. Năm 1960 hàng giáo phẩm Việt Nam được chính thức thành lập và từng bước xây dựng và phát triển cho đến ngày nay.

    ***

    PHẦN II: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ NGÔN NGỮ

    Tiếng Việt ngày nay chịu ảnh hưởng khá lớn từ hai dòng chính là Trung Hoa và Tây Âu

    TRUNG HOA

    Ngay từ đầu công nguyên, từ khi có sự đô hộ phương Bắc, tiếng Hán đã được sử dụng ở Giao Châu với tư cách một sinh ngữ. Người Hán muốn đồng hóa tiếng nói của dân tộc Việt, nhưng tiếng Việt vốn đã có cơ sở vững vàng từ trước vẫn tiếp tục tồn tại. Tuy nhiên, trải qua hàng ngàn năm, một số lẻ tẻ từ Hán thường dùng đã được người Việt vay mượn để lấp chỗ thiếu hụt trong tiếng Việt như: buồng, buồn, muộn, mây, muỗi, đục, đuốc,… Cuối thời đô hộ, người Hán mở nhiều trường học, văn ngôn Hán được truyền bá rộng rãi cùng với kinh, sử, tử, tập. Sang thời tự chủ, tiếng Hán và chữ Hán vẫn được các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp tục sử dụng trong cơ quan hành chính, trường học, khoa cử cũng như trong sáng tác văn chương. Nhưng lúc này tiếng Hán đã mất tính cách là một sinh ngữ; tiếng Hán không được đọc theo âm Hán của người Hán. Người Việt đã tạo ra âm Hán Việt là cách đọc chữ Hán của riêng người Việt trên địa bàn Việt Nam. Âm Hán Việt đã tạo điều kiện để chuyển tải hàng loạt từ Hán du nhập vào tiếng Việt. Những từ này có thể giữ nguyên nghĩa, cũng có thể chuyển đổi nghĩa theo hướng Việt hóa.

    Vào những thế kỷ cuối cùng, các nước châu Á bắt đầu chịu ảnh hưởng của tư tưởng tư sản châu Âu qua cửa ngõ Nhật Bản. Người Nhật đã dùng chữ Hán trong văn tự của họ để phiên dịch các khái niệm của châu Âu, sau đó người Hán lại đọc các từ đó theo âm Hán và người Việt Nam lại đọc các từ này theo âm Hán Việt, ví dụ như các từ: dân chủ, cộng hòa, giác ngộ, giai cấp, kinh tế, chính trị, xã hội, cách mạng, quần chúng, quyền lợi, tư sản,…

    Từ đầu thế kỉ XX và đặc biệt sau Cách mạng tháng Tám 1945, những từ này đã ồ ạt đi vào tiếng Việt cùng với những từ Hán Việt để tạo thành những từ riêng của mình như đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, đại bác, phi công, náo động, thiếu tá, trung tá,…

    Sau khi âm Hán Việt đã hình thành, trong tiếng Việt vẫn có những biến đổi ngữ âm. Những biến đổi này có thể tác động vào một bộ phận tự Hán Việt, nhất là những từ sinh hoạt, làm cho những từ này phát sinh ra âm mới như: gan, gương, dừng, vốn, vạch,… Những từ này cũng có những nét ngữ nghĩa và phong cách riêng khác với từ Hán Việt và thường được gọi là từ Hán Việt Việt Hóa.

    TÂY ÂU

    Hậu bán thế kỷ XVII các nhà truyền giáo người Tây Ban Nha, Ý, Pháp sang truyền giáo tại Việt Nam thì khó khăn họ gặp phải đầu tiên là vấn đề ngôn ngữ. Vì thế, với sự góp công to lớn của giáo sĩ Alexandre de Rhodes và một số giáo sĩ khác, họ đã dùng mẫu tự Latinh, có bổ sung thêm các dấu phụ để ghi âm tiếng Việt; và thứ chữ đó được gọi là chữ Quốc ngữ. Hơn nữa họ còn soạn nhiều cuốn từ điển như Việt – Bồ, Bồ – Việt, Việt – Bồ – La, nhờ đó người Việt có thể học chữ quốc ngữ dễ dàng hơn nhiều so với chữ Nôm trước đó. Vì dễ học, dễ nhớ nên chữ Quốc ngữ ngày càng được nhiều người học và nó đã góp phần rất lớn trong việc phổ cập giáo dục và nâng cao dân trí của người Việt Nam lúc bấy giờ. Kết quả là nhiều tác phẩm bằng chữ Quốc ngữ đã ra đời và đến năm 1856 khoa báo chí bằng tiếng Việt được hình thành. Tờ báo đầu tiên do Ernest Potteaux làm chánh tổng tài được phát hành, số đầu tiên ra ngày 15-01-1865. Tờ báo này được gọi là Gia Định báo.

    ***

    PHẦN III: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ GIÁO DỤC

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Giáo dục gia đình

    Theo truyền thống cổ truyền, dân tộc ta sống theo chế độ gia tộc mẫu hệ, tức là người con sinh ra chỉ biết có người mẹ mà ít quan tâm đến người cha, và người cha không có quyền gì đối với vợ con cả. Tuy nhiên chế độ này ngày nay hầu như đã mất hẳn, và thay vào đó là chế độ phụ hệ. Theo các nhà sử học Việt Nam, chế độ phụ hệ là do giáo lý Khổng – Mạnh truyền sang. Chế độ phụ hệ là tập tục cha truyền con nối. Người con sinh ra là phải lấy theo họ cha, và xem họ hàng bên cha là họ nội, họ hàng bên mẹ là họ ngoại.

    Từ chế độ phụ hệ đưa đến chế độ phụ quyền, nghĩa là nam tôn nữ ty, trọng nam khinh nữ. Người đàn ông nắm quyền làm chủ gia đình, còn phụ nữ chỉ phụ thuộc. Chế độ này ảnh hưởng nhiều nhất trong tầng lớp quan lại thượng lưu thời xưa. Còn trong thời đại hôm nay, chế độ này ảnh hưởng rất ít vì một phần do tiếp xúc với lối sống tự do bình đẳng của phương Tây, cộng thêm sự trở lại chế độ Mẫu hệ truyền thống, nên các gia đình hầu như đã tiếp nhận và dung hòa giữa các chế độ với nhau và đưa ra một chế độ bình đẳng bình quyền như hôm nay. Họ quan niệm “Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn”.

    Việc giáo dục gia đình trong Nho giáo có một vị trí rất quan trọng. Mạnh tử nói: “Thiên hạ gốc ở nước, nước gốc ở nhà, nhà gốc ở thân mình” và “nhà mình không thể dạy mà dạy được người ta điều không có. Trị quốc, Bình thiên hạ làm được hay không phụ thuộc vào việc tề gia”,… Như vậy, việc tề gia trở thành vấn đề quốc sách chứ không còn là việc của cá nhân hay của một gia đình, một dòng họ nữa.

    Giáo dục hiếu đễ

    “Con có hiếu với cha mẹ, em kính nể anh chị được coi là đức tính quí báu nhất, là tình cảm tất yếu, tự nhiên của con người”. Chữ hiếu đi liền với chữ trung. Chữ tình phải nhẹ hơn chữ hiếu. Mặc dù đạo hiếu quá khắt khe, có phần độc đoán, song có những điểm đáng trân trọng, giữ gìn. Và chính những điểm đó vẫn còn đọng lại trong nền giáo dục gia đình Việt Nam hôm nay.

    “Con cái phải có trách nhiệm nuôi dưỡng, kính trọng ông bà, cha mẹ, luôn luôn làm những điều thiện để cha mẹ được vui lòng”. Khổng Tử coi việc con cái nuôi nấng cha mẹ mà không kính thì không khác gì nuôi súc vật.

    “Thờ phụng tổ tiên là biểu hiện lòng hiếu thảo của con cháu, các thế hệ sau đối với người đã khuất, sự thờ phụng đó là để tỏ lòng tưởng nhớ, biết ơn đối với cha ông, gìn giữ và phát huy những di sản, thanh danh tốt đẹp của tiên tổ”.

    Ngoài ra con cái trong gia đình phải “tiên học lễ, hậu học văn”. Trước hết phải biết kính trọng, lễ phép sau đó mới học chữ nghĩa. Hơn nữa quan điểm Tam Cương Ngũ Thường trong Nho giáo phần nào vẫn còn ảnh hưởng trong giáo dục gia đình Việt Nam hôm nay.

    Giáo dục đối với người phụ nữ

    Ngày xưa xã hội phong kiến đòi buộc người phụ nữ vào chuẩn mực “tam tòng tứ đức”. Tam tòng có nghĩa là: người phụ nữ suốt đời chỉ là người phụ thuộc: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết ở với con). Nền giáo dục này hầu như không có một chút gì ảnh hưởng trong nền giáo dục của xã hội hôm nay. Song bên cạnh đó, tứ đức lại là mặt giáo dục tích cực vẫn còn đọng lại và đòi buộc người con gái cần phải có: Công là nết làm ăn cần cù, thức khuya dậy sớm, tài đảm đang nội trợ của người con gái khi còn ở nhà, của người phụ nữ với địa vị làm vợ, làm dâu, làm mẹ. Dung là sự chăm chút mộ cách kín đáo nhan sắc của mình sao cho dễ coi, duyên dáng. Ngôn là giữ lời ăn tiếng nói dịu dàng, nhỏ nhẹ khiêm tốn, không khoe khoang, cười đùa ầm ĩ. Hạnh là phẩm chất đạo đức, sự chung thủy với chồng được coi là tiêu chuẩn cao nhất về đạo đức của người con gái.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY ÂU

    Khi trình bày về sự ảnh hưởng văn hóa Tây phương trên lãnh vực giáo dục học đường Việt Nam, chúng ta thấy sự ảnh hưởng sâu đậm đó là hệ thống giáo dục của Pháp. Hầu như hệ thống giáo dục Việt Nam hiện đại đều chịu ảnh hưởng của Pháp.

