Top 7 # Xem Nhiều Nhất Khu Văn Hóa Du Lịch Không Gian Xưa Đà Nẵng Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Tuvanduhocsing.com

Không Gian Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai… Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên bao gồm các yếu tố bộ phận sau: cồng chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, Lễ cúng Bến nước…), những địa điểm tổ chức các lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, nhà gươl, rẫy, bến nước, nhà mồ, các khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên,…), v.v.

Hiện tại, ở các vùng có cồng chiêng như ở Tây nguyên, Lễ hội Cồng chiêng được tổ chức hàng năm là một hoạt động vừa có ý nghĩa bảo tồn bản sắc văn hóa vừa là một sản phẩm du lịch ăn khách.

Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen. Cồng là loại có núm, chiêng không núm. Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20cm đến 60cm, loại cực đại từ 90cm đến 120cm. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc.

Lễ hội tại buôn làng – Ảnh: sưu tầm

Cồng chiêng Tây Nguyên là loại nhạc cụ độc đáo, đặc sắc và đa dạng. Các dàn cồng chiêng Tây Nguyên lấy thang bồi âm tự nhiên làm cơ sở để thiết lập thang âm của riêng mình. Trong đó, mỗi biên chế của từng tộc người đều cấu tạo bởi thang 3 âm, 5 âm hay 6 âm cơ bản. Song, cồng chiêng vốn là nhạc cụ đa âm, bên cạnh âm cơ bản bao giờ cũng vang kèm một vài âm phụ khác. Thành thử trên thực tế, một dàn 6 chiêng sẽ cho ta tối thiểu 12 âm hay nhiều hơn nữa. Điều đó lý giải tại sao âm sắc cồng chiêng nghe thật đầy đặn và có chiều sâu.

Về nguồn gốc, theo một số nhà nghiên cứu, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá. Trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá… tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng… Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một buổi nghe khan… đều phải có tiếng cồng chiêng như là thứ để nối kết những con người trong cùng một cộng đồng.

Đốt lửa nhảy múa vui đêm hội – Ảnh: sưu tầm

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.

Ở phần lớn các tộc người, cồng chiêng là nhạc cụ dành riêng cho nam giới. Đó là trường hợp của các tộc người như Gia Rai, Ê Đê Kpah, Ba Na, Xơ Đăng, Brâu, Cơ Ho… Song, có những tộc người thì cả nam lẫn nữ đều có thể sử dụng, như Mạ, M’Nông. Riêng một số ít tộc người như Ê Đê Bih thì chỉ có nữ giới mới được chơi cồng chiêng.

Lễ hội tập trung rất đông người dân và du khách gần xa – Ảnh: sưu tầm

Cồng chiêng Tây Nguyên là Di sản văn hóa mang đậm dấu ấn thời gian và không gian. Từ chủng loại, phương pháp kích âm, biên chế và thang âm cho đến hệ thống bài bản và nghệ thuật diễn tấu, chúng ta sẽ bắt gặp những gì của một dải nghệ thuật đa diện từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ đơn tuyến đến đa tuyến… Trong đó bảo lưu cả những lớp cắt lịch sử của tiến trình phát triển âm nhạc từ thời kỳ sơ khai. ở đây, mọi giá trị nghệ thuật đều nằm trong mối quan hệ tương đồng và dị biệt, xác định cá tính vùng miền của nghệ thuật. Và, với sự phong phú, độc đáo và đa dạng từ toàn bộ đến từng phần, có thể khẳng định vị trí đặc biệt của cồng chiêng Tây Nguyên trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.

Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác. Từ việc chỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn, những người dân dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi điêu luyện tuyệt vời. Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tài sản vô giá. Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệ thuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn thiêng sông núi qua bao thế hệ. Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là “tiếng nói” của con người và của thần linh theo quan niệm “vạn vật hữu linh”.

Tiết mục của trẻ em địa phương cũng không kém phần hấp dẫn – Ảnh: sưu tầm

Ngày 25/11/2005, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới.