    Sau khi Pháp thực sự đô hộ trên đất Việt (từ 1858 – 1945), đã áp đặt một hệ thống giáo dục của Pháp lên nền giáo dục Việt Nam. Và mãi tới hôm nay, tuy hệ thống giáo dục nước ta phần nào có sự thay đổi về nhiều mặt: hình thức tổ chức, bằng cấp, chương trình học, thi cử,… nhưng sâu xa vẫn bị ảnh hưởng hệ thống giáo dục của Pháp thời ấy.

    Về các cấp học và danh xưng

    – Bậc Ấu học gồm 2 lớp: lớp Đồng Ấu và lớp Dự Bị tương đương với 2 lớp: lớp Mầm Non và lớp Vỡ Lòng ngày nay.

    – Bậc Tiểu Học: tương đương với trường cấp I ngày nay, trong Nam có thời gọi đệ tam cấp, ngày nay cũng có nơi lấy lại danh xưng Trường Tiểu Học.

    – Bậc Trung Học: tương đương với trường cấp I và cấp II hay là trường Phổ Thông Cơ Sở và trường Phổ Thông Trung Học hiện nay.

    – Bậc Đại Học: ngày nay cũng lấy lại y như vậy

    Ảnh hưởng trên hình thức thi cử và bằng cấp

    – Kỳ thi lấy bằng Sơ Học Yếu Lược

    – Kỳ thi lấy bằng Tiểu Học

    – Kỳ thi lấy bằng cao đẳng Tiểu Học có thời đổi là bằng Thành Chung

    – Kỳ thi vào Đại Học

    Tuy nhiên các kỳ thi này hiện nay vẫn được sử dụng nhưng có một số bổ sung và thay đổi cho phù hợp với thời đại. Chẳng hạn chia cấp: cấp I, cấp II, cấp III tương đương với Tiểu học và Trung học thời Pháp.

    – Học hết cấp I cũng có kỳ thi lấy bằng Tiểu học để bước vào học chương trình Phổ thông Cơ sở

    – Hết cấp II, có kỳ thi tốt nghiệp Phổ thông Cơ sở, nếu đậu mới được dự thi chuyển cấp, tức là vào học chương trình Phổ thông Trung học

    – Hết chương trình Phổ thông Trung học, có kỳ thi lấy bằng tốt nghiệp Phổ thông Trung học hay gọi là bằng Tú Tài. Đậu kỳ thi này mới được dự thi Đại học

    – Hết chương trình Đại học, có kỳ thi lấy bằng cử nhân

    – Sau Đại học, có kỳ thi lấy bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ

    ***

    PHẦN IV: SỰ ẢNH HƯỞNG TRÊN VĂN CHƯƠNG

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Hơn 10 thế kỷ dưới chế độ phong kiến, văn hóa Trung Hoa trong đó có chữ Hán, phần nhiều phổ biến ở tầng lớp trên của xã hội như vua chúa, quan lại, nho sĩ, và quí tộc. Do đó văn hóa tam giáo từ Trung Hoa du nhập vào văn hóa Việt Nam qua từng thành phần trên một cách sâu đậm hơn tầng lớp bình dân. Hiện tượng này không những chỉ thể hiện trong đời sống gia đình, xã hội và bộ máy nhà nước, mà còn phản ánh trong đời sống văn học, nhất là những tác phẩm Hán văn; văn hóa tam giáo biểu hiện khi sâu đậm khi bàng bạc qua dòng văn học chữ Hán, nhưng ít có những tác phẩm trường thiên, phần nhiều là những bài thơ, bài kịch, bài kệ,… thông qua thi pháp Trung Hoa với các thể thơ cổ phong, đường luật. Tầng lớp tri thức Việt Nam hội nhập văn hóa Tam giáo vào các tác phẩm của mình.

    1/. Ảnh hưởng của Nho giáo trong văn thơ: Có Đoạn trường tân thanh, Lục Vân Tiên, thơ của Nguyễn Công Trứ,…

    2/. Ảnh hưởng Phật giáo trong văn thơ: Có Cung oán ngâm khúc, Quan Âm Thị Kính,…

    3/. Ảnh hưởng của Lão giáo trong văn thơ: Có Thơ Nhàn, Bích câu kì ngộ.

    Và sau đây là một số bài thơ đơn cử nói lên ảnh hưởng của quan điểm cũng như tư tưởng của tam giáo vào trong nền văn học Việt Nam.

    – Phật giáo

    Có bài thơ “Thi đệ tử” của nhà sư Vạn Hạnh, phản ánh triết lý hư vô của đạo Phật rất khái quát. Theo học thuyết của đạo Phật, con người có rồi không, không rồi có, cũng như cây cỏ lúc xanh tươi, khi tàn úa, rồi sự đời thịnh rồi lại suy, chẳng có gì vĩnh hằng trong thế gian.

    Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

    Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô,

    Nhiệm vận thính uy vô bố úy,

    Thịnh suy như lộ khảo đầu khô”.

    Dịch:

    Thân như bóng chớp có rồi không,

    Cây cối xuân tươi thu não nùng,

    Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,

    Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông”.

    – Nho giáo:

    Trong bài “Quân Đạo”, Lê Thánh Tông đã bộc lộ đạo vừa theo tinh thần văn hóa dân tộc vừa phảng phất quan niệm tu thân của văn hóa Nho giáo:

    Chế trị bảo bang tư kế thuật

    Thanh tâm quả dục tuyệt du điền”.

    Dịch:

    “Chánh dựng nước bền mau nối dõi

    Tâm thanh dục ít dứt chơi săn”.

    Hay trong bài “Thần Tiết” thì tác giả bộc lộ quan điểm “tu, tề, trị, bình” của Nho giáo khá rõ:

    “Nội ninh ngoại phủ hồi thiên lực

    Hậu lạc tiên ưu tế thế tâm”.

    Dịch:

    “Lo trước vui sau lòng tế thế

    Ngoài yên trong trị sức hồi thiên”.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY ÂU

    Văn hóa Việt Nam vốn nằm trong bối cảnh văn hóa Phương Đông, nhưng đến những năm hậu bán thế kỷ XIV trở đi, qua sự giao lưu với phương Tây, chữ Quốc Ngữ phát triển và hình thành dòng văn học Quốc Ngữ. Mặt khác trong quá trình xâm lăng và định trị trên đất Việt bắt đầu từ 1858 – 1945, người Pháp trực tiếp truyền văn hóa, tư tưởng Âu Tây vào Việt Nam, trong đó nền văn học Quốc Ngữ đóng vai trò chủ yếu.

    Hơn một trăm năm chữ Quốc ngữ ra đời đã để lại và ảnh hưởng trên nền văn học nước ta chủ yếu là hai hình thức: văn vần, văn xuôi và thơ mới, nhưng văn xuôi chiếm ưu thế. Ngoài các thể thơ văn truyền thống như: ca dao, hò, vè,… chữ Quốc Ngữ rất thuận lợi trong quá trình tiếp biến văn hóa nước ngoài, từ đó thơ mang nhiều hình thức và thi pháp mới, mà ta thường gọi phong trào thơ mới.

    Tuy nhiên văn học Việt Nam không chỉ ảnh hưởng trên mặt hình thức mà còn ảnh hưởng trên cả đời sống quan điểm và tư tưởng của người dân Việt Nam nữa.

    1/. Ảnh hưởng tư tưởng lãng mạn: Tác phẩm “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách; “Hồn Bướm Mơ Tiên” của Khải Hưng; “Thơ Say” của Vũ Hoàng Chương;…

    2/. Ảnh hưởng tư tưởng tự do dân chủ: Tác phẩm “Quân Tự Chủ Nghĩa” và “Dân Tự Chủ Nghĩa” của Phan Châu Trinh, “Cao Vọng Thanh Niên” của Nguyễn An Ninh; “Đoạn Tuyệt” của Nhất Linh,…

    3/. Ảnh hưởng của tôn giáo: Thơ Hàn Mặc Tử,…

    “Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,

    Thủa tung hoành hóng hạch những ngày xưa.

    Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,

    Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi.

    (Nhớ Rừng – Thế Lữ)

    Ta muốn say cánh mướn với tình yêu

    Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”.

    Hay:

    “Trong vườn đêm ấy nhiều trăng qua,

    Ánh sáng tuôn đầy các lối đi,

    Tôi với người yêu qua nhè nhẹ…

    Im lìm không dám nói năng chi”.

    (Trăng – Xuân Diệu)

    Trong thời đại ngày hôm nay hầu như các thể thức của nền văn học nước ta đều chịu ảnh hưởng của Tây, tuy nhiên các tác giả vẫn giữ được các cốt lõi, cái thâm sâu nhất của truyền thống Á Đông.

    ***

    PHẦN V: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ THỂ THAO VÀ GIẢI TRÍ

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Thời xưa, nước ta chỉ có mấy lối cờ bình dân như cờ chiếu tướng, cờ ngũ hành, cờ chân chó,… Và sau này có thêm cờ tướng là một trò chơi giải trí thanh cao tao nhã, dễ chơi được nhiều người yêu thích, nhất là các cụ ông khi về già thường tụ tập nhau lại để cùng vui chơi. Mỗi ván cờ là một cuộc đấu trí vừa gay go và vừa thú vị mà người chơi phải suy nghĩ chăm chú vào đó rất nhiều. Chuyện kể rằng: Bấy giờ dưới đời vua Trần Dụ Tôn (1341 – 1369), nước ta đang ở trong thời kỳ bị nước Tàu “dòm ngó”, muốn xâm lăng. Vua Tàu sai sứ giả sang nước ta để thách đố đánh cờ với vua Dụ Tôn. Vua Dụ Tôn không dám từ chối, nhưng thật tình rất lo ngại. Nhà vua sai đi tìm người tài giỏi để đấu cờ với sứ Tàu. Khi ấy ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An có ông Vũ Huyền là một hảo thủ tượng kỳ. Ông Vũ Huyền vào yết kiến nhà vua, cam đoan giúp nhà vua thắng sứ Tàu, nhưng cuộc cờ phải bắt đầu vào đúng giờ ngọ, và xin nhà vua cho Vũ Huyền được đứng hầu cận trong lúc đánh cờ.

    Cờ chơi ở ngoài trời, kẻ hầu cận phải che lọng cho vua và sứ giả Trung Hoa. Lọng Vũ Huyền che cho nhà vua đã dùi lủng một lỗ để ánh sáng mặt trời lọt qua. Vua cứ theo tia nắng ở lỗ lọng chiếu xuống mà đi cờ, nên đã thắng sứ giả Trung Hoa. Nhờ sự thắng cờ này, Trung Hoa cho nhà vua là người tài giỏi và không dám gây cuộc binh đao. Qua mẩu chuyện nhỏ này chúng ta có thể nói rằng cờ tướng đã có ở nước ta cũng khá lâu rồi.

    Cờ tướng là một trò giải trí phát xuất từ nước Trung Hoa, nhưng đây là một trò tiêu khiển lành mạnh mà ai cũng có thể chơi được, chỉ cần biết đường đi của từng con cờ. Ngày nay trò giải trí này cũng được đưa vào chương trình thi đấu quốc tế.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY PHƯƠNG Cờ – bài

    Nói đến cờ bạc là nói đến mất nhà, mất cửa, mất ruộng, mất trâu, và mất cả quần lẫn áo:

    Cờ bạc nó đã quấy anh

    Áo quần bán hết một manh chẳng còn

    Buổi gió sương chui vào đống rạ

    Hở mông ra cho quạ nó moi

    Anh còn cờ bạc nữa thôi”.

    Mặc dù cờ – bài nguyên bản chất không xấu nhưng qua mấy câu ca dao trên, ta đủ thấy thế nào là tác hại của cờ – bài khi nó mất đi tính văn hóa. Chơi cờ – bài, có khi là để giải buồn, có khi để ăn tiền, nhưng thực ra, ai biết đâu mà giới hạn giải buồn tiêu khiển với những cuộc “đỏ đen” bóc lột. Cờ bạc cũng có lối chơi cần suy xét, cũng có lối chơi trông cậy ở cả đỏ đen may rủi.

    Không rõ cơ – bài đã du nhập vào Việt Nam khi nào nhưng có thể thấy một số loại cờ bài phổ biến ở Việt Nam hiện nay như: Tú-lơ-khơ, cờ vua, Đô-mi-nô,… còn việc chơi và thưởng thức loại hình giải trí này tuỳ thuộc vào tầng lớp và trình độ.

    Bóng đá

    Theo một số tài liệu xưa, bóng đá du nhập vào Việt Nam năm 1896, tức là năm đánh dấu Olympic hiện đại lần đầu tiên tổ chức tại Athen, Hy Lạp. Lúc đó một nhóm người mang quốc tịch Châu Âu mỗi tuần tụ họp nhau lại tại Jardin de la ville (Tao Đàn, Thành phố Hồ Chí Minh) để giải trí. Họ cùng đùa giỡn tranh nhau một đấu giày trên cỏ.

    Từ năm 1896 – 1905 các đội bóng có người Việt Nam tham gia được thành lập do giới thống trị của Pháp lập nên, mỗi đội chỉ có một vài người Việt Nam. Năm 1906, một nhóm người Việt Nam bàn nhau lập riêng cho mình một đội bóng và lấy tên đội là Gia Định Sport.

    Sau Đại Chiến Thế Giới Thứ II tốc độ phát triển bóng đá thế giới rất nhanh, mạnh và đều khắp thế giới. Bóng đá không còn là lãnh vực dành riêng cho Trung Mỹ và Châu Âu nữa mà phát triển mạnh sang Châu Á – Phi, Bắc Nam mới trở thành hội viên chính thức của FIFA, do Tiệp Khắc và Bungarie giới thiệu theo điều lệ của FIFA. Từ đó trở đi đội bóng của Nước ta phát triển và có cơ hội giao đấu với một số các nước bạn.

    Đến 1966, đội tuyển nước ta đã làm cho khán giả trên sân Merdeka, thủ đô Kualalumpur, Malaysia ngây ngất bởi tài nghệ của mình và đã đem về cho đất nước chiếc cúp Merdeka. Ngày nay bóng đá trở thành một môn thể thao của toàn thế giới được mọi người yêu thích và bất cứ tầng lớp nào cũng có thể chơi được.

    Ngoài những môn thể thao giải trí nói trên còn có một số môn quen thuộc khác như bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, quần vợt,…

    ***

    PHẦN VI: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ ẨM THỰC

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Các món ăn

    Từ xưa, người nước ta vẫn sinh hoạt bằng nghề cày cấy và nghề chài lưới, cho nên đồ ăn chủ yếu của ta là gạo và cá. Gạo là hoa màu chính của đồng ruộng Việt Nam cũng như cá là sản phẩm chính của sông ngòi và biển cả đất nước. Ngoài hai thứ đồ ăn chủ yếu trên, ta còn ăn nhiều thứ rau đậu trồng ở vườn hay mọc tự nhiên ở đồng (rau cải, rau dền, ray đay, rau mồng tơi, rau muống, rau ngổ, đậu, cà, khoai, sắn,…), thịt các thứ gia súc gà, vịt, lợn,… và thỉnh thoảng có thêm một ít thịt trâu bò và một gia cầm, dã thú đánh hoặc săn được như: cò, chim mỏ thác, le le, cun cút, đa đa, hươu, nai, chồn, cáo thỏ, lợn rừng. Trước kia người vùng quê dùng các thứ thức ăn này trong các dịp lễ hội, Tết, ngày giỗ. Nhưng nay thời thế đã đổi khác cũng là do ảnh hưởng của Tàu nên các món ăn của ta cũng thay đổi, buổi sáng có thêm một số món ăn như bánh bao, xíu mại, phở, miến canh, cháo gà, còn trong những dịp lễ lạc hay đãi khách với người dân vùng quê thì nấu các món ăn bình dân, người khá giả hơn thì nấu các món ăn đặc biệt và ngon hơn. Những nhà sang trọng thì dùng sơn hào hải vị nấu toàn các món ăn của Tàu như: Da tê, gân hươu, yến sào, bào ngư, hải sâm, bong bóng, vây cá,…

    Trà – Nghệ thuật uống trà

    Người Việt Nam thường uống nước hay uống trà sau bữa ăn cốt để súc miệng, hoặc uống để giải khát khi trời nóng. Nhưng không nghĩ rằng uống trà là cả một nghệ thuật. Là nghệ thuật vì uống trà có một sự cầu kỳ khác, uống trà Tàu không giống như uống trà sen. Muốn thưởng thức hương vị của trà, không phải uống bất kỳ lúc nào cũng thấy ngon và càng không phải uống với bất cứ ai cũng thưởng thức được hương vị thơm ngon của trà. Ta cứ tưởng tượng buổi sáng trời lạnh với một ấm trà và buổi tối trời lạnh với một ấm trà sen thì sẽ thấy hương vị uống trà khác nhau.

    – Cách thức uống trà và hai loại trà tiêu biểu: trà Tàu và trà Sen

    Cũng như bất cứ dân tộc nào trên thế giới, đồ uống trước tiên là nước, rồi nước đó được đem pha chế thành các đồ uống khác. Nước, ta thường dùng là nước làm sạch. Người Việt Nam thường uống nước đã đun sôi hay với lá chè xanh, trà, lá vối, gạo rang,… làm nước uống hằng ngày.

    Nói đến đồ uống, không thể bỏ qua được trà Tàu. Đây cũng là búp những cây trà được người Tàu hái rồi phơi ủ chế cho thành một thứ trà ngon, khi pha ra thì có một mùi vị tuyệt vời.

    Qua nếp sống của ta, trong công việc giao tiếp chén nước trà dự phần rất nhiều. Về việc uống trà đã được người Trung Hoa nghiên cứu rất kỹ lưỡng từ xưa, và tạo ra những đồ ấm chén, lò siêu dành riêng để pha trà. Những đồ ấm chén này có từ thời nhà Tống đến nhà Minh và sang nhà Thanh. Chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, ta có lối uống trà của người Tàu rất hợp với mình, nhất là ở miền Bắc về mùa lạnh.

    Người sành uống trà biết phân biệt hương vị các thứ trà lại hiểu khí chất mỗi loại, loại nào phải pha chế thế nào uống mới đậm nước nồng hương, loại nào cần uống thật đặc, loại nào uống đặc vừa cho hợp. Ấm pha thế nào thì tốt, chén uống thế nào thì ngon, cho đến lò than và siêu nước cũng phải nấu thế nào cho mau. Đấy là những điều khó khăn của nghệ thuật pha trà. Người không nghiện và sành uống trà thì không sao hiểu được. Cần phải có nghiên cứu và biết tinh tường.

    Ở nước ta uống trà Tàu sành là một biểu tượng phong lưu. Nhiều người nghiện trà Tàu, hễ sáng không có một chén trà đậm thì không làm được gì cả. Có người nhịn ăn thì được nhưng không thể nào nhịn được trà.