Tuy nhiên hiện nay có một vấn đề đang làm cho các nhà khoa học lo lắng đó là không gian và hồn thiêng trong tiếng cồng đang ngày một dần mất đi. Điều đáng quan tâm hiện nay là, ở lớp người trẻ tuổi, không những đơn giản hóa những quan niệm về chiêng cồng mà khả năng tiếp thu để diễn tấu các bài bản chiêng của họ cũng rất hạn chế. Trong cộng đồng Mạ, Cơho ở Lâm Đồng, nhiều nghệ nhân trẻ không thể nhớ hết nổi “36 điệu chiêng” của ông bà họ để lại. Cũng như vậy, ở cộng đồng Mnông tỉnh Đăk Lăk, vẫn có những người không thể phân biệt đâu là bài bản chiêng dùng trong lễ phát rẫy, lễ phơi rẫy, lễ xuống giống và đâu là bài bản chiêng trong lễ tạ ơn rìu rựa, lễ tắm lúa, lễ cúng bến nước…

Nguy hiểm hơn, xu thế mất dần tính thiêng của chiêng cồng Tây Nguyên còn được thể hiện ở chỗ: Ngày nay, nhiều người đã tỏ ra rất tùy tiện trong việc sử dụng các bộ chiêng thiêng và tùy tiện sử dụng các bài bản. Trong các buôn làng ngày xưa, cồng chiêng thường chỉ được sử dụng trong các lễ lớn của gia đình, dòng tộc hoặc buôn làng thì nay, cũng ngay trong cái không gian buôn làng ấy, việc “mua vui” cho “người ngoài” đã trở nên một hiện tượng không hiếm, nếu như không muốn nói là khá phổ biến.

Chương trình hành động quốc gia sau khi cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới sắp tới sẽ là một chương trình dài hơi và đòi hỏi cần được đầu tư nhiều về vật chất và đặc biệt là trí tuệ. Nhưng với thực trạng như hiện nay, việc triển khai chương trình sẽ rất nhiều khó khăn cần phải vượt qua.

ĐỊA CHỈ THƯỞNG THỨC KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN

Là một lễ hội được tổ chức hàng năm theo hình thức luân phiên tại các tỉnh có văn hoá cồng chiêng trong đó Đắk Lắk là một điểm quan trọng và hay được chọn nhất do vị trí trung tâm văn hoá, chính trị, xã hội của khu vực Tây nguyên nơi có nhiều cồng chiêng nhất ở Việt Nam.

Cồng chiên, vật linh thiêng không thể thiếu của người dân Tây Nguyên – Ảnh: sưu tầm

Trong lễ hội nghệ nhân của các tỉnh sẽ trình bày, biểu diễn không gian văn hoá của dân tộc và của tỉnh mình. Do mang đậm màu sắc du lịch nên nó thường được giới thiệu trong các chương trình du lịch của tỉnh Đắk Lắk.

Vị trí: Buôn Đôn thuộc xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, cách Tp. Buôn Ma Thuột 42km về phía tây bắc.

Hội đua voi thường được tổ chức hàng năm vào tháng 3 tại Buôn Đôn.

Đua voi đầy kịch tính và đòi hỏi kỹ năng cao – Ảnh: sưu tầm

Đến với lễ hội đua voi, du khách sẽ bị cuốn hút trong không khí tưng bừng của ngày hội, với âm vang cồng chiêng và tận mắt chứng kiến những màn trình diễn ngoạn mục bởi các chú voi của núi rừng Buôn Đôn.

Hội đua voi là sự kiện văn hóa lớn ở Tây Nguyên, tôn vinh tinh thần thượng võ của người M’Nông, những người dũng cảm, có truyền thống trong việc săn bắt và thuần dưỡng voi rừng.