    Trong các loài trà ướp hoa, chỉ có trà ướp hoa sen là chuộng hơn cả. Uống trà Tàu cầu kỳ ở chỗ pha trà, trái lại uống trà sen thì cầu kỳ lại chính là ở chỗ ướp trà với hoa sen. Trà sen ướp thì công phu cầu kỳ như vậy, nhưng đến lúc uống thì rất giản dị, không phức tạp như uống trà Tàu. Trà sen pha vào ấm nào cũng được và có thể uống bất kỳ chỗ nào, thời gian nào cũng đều có thể thưởng thức được ấm trà sen.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY PHƯƠNG Thức ăn – Uống

    Xưa nay bất cứ ở đâu dinh dưỡng vẫn là nguồn lương thực cần thiết để duy trì sự sống. Người ta không ai nhịn ăn, nhịn uống mà sống mãi được. Ta có câu “Dân dĩ thực vi tiên”, người dân lấy ăn làm đầu, và Tây Phương cũng nói ăn để mà sống. Người xưa thường nói: “ăn lấy no, uống lấy khỏi khát”. Ăn uống là điều cần thiết của con người.

    Dân Việt Nam ăn mỗi ngày ba bữa: bữa sáng hay còn gọi là bữa ăn điểm tâm, bữa trưa và bữa chiều. Người ở vùng quê, họ cho cả ba đều là bữa ăn chính; còn người dân sống ở thành thị, người thương gia, buôn bán chỉ ăn hai bữa chính, họ coi bữa sáng chỉ là bữa ăn phụ, bữa ăn lót dạ mà thôi. Vì không phải làm việc đồng áng, việc nặng nhọc vất vả do ảnh hưởng lối sống Tây Phương, người ta ăn bánh mì, sữa là những món ăn có thời Pháp thuộc cũng được người Việt dùng để ăn điểm tâm.

    Trong cách ăn, mâm cơm của người Việt Nam dọn ra bao giờ cũng có đồng thời nhiều món: cơm, canh, rau, dưa,… Với người nông dân ở vùng quê, bữa sáng người ta cũng ăn nhiều như hai bữa kia. Và người ta theo đúng câu tục ngữ “Ăn lấy chắc mặc lấy bền”, người ta phải ăn no, ăn những thức ăn no lâu để có thể chịu đựng được với công việc làm. Những người nhà nông thường họ rất ít ăn cháo, ăn xôi hay bánh trái gì mà người ta ăn cơm hoặc một thứ ngũ cốc hay hoa màu khác để thay cơm: ngô khoai, củ mì, củ sắn,…

    Bữa trưa: trong bữa này, gia đình quây quần bên mâm cơm, tạo nên cảnh gia đình đoàn tụ cùng với cơm nóng, canh nóng làm cho bữa ăn của cả nhà vui vẻ và ngon miệng. Bữa ăn thường là thịt, cá, dưa, xáo, rán hoặc nấu canh tuỳ theo từng gia đình. Một số gia đình dùng theo lối Tây, dùng cơm Tây, ăn bánh mì thay cơm, món này ta thường gặp trong các nhóm đi chơi, đi du lịch, tham quan,…

    Cũng giống bữa trưa, buổi chiều là bữa ăn chính của người Việt Nam. Từ thức ăn đến đồ ăn đều giống như bữa trưa, nghĩa là cơm, cá, thịt, rau,… Trong bữa ăn, người thành thị sống kiểu Tây Phương họ thường dọn, cá, thịt,…

    Người Việt Nam không những chịu ảnh hưởng về các món ăn của Tây mà ngay cả đồ uống cũng bị Tây hoá. Về đồ uống ngoài các loại mà người dân Việt Nam thường dùng thì ngày nay trong những bữa tiệc như tiệc cưới hỏi, sinh nhật, tiếp đãi khách,… thì có bia, nước ngọt,… nếu tiệc sang trọng hơn thì có các loại rượu Tây như Champapne, whisky, cognae,…

    Cách thức tổ chức tiệc

    Người dân Việt Nam thường tổ chức tiệc mừng, tiệc đãi khách tại nhà để tiện cho việc bếp núc, nhưng với những gia đình khá giả thì họ lại thích tổ chức tiệc tại nhà hàng vừa lịch sử vừa đỡ phải bận rộn với việc nấu nướng. Ngày nay ở các nơi thành thị các món ăn đã chịu ảnh hưởng ít nhiều của Tây Phương, họ ăn các món Tây và sắp xếp tổ chức bữa tiệc theo kiểu Tây. Vì thế mà các món ăn được dọn lên cho khách mời theo thực đơn từng món một để tiện việc ăn uống. Bên cạnh đó, một số nơi còn tổ chức tiệc đứng, thường họ dọn các món ăn và đồ uống ra cùng lúc để khách tự chọn và tự phục vụ các món ăn đồ uống theo sở thích.

    ***

    PHẦN VII: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ NGHỆ THUẬT

    Về lãnh vực nghệ thuật, chúng ta thấy, mặc dầu văn hóa và người Trung Hoa ngự trên đất nước Việt Nam hơn một ngàn năm qua nhiều thời kỳ nhưng hầu như không thấy để lại dấu ấn nào rõ nét từ âm nhạc – sân khấu – hội hoạ cho tới thời trang, điện ảnh,v.v… trong khi đó văn hóa phương Tây mới du nhập vào Việt Nam mấy thế kỷ gần đây nhưng thực sự đã ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam trên lãnh vực này khá rõ. Nó đã để lại những dấu ấn nghệ thuật ăn sâu vào trong đời sống của người Việt Nam mà nhiều khi ta không biết.

    Nghệ thuật hội hoạ điêu khắc

    Trong nghệ thuật hội hoạ – điêu khắc, văn hóa Việt Nam đã thực sự chịu ảnh hưởng và tiếp nhận từ nền hội hoạ – điêu khắc phương Tây rất nhiều như mang tính cách bút pháp tả thực và đã có những thể loại tranh sơn dầu, tranh bột màu có giá trị (Vd. Tranh sơn dầu và tranh bột màu xuất hiện ở phương Tây từ thế kỷ XV).

    Nghệ thuật sân khấu

    Với bút pháp tả thực của nghệ thuật phương Tây lại thêm tính phân biệt rõ ràng các thể loại bi, hài kịch cũng đã xuất hiện trên sân khấu Việt Nam với thể loại kịch nói và tác động đến sự ra đời của nghệ thuật cải lương.

    Vào những năm 20 cuối thể kỷ XX, Nam Bộ chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây sớm nhất nên đã hình thành nghệ thuật cải lương, một sản phẩm của việc cải cách sân khấu hát bội truyền thống. Trong sân khấu cải lương, ảnh hưởng của bút pháp tả thực phương Tây, hát được giảm bớt thay vào đó là nói được tăng lên; các điệu bộ ước lệ, biểu trưng được giảm bớt và thay vào đó là các động tác giống như thật ngoài đời; phong cảnh đạo được chú trọng hơn.

    Như vậy cải lương và kịch nói cũng là kết quả của sự ảnh hưởng và giao lưu văn hóa với phương Tây mà có đôi lúc người ta cứ tưởng như là văn hóa thuần tuý của mình.

    Nghệ thuật âm nhạc

    Song song với các nghệ thuật khác, đối với âm nhạc kể cả nhạc cụ của phương tây đã thực sự có chỗ đứng trong sinh hoạt đời sống văn hóa – xã hội Việt Nam. Nhất là những năm gần đây, âm nhạc và nhạc cụ phương Tây được công chúng Việt Nam đón nhận rất nồng nhiệt. Nó đã trở thành như một lĩnh vực sinh hoạt văn hóa trong đời sống cộng đồng. Đặc biệt, đối với giới trẻ thì âm nhạc phương Tây có thể nói được là một phần không thể thiếu đối với họ. Từ các thể loại như nhạc Jazz – Disco – Pop – Rock,… đều trở nên quen thuộc và phổ biến với giới trẻ Việt Nam. Các tác phẩm cổ điển của Môzart, Bethoven, Chopin,… cũng được người Việt Nam tiếp nhận cách trân trọng từ người thưởng thức cũng như người biểu diễn.

    Ở các nhạc viện, các phân khoa nhạc hiện đại và nhạc cổ điển phương Tây đã được đưa vào chương trình giảng dạy từ lâu.

    Âm nhạc ảnh hưởng của phương Tây hay còn gọi là tân nhạc phát sinh trong nền âm nhạc Việt Nam các thể loại mang tính phụng tự của Kitô giáo, nhạc ca khúc, nhạc sôlô, nhạc hoà tấu, nhạc kịch.

    Tất cả những loại nói trên là kết quả của sự ảnh hưởng từ phương Tây.

    Nghệ thuật điện ảnh

    Cùng với sự du nhập của các lãnh vực nghệ thuật khác, điện ảnh cũng sớm có mặt ở Việt Nam. Lãnh vực nghệ thuật này là hoàn toàn của phương Tây, Việt Nam không có. Nó được manh nha vào năm 1879 do một người Anh tên là Eadweard Muybridge và đến năm 1895 thì anh em nhà August và Luois Lurminer, người Pháp phát minh thành hệ thống chiếu và được đưa ra trình diện ở Paris. Nghệ thuật điện ảnh ra đời từ đấy, không biết nó vào Việt Nam từ khi nào nhưng rạp chiếu bóng đầu tiên ra đời ở Việt Nam là rạp Pathe – Hà Nội vào năm 1920. Đối với Sài Gòn xưa, buổi chiếu phim đầu tiên cũng là đầu tiên ở Việt Nam được tổ chức vào khoảng cuối tháng 9-1898 trước dinh Tổng đốc chợ Lớn (nay là đường Lê Quang Liêm). Đến ngày nay thì điện ảnh không còn xa lạ đối với người dân Việt Nam nữa. Điện ảnh được xem như món ăn tinh thần của mọi thành phần trong xã hội.