Kéo dài chừng 2 đến 3 tháng, từ ngay đưa lúa vào kho đến ngày sấm ran đầu mùa. Đó là thời gian tạm dừng việc sản xuất để tham gia hội hè, thăm bạn bè… Buôn làng được sửa sang khang trang. Buôn, sóc nọ tiếp buôn sóc kia mở hội đâm trâu. Đâm trâu cúng thần làng, đâm trâu xin thần phù hộ cho từng sóc, đâm trâu nhân lễ bỏ mả để hồn trâu theo người đã khuất về thế giới bên kia.

Mùa xuân là mùa của lễ hội – Ảnh: sưu tầm

Du khách có dịp hòa mình với không khí của hội lễ, với những trò vui dân gian; được tham dự những điệu múa, lời ca quyện với tiếng cồng, chiêng hào hùng, của những cư dân nơi xứ núi.

Hội kéo dài từ tháng 10, 11 đến tháng giêng, tháng hai âm lịch.

Mytour.vn – Nguồn: tổng hợp

Du Lịch Phú Yên Khám Phá Không Gian Văn Hóa Đá

Du lịch Phú Yên khám phá không gian văn hóa đá

Du lich Phu Yen: Phú Yên vốn nổi tiếng với những cảnh đẹp hoang sơ tuyệt đẹp. Đến du lịch Phú Yên, du khách còn được trải nghiệm một không gian văn hóa đá độc đáo. Đá gắn liền với cuộc sống của người dân trong hầu hết các sinh hoạt thường ngày từ những ngôi nhà, những con đường, những chiếc cầu ao… cho đến những chuồng bò cũng xếp bằng đá.

Du lịch Phú Yên: Khám Phá Vịnh Vũng Rô

Du lich Phu Yen: nơi đâyvốn nổi tiếng với những cảnh đẹp hoang sơ tuyệt đẹp. Đến chương trình, du khách còn được trải nghiệm một không gian văn hóa đá độc đáo. Đá gắn liền với cuộc sống của người dân trong hầu hết các sinh hoạt thường ngày từ những ngôi nhà, những con đường, những chiếc cầu ao… cho đến những chuồng bò cũng xếp bằng đá.

Nếu có dịp đến tour du lich Phu Yen, thì bạn đừng bỏ qua cơ hội khám phá một không gian đá độc đá ở những ngôi làng ven biển từ Phú Hạnh, Phú Hội, Phú Lương và Phú Sơn thuộc xã An Ninh Đông (huyện Tuy An, Phú Yên). Từ lâu đá đã gắn liền với hầu hết mọi sinh hoạt của người dân nơi đây. Đá để làm nhà, làm đường, làm vật dụng gia đình rồi đá xây lên hệ thống mương nước, gờ ruộng, giếng đào… Thói quen xếp đá làm công trình kiến trúc của dân làng Phú Hội và nhiều làng lân cận đã có từ rất lâu, truyền từ đời này sang đời khác.

Không gian văn hóa đá nơi đây rất ấn tượng và mới lạ nhưng vẫn chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ và chưa có hướng bảo tồn và phát huy giá. Vì thế, nhiều du khách du lịch Phú Yên để tham quan gành Đá Đĩa nổi tiếng ở bờ biển An Ninh Đông nhưng lại gần như không biết gì về những không gian văn hóa đá này, trong lúc người dân đang dần chuyển sang các vật liệu khác thay thế đá.

Cùng ngắm những tuyệt tác từ đá của những người dân nơi đây, chắc chắn đó sẽ là ấn tượng sâu sắc cho những du khách đến du lich Phu Yen.

Nhà Đá độc đáo ở nơi này

Giếng đá

Đường Đá

Chuồng bò đá

Nho Quan: Xây Dựng Không Gian Văn Hóa Gắn Với Phát Triển Du Lịch

Đến nay, 8/8 xã có đông đồng bào DTTS sinh sống có Trung tâm văn hóa- thể thao xã; 100% thôn, bản của 8 xã có nhà văn hóa-khu thể thao thôn để phục vụ nhu cầu giải trí, các hoạt động văn hóa, thể thao và sinh hoạt cộng đồng của đồng bào. 7 CLB văn hóa, văn nghệ dân tộc Mường tại các xã đã được thành lập, tổ chức nhiều hoạt động duy trì thường xuyên trong cộng đồng.

Bà Bùi Thị Ân, thôn Bãi Cả, xã Cúc Phương, thành viên Ban Chủ nhiệm CLB “Hát giao duyên tiếng Mường xã Cúc Phương” chia sẻ, Câu lạc bộ hoạt động giúp loại hình này có “không gian sống”. Mỗi lần được biểu diễn trong những dịp lễ hội, các sự kiện văn hóa hay giao lưu với người Mường ở các tỉnh khác, chúng tôi luôn tự hào về văn hóa dân tộc mình và càng cảm thấy có trách nhiệm hơn trong việc bảo tồn, gìn giữ nét đẹp của hát giao duyên.

Từ năm 2017 đến nay, huyện đều đặn tổ chức Ngày hội Văn hóa, thể thao các dân tộc nhằm tạo sân chơi bổ ích, lành mạnh cho Nhân dân trong huyện. Các đặc sản núi rừng cũng được trưng bày để người dân và du khách hiểu hơn về đời sống sinh hoạt, sản xuất của đồng bào các dân tộc huyện Nho Quan.

Gắn văn hóa với phát triển du lịch

Nho Quan là huyện miền núi giàu tiềm năng, thế mạnh về phát triển du lịch, được thiên nhiên ban tặng cho nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Trong đó, các điểm du lịch tập trung chủ yếu ở các địa phương có nhiều đồng bào DTTS sinh sống như: Khu du lịch vườn quốc gia Cúc Phương, khu nghỉ dưỡng Cucphuong Resort&Villas (xã Cúc Phương); khu tắm ngâm nước khoáng nóng Cúc Phương (xã Kỳ Phú); khu du lịch sinh thái, văn hóa tâm linh và bảo tồn thiên nhiên hồ Yên Quang (xã Yên Quang)…

Nhận thức rõ về tiềm năng, nguồn lợi kinh tế mà ngành Du lịch mang lại, đồng bào Mường đã có tư duy khai thác những lợi thế của địa phương. Các loại hình nghệ thuật truyền thống của đồng bào dân tộc đã được đưa vào phục vụ ở các khu, điểm du lịch như: hát giao duyên tiếng Mường ở xã Cúc Phương, cồng chiêng ở xã Kỳ Phú, Phú Long… Những ẩm thực đặc trưng của người Mường như thịt lợn, ốc núi, thịt hươu, rượu men lá, cơm cháy…, cũng được đồng bào chế biến phục vụ du khách…

Đặc biệt du lịch phát triển đang góp phần bảo tồn và thúc đẩy giao lưu văn hóa, khôi phục và bảo tồn và tiêu thụ các sản phẩm thủ công của các làng nghề truyền thống, tăng cường bảo vệ môi trường đồng thời giới thiệu, quảng bá hình ảnh thiên nhiên và con người Nho Quan.

Theo báo cáo của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Nho Quan, năm 2018, Nho Quan đón gần 100 nghìn lượt khách du lịch, trong đó có 12.500 lượt khách quốc tế, tổng nguồn thu từ du lịch là 18 tỷ đồng. Đến nay, toàn huyện có 43 cơ sở lưu trú với 575 buồng nghỉ, trong đó có 05 khách sạn đạt từ 1-2 sao. Các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn từng bước được đầu tư nâng cấp về cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, nhân viên và đồng bào dân tộc đang kinh doanh hình thức homestay nên chất lượng dịch vụ ở các cơ sở lưu trú ngày càng được nâng lên.

Huyện cũng khuyến khích đồng bào dân tộc ở các xã mạnh dạn đầu tư làm du lịch, với các hình thức như: nhà nghỉ cuối tuần, homestay theo dạng nhà sàn, các kiốt du lịch để câu cá ở các tuyến hồ. Đồng thời, tư vấn, hỗ trợ cho bà con xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch gắn với bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững.