    Nghệ thuật nhiếp ảnh

    Nhiếp ảnh là hình nghệ thuật mà người Việt Nam được tiếp cận do sự du nhập từ văn hóa phương Tây. Nhiếp ảnh ra đời do Etiên Marrey, người Pháp, phát minh máy chụp ảnh vào lúc đầu chỉ là chụp ảnh thông thường nhưng dần dần phát triển thành ngành nghệ thuật nhiếp ảnh lan rộng khắp thế giới. Cũng giống như điện ảnh, nhiếp ảnh du nhập vào Việt Nam không rõ lúc nào nhưng hiện nay ở các thành phố, thành thị và các gia đình khá giả việc chụp ảnh trong các dịp lễ hội đã trở thành như một nhu cầu, nhất là đối với giới trẻ.

    Hiện Việt Nam đã có rất nhiều câu lạc bộ nhiếp ảnh và hội nhiếp ảnh chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp. Việt Nam đã có những nhiếp ảnh gia nổi tiếng.

    Thời trang

    Thuần tuý văn hóa Việt Nam, trang phục xưa cho tới thời Pháp thuộc, thường là áo tứ thân, yếm, guốc gỗ dành cho phụ nữ; khố, quần áo sớ, áo ngắn,… giày dành cho nam giới. Chất liệu của các trang phục nói trên thường là tơ tằm truyền thống và các chất liệu khác như đay, gai,… miễn làm sao càng bền càng tốt. Người Việt Nam xưa có một quan niệm về trang phục thật thiết thực “ăn lấy chắc, mặc lấy bền”. Nói vậy nhưng do khoa học và công nghệ phát triển cùng với sự hiện diện của văn hóa và con người phương Tây mà Việt Nam đã có nhiều sự đổi thay trong trang phục cách nhanh chóng.

    Từ khi phương Tây vào Việt Nam thì cùng lúc trang phục kiểu phương Tây và thời trang của họ cũng bắt đầu hiện diện ở Việt Nam và từ từ được người Việt Nam tiếp nhận càng ngày càng mạnh mẽ từ quần Tây áo Veston, quần Jean, Jupe, giày dép,v.v… Đây thực sự là một sự tiếp nhận trọn vẹn chứ không phải là ảnh hưởng. Còn sự ảnh hưởng văn hóa phương Tây và kết quả đầu tiên của nó là vào những năm 30 của thế kỷ XX này chiếc áo dài cổ truyền Việt Nam đã được cải tiến thành áo dài tân thời ngày nay. Đây là bước mở cho quá trình phát triển thời trang ở Việt Nam. Đến nay thời trang đã trơ thành ngành học ở các trường mỹ thuật. Trên phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình) có chương trình Thời Trang & Cuộc Sống. Ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh thường có biểu diễn thời trang.

    ***

    PHẦN VIII: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ CÁC NGÀY LỄ HỘI

    Do chịu ảnh hưởng và kế thừa nhiều nền văn hóa trong đó văn hóa Trung Hoa và phương Tây là chủ yếu, đã tạo cho Việt Nam một nền văn hóa với nhiều lễ tết khác nhau mang nhiều nội dung khác nhau. Ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu những ngày lễ tết khá nổi bật và phổ biến trong năm có nguồn gốc từ hai nền văn hóa lớn này.

    Sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa để lại cho văn hóa Việt Nam một số lễ hội đặc biệt như sau.

    Tết Nguyên Đán

    Ăn theo lịch âm, vào ngày mồng 1 tháng Giêng gọi là Tết; tết là do người Việt Nam đọc trại từ chứ Tiết. Theo lịch sử Trung Hoa thì lịch Âm có từ đời nhà Hà và lấy tên 12 chi đặt cho 12 tháng; tháng đầu là tháng Dần tức tháng Giêng được chọn làm tháng đầu năm và người ta ăn Tết vào ngày đầu của tháng Dần. Về sau nhà Ân thay đổi lấy tháng Sửu làm đầu năm, đến thời nhà Chu lại lấy tháng Tý nhưng đến thời nhà Tần lại lấy tháng Hợi và đến thời nhà Hán Vũ Đế lại đổi lại tháng Dần và được cố định từ đó đến nay.

    Như vậy Tết Nguyên Đán mà Việt Nam có bây giờ có nguồn gốc sâu xa từ Trung Hoa. Nó là kết quả sự ngự trị của văn hóa Trung Hoa trên đất nước Việt Nam suốt cả ngàn năm.

    Lễ Thượng Nguyên (rằm tháng Giêng)

    Theo Phật giáo, nguồn gốc của lễ Thượng Nguyên như sau: tất cả những ngày mồng Một và ngày Rằm mỗi tháng đều được coi là ngày của Phật. Trong những ngày mồng Một và ngày Rằm Phật tử tăng ny có bổn phận làm lễ cúng Phật, đi lễ chùa tụng kinh. Đúng ra người ta phải lấy ngày mồng Một tháng Giêng làm lễ Thượng Nguyên mới phải vì đây là ngày đầu năm nhưng ngày này trời về đêm lại quá tối nên mới trọn ngày Rằm tháng Giêng vì đây là Rằm đầu tiên. Phật tử đi lễ chùa tụng kinh niệm Phật như là kể lại các sự tích của Phật và chư vị Bồ Tát. Người Phật giáo tin rằng trong ngày rằm Đức Phật sẽ giáng lâm trước các chùa để chứng độ lòng thành của Tăng Ny Phật Tử. Tuy nhiên người Việt Nam thuần tuý thờ ông bà, tổ tiên vì yêu mến sự thiện cũng như ảnh hưởng và đã lấy ngày này để cúng tỏ lòng biết ơn ông bà tổ tiên đồng thời cũng để tỏ lòng biết ơn Đức Phật, Thổ Công,…

    Như vậy nguồn gốc của lễ Thượng Nguyên là từ đạo Phật tức là Trung Hoa đưa sang và người Việt Nam đã tiếp nhận rồi làm thay đổi từ từ cho đến ngày nay đã thành phổ biến đối với tất cả những ai theo đạo ông bà ở Việt Nam.

    Tết Đoan Ngọ (5-5 Âm lịch)

    Cũng như những ngày lễ khác, người Việt Nam đã bắt chước người Trung Hoa ăn Tết Đoan Ngọ từ thời rất xa xưa.

    Về sự tích tết Đoan Ngọ, thực ra ban đầu đây chỉ là ngày người dân làm lễ để đánh dấu một thời tiết mới, mừng sự trong sáng quang đãng của khí trời nhưng về sau để cho ngày này thêm phần ý nghĩa tín ngưỡng – tôn giáo, người ta kỷ niệm luôn ngày Khuất Nguyên tự vẫn. Về sau ngươi ta kỷ niệm luôn sự tích Lưu – Nguyễn, hai người đi hái lá thuốc lạc vào cõi thiên thai.

    Khuất Nguyên làm chức tả đồ nước Sở dưới triều Hoài Vương thời Thất Quốc bên Trung Hoa (307 – 246 TCN). Ông là người có tài, liêm chính hay ngăn cản nhà vua. Sau khi vua Hoài Vương qua đời Tương Vương lên ngôi và thường bị Khuất Nguyên can ngăn khi làm việc chẳng hay nên Tương Vương bắt Khuất Nguyên đi đày. Khuất Nguyên làm bài thơ Hoài Sơn rồi buộc đá vào mình nhảy xuống sông Mịt Loan tự tử khi đi qua đó, hôm đó nhằm ngày 5 tháng 5 âm lịch. Nghe tin đó vua rất ân hận thương tiếc cho Khuất Nguyên và làm cỗ đưa ra bờ sông cúng Khuất Nguyên. Cũng xong vua bỏ lễ xuống sông nhưng tôm cá ăn hết sau đó Khuất Nguyên hiện về nói nếu sau này còn cúng thì khi bỏ lễ xuống sông nhớ gọi lại lấy dây buộc chặt khỏi cá tôm ăn hết. Từ đấy về sau cứ ngày mồng 5 tháng 5 là dân chúng khắp nơi làm cỗ đưa ra các bờ sông để cúng Khuất Nguyên và đến ngày nay cũng thế. Theo sự tích này, ở Việt Nam ngày nay kỷ niệm hay làm giỗ Khuất Nguyên không phải là chủ yếu trong tết Đoan Ngọ. Dân Việt Nam sáng tạo ra nhiều tập tục phù hợp với những sự tích và rất thực tế như giết sâu bọ, hái thuốc vào giờ ngọ, tắm sông vào giờ ngọ… Đến ngày này học sinh đi tết thầy cô giáo, bệnh nhân đi tết thầy lang, con rể đi tết ông bà,… và có giỗ cúng gia tiên.

    Tết Đoan Ngọ đã đi vào cuộc sống của người Việt Nam từ xa xưa và nay có vẻ như càng ngày càng lớn mạnh hơn. Tuy nhiên cách thức ăn tết này lại rất khác nhau, nó hầu như tuỳ thuộc vào tín ngưỡng, tôn giáo, địa phương.

    Tết Trung Thu

    Tết Trung Thu còn được gọi là tết trông trăng và có khi lại gọi là tết trẻ con vì người ta thường sắm nhiều đồ chơi cho trẻ trong những ngày này.

    Tết Trung Thu có từ thời Đường Minh Hoàng; tích truyền rằng vào đêm rằm tháng Tám nằm mơ thấy đạo sỹ đưa lên cung trăng chơi nhà vua đăm mình trong cảnh đẹp thần tiên lộng lẫy. Tan giấc mộng, vua nuối tiếc cảnh trăng thu ở cung trăng bèn đặt ra tết Trung Thu để về sau vào ngày đó ngắm trăng, ngâm vịnh. Bắt đầu từ triều đình rồi phổ biến trong toàn dân và sau đó nó theo chân của những đạo quân sang xâm chiếm Việt Nam và trở thành một ngày Tết như của người Việt Nam vậy.