HỒNG PHÚC

Hà Nội Nỗ Lực Phục Hồi, Phát Triển Du Lịch Không Gian Văn Hóa Quận Hoàn Kiếm

Các bạn trẻ thích thú với không khí trên phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Ảnh: Thành Đạt/TTXVN

Đó là mục tiêu Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) đưa ra tại buổi tiếp xúc với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn nhằm thống nhất hành động phục hồi, thúc đẩy phát triển du lịch trong giai đoạn hiện nay. Chương trình được tổ chức sáng 15/7.

Ủy ban nhân dân quận và các doanh nghiệp du lịch đều xác định Hoàn Kiếm là trung tâm du lịch của Hà Nội. Hoàn Kiếm gắn liền với lịch sử, truyền thống văn hóa Thăng Long – Hà Nội với 190 di tích, trong đó có nhiều di tích tiêu biểu của Thủ đô và đất nước. Hiện nay, quận cũng đang phát triển các không gian sáng tạo văn hóa thành các sản phẩm du lịch, phát triển các khu vực mua sắm tại phố cổ Hà Nội.

Trong giai đoạn hiện tại, do dịch COVID-19, khi thị trường khách quốc tế chưa có dấu hiệu phục hồi, quận Hoàn Kiếm tập trung phát triển thị trường khách nội địa. Xác định mùa du lịch năm 2020 sẽ ngắn hơn, du khách quan tâm nhiều đến chi phí dịch vụ du lịch, do vậy, quận Hoàn Kiếm cùng các doanh nghiệp đang nỗ lực xây dựng, đưa vào khai thác các sản phẩm đặc thù, nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm.

Giám đốc Công ty Du lịch Hàng không Việt Nam (Avitour) Nguyễn Trung Quân cho rằng, không chỉ tạo ra sản phẩm mới, quận Hoàn Kiếm và các doanh nghiệp cũng cần làm mới sản phẩm hiện có, đồng thời liên kết với các địa phương khác tạo sản phẩm liên vùng. Ông cũng cho rằng, quận Hoàn Kiếm cần sớm đưa không gian đi bộ phía Nam phố cổ vào hoạt động, tạo thêm sản phẩm du lịch đêm và sản phẩm du lịch ẩm thực để khách có thêm cơ hội trải nghiệm du lịch Thủ đô.

Đại diện Công ty Cổ phần Du lịch Thắng cảnh Việt Nam cũng chia sẻ quan điểm, về lâu dài, quận Hoàn Kiếm cần tìm ra những biện pháp thu hút khách bên cạnh việc kêu gọi giảm giá sản phẩm. Trong thời gian qua, quận cũng nỗ lực xây dựng nhiều điểm nhấn thu hút khách nhưng sức hấp dẫn chưa cao, vì vậy lượng khách không đông. Điều cần thiết bây giờ phải xác định sản phẩm có trọng tâm, trọng điểm, không chỉ phục vụ khách nội địa hiện nay mà đón lượng khách quốc tế quay trở lại khi du lịch thế giới phục hồi.

Thời gian vừa qua, quận Hoàn Kiếm cũng kịp thời tham mưu, đề xuất thành phố cũng như triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp du lịch; triển khai kịp thời các gói hỗ trợ của Chính phủ, các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 theo chỉ đạo của Chính phủ và thành phố Hà Nội. Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm Nguyễn Anh Quân, quận cũng tập trung thực hiện các giải pháp phục hồi trước mắt và xây dựng những nhiệm vụ phát triển du lịch dài hạn.

Tại buổi tiếp xúc với doanh nghiệp du lịch, quận Hoàn Kiếm kêu gọi các doanh nghiệp cùng chung sức kích cầu du lịch, ký biên bản hợp tác kích cầu du lịch giữa Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm với Hiệp hội Du lịch Hà Nội, với các nhóm doanh nghiệp du lịch.