    Ngày nay, Tết Trung Thu càng ngày càng in đậm vào đời sống dân Việt Nam không phân biệt tôn giáo tín ngưỡng nào. Nó đã được biến đổi theo tính cách của người Việt Nam và rất gần gũi với mọi người dân.

    Trước hết là tết Dương lịch, ngày Tết này thuộc là tết cổ truyền của phương Tây. Nhưng do tính cách hội nhập toàn cầu và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của lịch tây mà Việt Nam cũng đã ăn Tết này theo phương Tây. Tuy nhiên người Việt Nam ăn tết này không lớn lắm, chỉ có ở học đường, công sở nhà nước và tầng lớp công nhân viên mới ăn tết này thôi vì họ được hưởng quyền lợi (nghỉ làm nhưng lại được hưởng lương trong ngày này).

    Sau tết Dương lịch là lễ Noel, song hành với sự du nhập của Kitô giáo lễ Noel đã được tổ chức ở Việt Nam từ những năm đầu khi các nhà truyền giáo có mặt. Nhưng trước đây lễ Noel mang duy nhất một tính chất tôn giáo dành riêng cho các Kitô hữu. Gần đây, khi Việt Nam giao lưu văn hóa, mở rộng quan hệ với phương Tây và tiếp nhận nền văn minh từ phương Tây vào thì lễ Noel, ngoài ý nghĩa tôn giáo, đã trở thành lễ hội cho cộng đồng nhất là đối với giới trẻ và dân thành thị.

    Ngoài hai lễ tết này ra còn có những ngày khác nữa mà những năm gần đây rất được nhiều người quan tâm như ngày 14 tháng 2; 8 tháng 3; 1 tháng 4; 1 tháng 5 ;…

    Tóm lại, hai nền văn hóa Đông – Tây, đã để lại những dấu ấn rõ nét trên lãnh vực lễ hội trong văn hóa Việt Nam và những dấu ấn này có lẽ chẳng bao giờ mất đi nhưng sẽ được phát triển mang tính chất Việt Nam hơn. Điều này còn phụ thuộc vào cách tiếp nhận của cộng đoàn.

    THAY LỜI KẾT

    Hoàng Thiên, OP.

    (catechesis)

    (Nguồn: lamhong.org)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Sydney Nên Đi Đâu? Những Địa Điểm Phải Đến Tại Xứ Sở Chuột Túi
  • Kinh Nghiệm Khi Đi Du Lịch Hà Nội Bạn Cần Biết
  • Văn Hóa Du Lịch
  • ​những Điều Cần Biết Khi Đi Du Lịch Hà Nội Theo Tháng
  • Bãi Tắm Du Lịch Tại Cát Bà
  • Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Phim Sakura Và Chuyến Du Lịch Hongkong (Movie) Phần 1 Full
  • Kỹ Năng Sale Tour Trong Du Lịch
  • Chia Sẻ Kỹ Năng Sale Tour Du Lịch Cho Bạn
  • Kỹ Năng Và Quy Trình Sale Tour Du Lịch Giúp Tăng Đơn Hàng
  • Sản Phẩm Du Lịch Là Gì? Thành Phần Cơ Bản Của Sản Phẩm Du Lịch
  • Việt Nam là cửa ngõ thông ra vùng Đông Nam Á. Việt Nam là một quốc gia có hàng ngàn năm văn hiến với bao danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá rộng khắp đất nước. Cha ông ta đã để lại trên nước non này biết bao thành quách, đền đài, chùa chiền, miếu mạo…, lớp nọ nối tiếp lớp kia. Cả đất nước là một bảo tàng lịch sử, văn hoá của 54 dân tộc cùng chung lưng đấu cật xây dựng nên đất nước này.

    Việt Nam, đất nước giầu tiềm năng du lịch. Ngày nay trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá kinh tế, chúng ta đang từng bước hội nhập với khu vực và thế giới trên nhiều lĩnh vực, trong đó du lịch với tư cách là một ngành công nghiệp xanh đóng vai trò hết sức quan trọng. Nó vừa là một ngành kinh tế mũi nhọn, vừa đảm đương chức nang thông tin, tuyên truyền, trong mối quan hệ giao lưu văn hoá.

    Để góp phần quảng bá nền văn hoá và tiềm năng du lich Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tấn cho ra mắt bạn đọc cuốn sách Việt Nam Văn hoá du lịch của soạn giả Trần Mạnh Thường. Với non một nghìn trang sách, từ nhiều nguồn tư liệu phong phú, soạn giả gới thiệu với bạn đọc một bức tranh toàn cảnh về nền văn hoá đa dạng và lâu đời của dân tộc Việt Nam từ địa lý, danh am thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá đến lễ hội, phong tục, tập quán…của 64 tỉnh thành trên cả nước. Hy vọng cuốn sách sẽ là một cẩm nang quý cho bạn đọc trong và ngoài nước muốn tìm hiểu về văn hoá và du lịch Việt Nam.

    Báo chí giới thiệu

    Việt Nam văn hóa & du lịch

    Quyển sách thực hiện rất công phu với gần 1.000 trang tư liệu và 96 trang hình ảnh giới thiệu toàn cảnh về Việt Nam Đất nước – Lịch sử – Con người. Có thể tìm thấy ở đây những hiểu biết bao quát về địa lý – lịch sử, trong đó ghi nhận những cột mốc đáng nhớ trong cả lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, từ những truyền thuyết đến thời đương đại.

    Cũng có thể thấy rõ chân dung của 54 dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ thời dựng nước đến nay, với ngôn ngữ, chữ viết, văn học, mỹ thuật, kiến trúc, nghề thủ công, âm nhạc truyền thống gồm cả âm nhạc dân gian và âm nhạc có tính chuyên nghiệp cao. Các mặt sinh hoạt văn hóa – tinh thần cũng được giới thiệu kỹ qua những lễ nghi tôn giáo, những phong tục tập quán lâu đời, cách ăn và cách mặc, cộng với những lễ hội để hợp lại thành diện mạo riêng của người Việt trong xã hội rộng lớn của loài người.

    Phần hai của tập sách dành giới thiệu chi tiết từng địa phương của 64 tỉnh thành trên cả nước. Đó là những danh lam thắng cảnh, những lễ hội hằng năm với những đặc trưng từng vùng miền bộc lộ sự phong phú trong đời sống của cộng đồng người Việt đa dạng nhưng hòa hợp và bổ sung cho nhau trong tiến trình giao thoa văn hóa và khẳng định bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, cũng như của cả dân tộc Việt Nam.

    Sách có ích không chỉ cho khách du lịch bên ngoài muốn tìm hiểu về Việt Nam mà còn có ích cho cả người Việt Nam khi muốn thưởng thức những tinh hoa của chính dân tộc mình.

    Sách do Trần Mạnh Thường biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính, NXB Thông Tấn và Công ty Văn hóa Hương Trang ấn hành, 2005.

    T.Đ (Thanh Nien 06/10/2005)

    Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch

    Quyển sách thực hiện rất công phu với gần 1.000 trang tư liệu và 96 trang hình ảnh giới thiệu toàn cảnh về Việt Nam Đất nước – Lịch sử – Con người. Có thể tìm thấy ở đây những hiểu biết bao quát về địa lý – lịch sử, trong đó ghi nhận những cột mốc đáng nhớ trong cả lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, từ những truyền thuyết đến thời đương đại.

    Cũng có thể thấy rõ chân dung của 54 dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ thời dựng nước đến nay, với ngôn ngữ, chữ viết, văn học, mỹ thuật, kiến trúc, nghề thủ công, âm nhạc truyền thống gồm cả âm nhạc dân gian và âm nhạc có tính chuyên nghiệp cao. Các mặt sinh hoạt văn hóa – tinh thần cũng được giới thiệu kỹ qua những lễ nghi tôn giáo, những phong tục tập quán lâu đời, cách ăn và cách mặc, cộng với những lễ hội để hợp lại thành diện mạo riêng của người Việt trong xã hội rộng lớn của loài người.

    Phần hai của tập sách dành giới thiệu chi tiết từng địa phương của 64 tỉnh thành trên cả nước. Đó là những danh lam thắng cảnh, những lễ hội hằng năm với những đặc trưng từng vùng miền bộc lộ sự phong phú trong đời sống của cộng đồng người Việt đa dạng nhưng hòa hợp và bổ sung cho nhau trong tiến trình giao thoa văn hóa và khẳng định bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, cũng như của cả dân tộc Việt Nam.

    Sách có ích không chỉ cho khách du lịch bên ngoài muốn tìm hiểu về Việt Nam mà còn có ích cho cả người Việt Nam khi muốn thưởng thức những tinh hoa của chính dân tộc mình.

    Sách do Trần Mạnh Thường biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính, NXB Thông Tấn và Công ty Văn hóa Hương Trang ấn hành, 2005.

    Theo Báo Thanh Niên 06/10/2005 T.Đ

    Không Phải Lỗi Của Con…

    Hạt Giống Tâm Hồn – Hạnh Phúc Không Khó Tìm (Tập 2)

    (Thứ Bảy, 17/03/2007)

    Xác định những điều thật sự quan trọng “Hạnh phúc là ý thức vươn tới những thành quả nói lên giá trị mà bản thân mỗi người muốn theo đuổi.”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cẩm Nang Hướng Dẫn Du Lịch Việt Nam Sách Online Uy Tín Giá Rẻ Hà Nội
  • Sách Hướng Dẫn Du Lịch Nhật Bản Đầu Tiên Dành Riêng Cho Người Việt Nam
  • Cuốn Sách Hướng Dẫn Du Lịch Nhật Bản Dành Cho Người Việt
  • Lào Đi Du Lịch Hướng Dẫn Miễn Phí Tải Về
  • Hàn Quốc Đi Du Lịch Hướng Dẫn Miễn Phí Tải Về
  • Việt Nam Học (Văn Hóa Du Lịch)

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngành Việt Nam Học (Hướng Dẫn Viên Du Lịch)
  • ¬ Ngành Việt Nam Học (Chuyên Ngành Văn Hóa Du Lịch)
  • Nghỉ Hè Nên Đi Du Lịch Ở Đâu
  • Mua Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch
  • 3N2Đ Ở Vinpearl Phú Quốc Ocean Resort & Villas + Vé Máy Bay + Buffet 6 Bữa + Vinpearl Land + Safari Chỉ 5.350.000 Đồng
  • Bậc đại học – Mã ngành: 7310630A

    Loại hình đào tạo: Chính quy.

    1. Giới thiệu tóm tắt về chương trình: Việt Nam học (Văn hóa Du lịch) đào tạo Việt Nam học theo hướng ứng dụng.

    3. Cơ hội tìm kiếm việc làm và phát triển nghề nghiệp

    Với hướng ứng dụng vàcách tiếp cận đa mục tiêu,sinh viên tốt nghiệp cử nhân Việt Nam học (Văn hóa Du lịch)hướng đến 2 vị trí việc làm cơ bản là cán bộ văn hóa và hướng dẫn viên du lịch. Các vị trí việc làm cụ thể:

    – Các trung tâm nghiên cứu và đào tạo Việt Nam học;

    – Các cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội về văn hoá, giáo dục như Ủy ban nhân dân, Sở, Phòng, Ban văn hóa; cán bộ văn xã ở xã/phường/thị trấn,…;

    – Các hoạt động hướng dẫn du lịch tại doanh nghiệp lữ hành, đại lý lữ hành, điểm tham quan du lịch.

    Tốt nghiệp chương trình đào tạo Việt Nam học theo hướng Văn hóa Du lịch, người học có đủ khả năng tiếp tục học tập và nghiên cứu chuyên môn ở trình độ thạc sĩ, tiến sĩ thuộc các chuyên ngành: Việt Nam học, Văn hóa học, Đông phương học…

    4. Điểm ưu trội của Chương trình đào tạo

    – Sinh viên ra trường có thể lựa chọn làm cán bộ văn hóa hoặc làm hướng dẫn viên du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh, sinh thái,…

    – Nhà trường có đầy đủ giảng viên cơ hữu tham gia đào tạo cả các modul kiến thức văn hóa lẫn kiến thức du lịch.

    5. Một số hình ảnh hoạt động của sinh viên Việt Nam học – Khoa KHXH & NV

    Sinh viên Văn hóa Du lịch đi điền dã học phần Hán Nôm ở chùa Linh Phước

    Sinh viên Văn hóa Du lịch đi Thực tế bộ môn ở Đà Lạt

    Sinh viên Văn hóa Du lịch tổ chức hoạt động thiện nguyện ở mái ấm tình thương Nha Trang

    Thực tập hướng dẫn viên du lịch

    TS. Trần Viết Thiện – Trưởng khoa, tập huấn về Văn hóa Du lịch

    cho nhân viên Champa Island Nha Trang

    Lưu ý:

    – Thí sinh có nhu cầu tìm hiểu thông tin cụ thể hơn liên hệ cô Bé – cán bộ tư vấn tuyển sinh của Khoa: 0982 828 909; Hoặc thầy Thiện – Trưởng khoa: 0982 053 058.

    Ban Tư vấn tuyển sinh Khoa KHXH&NV

    --- Bài cũ hơn ---

  • Canada Và Việt Nam Có Tiềm Năng Rất Lớn Để Hợp Tác Phát Triển Du Lịch
  • Việt Nam Có Mấy Vùng Kinh Tế Trọng Điểm?
  • Dịch Vụ Làm Visa Hà Lan Trọn Gói Tại Hà Nội Và Hồ Chí Minh
  • Hướng Dẫn Khai Tờ Khai Xin Visa Hungary
  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Triển Khai Công Tác Năm 2013
  • Đại Hội Thành Lập Hiệp Hội Du Lịch Golf Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệp Hội Du Lịch Golf Việt Nam Sẽ Được Thành Lập Trong Năm 2022
  • Top 5 Thiên Đường Du Lịch Gần Việt Nam Giá Rẻ
  • Khám Phá Ngay Các Thiên Đường Du Lịch Sát Vách Việt Nam
  • Top Thiên Đường Du Lịch Gần Việt Nam
  • Du Lịch An Giang Có Gì Vui?
  • Hiệp hội thành lập nhằm mục đích phát triển du lịch khai thác từ bộ môn golf thông qua các hoạt động như tổ chức các chương trình du lịch kết hợp với bộ môn golf, tổ chức giải đấu golf, hội thảo golf… trong nước và quốc tế nhằm tăng thu ngân sách và góp phần nâng cao vị thế của Du lịch Golf Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

    Phát biểu tại Đại hội, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Ngô Hoài Chung cho biết, du lịch golf được coi là ngành công nghiệp du lịch golf, một loại hình du lịch cao cấp đang có tốc độ phát triển rất nhanh và có sức thu hút lớn đối với những người có khả năng chi trả cao. Du lịch golf không chỉ cung cấp sản phẩm phong phú, hấp dẫn, kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch, mà còn mang lại nguồn thu lớn, tạo công ăn việc làm và các lợi ích kinh tế – xã hội. Do đó, du lịch golf dành được sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

    Hiện nay, Việt Nam có 32 sân golf đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế trong tổng số 60 sân golf được Thủ tướng Chính phủ quy hoạch đến năm 2022. Các sân golf Việt Nam hầu hết mới được xây dựng, thiết kế hiện đại, có vị trí tương đối gần nhau, có khả năng cạnh tranh với những sân golf tốt nhất của các nước láng giềng và rất hấp dẫn với khách du lịch golf vốn yêu thích chinh phục nhiều sân golf và trải nghiệm cảm giác khác nhau về môi trường, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên và văn hóa bản địa.

    Tuy vậy, phát triển du lịch golf Việt nam hiện nay vẫn ở giai đoạn ban đầu, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh. Hạn chế lớn nhất của du lịch golf Việt Nam là việc liên kết giữa các doanh nghiệp lữ hành với các sân golf còn lỏng lẻo nên các tour du lịch golf tỷ lệ thấp, du lịch golf hầu như chưa kết nối với các loại hình du lịch khác nhau như du lịch MICE, tàu biển, nghỉ dưỡng, Caravan… Hệ thống dịch vụ du lịch golf đang trong quá trình hoàn thiện, chưa tổ chức được nhiều giải đấu chuyên nghiệp và chưa liên kết với các sân golf trong khu vực nên giá trị sản phẩm chưa cao. Các sân golf chưa quan tâm đến công tác quảng bá, chủ động bắt tay với các doanh nghiệp lữ hành để sân có lượng khách dồi dào, tăng hiệu quả kinh doanh.

    Ban Thường trực:

    1. Ông Nguyễn Văn Linh – Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang – Chủ tịch

    2. Ông Chu Đức Tâm – Phó Tổng Giám đốc Công ty Noble – Dự án nhà ở và sân golf Vân Trì – Phó Chủ tịch Thường trực

    3. Ông Trịnh Ngọc Thành – Phó Tổng Giám đốc Vietnam Airlines – Phó Chủ tịch

    4. Ông Võ Anh Tài – Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn – Giám đốc Công ty TNHH MTV Dịch vụ Lữ hành Saigontourist – Phó Chủ tịch

    5. Ông Nguyễn Xuân Bình – Phó Giám đốc Sở Du lịch Đà Nẵng – Phó Chủ tịch

    6. Ông Vũ Đức Biên – Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần và Tiếp thị GTVT – Vietravel – Phó Chủ tịch

    7. Ông Nhữ Văn Hoan – Tổng Giám đốc FLC BISCOM – Phó Chủ tịch

    8. Ông Nguyễn Văn Thịnh – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Du lịch Phúc Gia – Tổng Thư ký

    Ban Kiểm tra:

    1. Ông Nguyễn Văn Hào – Thiếu tướng, nguyên Cục trưởng cục Bảo vệ chính trị 3 – Tổng Cục An Ninh – Trưởng ban

    2. Ông Nguyễn Minh Mạnh – nguyên P. Tổng Giám đốc Tổng Công ty Du lịch Hà Nội – Phó ban

    3. Ông Nguyễn Tiến Mạnh – Giám đốc Công ty TNHH TM Du lịch Hoàng Long – TP. Bắc Giang – Thành viên

    4. Ông Nguyễn Thế Sinh – Tổng Giám đốc Công ty CP Đầu tư & Du lịch ACT – Thành viên

    5. Bà Đỗ Thị Thu Hà – Giám ��ốc Công ty CP Đầu tư và phát triển Du lịch Hà Việt (Hà Việt Golf) – Thành viên

    PV

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Golf: ‘mỏ Vàng’ Mới Chờ Khám Phá
  • Hành Trình Khám Phá Miền Tây Của Đoàn Sinh Viên Ngành Hướng Dẫn Du Lịch Việt Giao
  • Vui Chơi “bao Đã”, Ăn Uống”thả Ga” Tại Làng Du Lịch Tre Việt Gần Ngay Sài Gòn Phố Thị
  • Giới Thiệu Viet Fun Travel
  • Công Ty Tnhh Du Lịch Việt Du
  • Mua Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • 3N2Đ Ở Vinpearl Phú Quốc Ocean Resort & Villas + Vé Máy Bay + Buffet 6 Bữa + Vinpearl Land + Safari Chỉ 5.350.000 Đồng
  • 9 Villa Biệt Thự Vip Phú Quốc Cho Thuê Du Lịch Ngắn Ngày
  • 10 Villa Phú Quốc Giá Rẻ Được Đánh Giá Tốt Nhất 2022
  • #44 Biệt Thự Villa Phú Quốc Đẹp Rẻ Gần Biển Nguyên Căn Có Hồ Bơi 2022
  • Top 20 Villa Phú Quốc Cho Thuê Nguyên Căn Giá Rẻ Với Chất Lượng Tốt
  • Giao hàng tận nơi trên toàn quốc

    Nhận hàng mới thanh toán

    Vận chuyển đơn giản

    Sản phẩm chất lượng cao

    Bán hàng trên toàn quốc

    Thanh toán khi nhận hàng

    Giới thiệu sản phẩm Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch – Trần Mạnh Thường

    Việt Nam là cửa ngõ thông ra vùng Đông Nam Á. Việt Nam là một quốc gia có hàng ngàn năm văn hiến với bao danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá rộng khắp đất nước. Cha ông ta đã để lại trên nước non này biết bao thành quách, đền đài, chùa chiền, miếu mạo…, lớp nọ nối tiếp lớp kia. Cả đất nước là một bảo tàng lịch sử, văn hoá của 54 dân tộc cùng chung lưng đấu cật xây dựng nên đất nước này. Việt Nam, đất nước giầu tiềm năng du lịch. Ngày nay trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá kinh tế, chúng ta đang từng bước hội nhập với khu vực và thế giới trên nhiều lĩnh vực, trong đó du lịch với tư cách là một ngành công nghiệp xanh đóng vai trò hết sức quan trọng. Nó vừa là một ngành kinh tế mũi nhọn, vừa đảm đương chức nang thông tin, tuyên truyền, trong mối quan hệ giao lưu văn hoá. Để góp phần quảng bá nền văn hoá và tiềm năng du lich Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tấn cho ra mắt bạn đọc cuốn sách Việt Nam Văn hoá du lịch của soạn giả Trần Mạnh Thường. Với non một nghìn trang sách, từ nhiều nguồn tư liệu phong phú, soạn giả gới thiệu với bạn đọc một bức tranh toàn cảnh về nền văn hoá đa dạng và lâu đời của dân tộc Việt Nam từ địa lý, danh am thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá đến lễ hội, phong tục, tập quán…của 64 tỉnh thành trên cả nước. Hy vọng cuốn sách sẽ là một cẩm nang quý cho bạn đọc trong và ngoài nước muốn tìm hiểu về văn hoá và du lịch Việt Nam.

    Thông tin sản phẩm Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch – Trần Mạnh Thường

    Mua hàng trực tuyến (mua hàng online) mang lại sự tiện lợi, lựa chọn đa dạng hơn và các dịch vụ tốt hơn cho người tiêu dùng, thế nhưng người tiêu dùng Việt Nam vẫn chưa tận hưởng được những tiện ích đó. Chính vì vậy Chúng tôi hợp tác với Giao Hàng Nhanh được triển khai với mong muốn trở thành trung tâm mua sắm trực tuyến số 1 tại Việt Nam nơi bạn có thể chọn lựa mọi thứ… Chúng tôi có tất cả!

    Phân phối bởi Giao hàng Nhanh – Bán hàng trên toàn quốc – Thanh toán khi nhận hàng – Đổi trả hàng miễn Phí

    Tag: Giấy Photocopy Hướng Hóa, Giấy Photocopy Tân An, Giấy Photocopy Bảo Yên, Giấy Photocopy Ngọc Lặc, Giấy Photocopy Cái Nước, Giấy Photocopy Phú Thiện, Giấy Photocopy Gò Công Tây, Giấy Photocopy Hiệp Hòa, Giấy Photocopy Kiến Tường, Giấy Photocopy Cai Lậy,

    *

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghỉ Hè Nên Đi Du Lịch Ở Đâu
  • ¬ Ngành Việt Nam Học (Chuyên Ngành Văn Hóa Du Lịch)
  • Ngành Việt Nam Học (Hướng Dẫn Viên Du Lịch)
  • Việt Nam Học (Văn Hóa Du Lịch)
  • Canada Và Việt Nam Có Tiềm Năng Rất Lớn Để Hợp Tác Phát Triển Du Lịch
  • Sách Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Sale Tour Là Gì? Những Kỹ Năng Cần Thiết Của Nhân Viên Sale Tour
  • Tuyển Dụng Nhân Viên Kinh Doanh (Sales) Du Lịch
  • Mô Tả Công Việc Và Mức Lương Nhân Viên Sale Tour Du Lịch
  • Sale Tour Là Gì? Kỹ Năng Sale Tour Trong Du Lịch
  • Cách Sale Tour Du Lịch Qua Điện Thoại Hiệu Quả
  • Việt Nam văn hóa & du lịch

    Quyển sách thực hiện rất công phu với gần 1.000 trang tư liệu và 96 trang hình ảnh giới thiệu toàn cảnh về Việt Nam Đất nước – Lịch sử – Con người. Có thể tìm thấy ở đây những hiểu biết bao quát về địa lý – lịch sử, trong đó ghi nhận những cột mốc đáng nhớ trong cả lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, từ những truyền thuyết đến thời đương đại.

    Cũng có thể thấy rõ chân dung của 54 dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ thời dựng nước đến nay, với ngôn ngữ, chữ viết, văn học, mỹ thuật, kiến trúc, nghề thủ công, âm nhạc truyền thống gồm cả âm nhạc dân gian và âm nhạc có tính chuyên nghiệp cao. Các mặt sinh hoạt văn hóa – tinh thần cũng được giới thiệu kỹ qua những lễ nghi tôn giáo, những phong tục tập quán lâu đời, cách ăn và cách mặc, cộng với những lễ hội để hợp lại thành diện mạo riêng của người Việt trong xã hội rộng lớn của loài người.

    Phần hai của tập sách dành giới thiệu chi tiết từng địa phương của 64 tỉnh thành trên cả nước. Đó là những danh lam thắng cảnh, những lễ hội hằng năm với những đặc trưng từng vùng miền bộc lộ sự phong phú trong đời sống của cộng đồng người Việt đa dạng nhưng hòa hợp và bổ sung cho nhau trong tiến trình giao thoa văn hóa và khẳng định bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, cũng như của cả dân tộc Việt Nam.

    Sách có ích không chỉ cho khách du lịch bên ngoài muốn tìm hiểu về Việt Nam mà còn có ích cho cả người Việt Nam khi muốn thưởng thức những tinh hoa của chính dân tộc mình.

    Sách do Trần Mạnh Thường biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính, NXB Thông Tấn và Công ty Văn hóa Hương Trang ấn hành, 2005.

    T.Đ (Thanh Nien 06/10/2005)

    Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch

    Quyển sách thực hiện rất công phu với gần 1.000 trang tư liệu và 96 trang hình ảnh giới thiệu toàn cảnh về Việt Nam Đất nước – Lịch sử – Con người. Có thể tìm thấy ở đây những hiểu biết bao quát về địa lý – lịch sử, trong đó ghi nhận những cột mốc đáng nhớ trong cả lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, từ những truyền thuyết đến thời đương đại.

    Cũng có thể thấy rõ chân dung của 54 dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ thời dựng nước đến nay, với ngôn ngữ, chữ viết, văn học, mỹ thuật, kiến trúc, nghề thủ công, âm nhạc truyền thống gồm cả âm nhạc dân gian và âm nhạc có tính chuyên nghiệp cao. Các mặt sinh hoạt văn hóa – tinh thần cũng được giới thiệu kỹ qua những lễ nghi tôn giáo, những phong tục tập quán lâu đời, cách ăn và cách mặc, cộng với những lễ hội để hợp lại thành diện mạo riêng của người Việt trong xã hội rộng lớn của loài người.

    Phần hai của tập sách dành giới thiệu chi tiết từng địa phương của 64 tỉnh thành trên cả nước. Đó là những danh lam thắng cảnh, những lễ hội hằng năm với những đặc trưng từng vùng miền bộc lộ sự phong phú trong đời sống của cộng đồng người Việt đa dạng nhưng hòa hợp và bổ sung cho nhau trong tiến trình giao thoa văn hóa và khẳng định bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, cũng như của cả dân tộc Việt Nam.

    Sách có ích không chỉ cho khách du lịch bên ngoài muốn tìm hiểu về Việt Nam mà còn có ích cho cả người Việt Nam khi muốn thưởng thức những tinh hoa của chính dân tộc mình.

    Sách do Trần Mạnh Thường biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính, NXB Thông Tấn và Công ty Văn hóa Hương Trang ấn hành, 2005.

    Theo Báo Thanh Niên 06/10/2005 T.Đ

    Không Phải Lỗi Của Con…

    Hạt Giống Tâm Hồn – Hạnh Phúc Không Khó Tìm (Tập 2)

    (Thứ Bảy, 17/03/2007)

    Xác định những điều thật sự quan trọng “Hạnh phúc là ý thức vươn tới những thành quả nói lên giá trị mà bản thân mỗi người muốn theo đuổi.”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Cuốn Sách Hay Về Du Lịch Đọc Xong Chỉ Muốn Xách Ba Lô Lên Và Đi
  • Sách Hướng Dẫn Du Lịch Lonely Planet
  • Đi Du Lịch Singapore Cần Chuẩn Bị Gì? Hướng Dẫn Chuẩn Bị Từ A
  • Singapore Đi Du Lịch Hướng Dẫn Miễn Phí Tải Về
  • Những Mẫu Câu Giao Tiếp Thông Dụng Khi Du Lịch Lào
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100