Phát Triển Kinh Tế Biển Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Biển, Đảo Việt Nam: Tiềm Năng Và Lợi Thế
  • Cho Thuê Du Thuyền Ở Bãi Biển Cửa Việt
  • Những Điểm Du Lịch Bãi Biển Nổi Tiếng Ở Việt Nam Bạn Nên Đến Một Lần
  • Danh Sách 10 Bãi Biển Đẹp Nhất Việt Nam Không Thể Bỏ Qua
  • Hướng Phát Triển Mới Cho Du Lịch Biển, Đảo Việt Nam
  • Cảng tàu khách du lịch quốc tế chuyên biệt Hạ Long tại Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh_Ảnh: TTXVN

    Tiềm năng phát triển kinh tế biển Việt Nam

    Về phát triển giao thông đường biển

    Nước ta có lợi thế về giao thông đường biển, khi gần các tuyến đường hàng hải quốc tế và khu vực. Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển ngành hàng hải, công nghiệp tàu thủy và logistics. Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa cho phép vận chuyển nhanh chóng, thuận lợi hàng hóa nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc, cũng như đi đến các nước trong khu vực và thế giới. Bờ biển dài và khúc khuỷu, với 114 cửa sông, khoảng 52 vịnh nước sâu ven bờ miền Trung (vũng, vịnh, đầm phá chiếm 60% chiều dài đường bờ biển), có hơn 100 vị trí có thể xây dựng các cảng biển lớn. Vùng biển Việt Nam nằm tại khu vực có tốc độ phát triển kinh tế cao và là cầu nối giữa nhiều cường quốc kinh tế và chính trị trên thế giới. Với vị trí thuận tiện cho giao thông và các vũng, vịnh kín có độ sâu lớn, rất thuận lợi làm cảng biển; không gian rộng lớn ở ven biển và trên bờ biển thuận lợi để phát triển các khu kinh tế.

    Về khai thác và chế biến khoáng sản

    Vùng biển Việt Nam chứa khoảng 35 loại hình khoáng sản với trữ lượng khai thác khác nhau từ nhỏ đến lớn, thuộc các nhóm: nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý và bán quý, khoáng sản lỏng. Đặc biệt, tiềm năng dầu khí phân bố trong 6 bồn trầm tích và hoạt động khai thác dầu khí được duy trì tại 11 mỏ ở thềm lục địa phía Nam. Thời gian qua, ngành dầu khí luôn giữ vai trò quan trọng trong kinh tế biển nói riêng và nền kinh tế của đất nước nói chung. Ngoài ra, ven biển nước ta đã phát hiện được các sa khoáng, khoáng vật nặng của các nguyên tố hiếm quý, như: titan, ziacon, xeri. Một số mỏ cát vật liệu xây dựng dưới đáy biển ở Quảng Ninh và Hải Phòng với trữ lượng trên 100 tỷ tấn và một dãy cát thạch anh ngầm dưới đáy biển Quảng Ninh (gần 9 tỷ tấn). Bên cạnh đó, tiềm năng tài nguyên nước biển cũng rất lớn, với các dạng năng lượng biển, như: băng cháy, năng lượng thủy triều, năng lượng sóng, năng lượng hạt nhân nước nặng từ nước biển.

    Về khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản

    Nguồn lợi hải sản trong vùng biển nước ta có độ phong phú cao. Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn có nhiều đặc sản khác có giá trị kinh tế, như: tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Chỉ tính riêng cá biển, có hơn 2.000 loài khác nhau đã được phát hiện, trong đó khoảng 100 loài có giá trị kinh tế; có 15 bãi cá lớn, phân bố chủ yếu ở vùng ven bờ. Theo các số liệu thống kê, trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hằng năm khoảng 2,3 triệu tấn. Dọc ven biển có trên 37 nghìn héc-ta mặt nước các loại có khả năng nuôi trồng thủy sản nước mặn – lợ, nhất là nuôi các loại đặc sản xuất khẩu, như: tôm, cua, rong câu… Ngoài ra, còn có hơn 50 nghìn héc-ta các eo vịnh nông và đầm phá ven bờ, như vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, phá Tam Giang, vịnh Vân Phong,… là môi trường rất thuận lợi để phát triển nuôi cá và đặc sản biển.

    Về phát triển du lịch biển

    Đường bờ biển dài trên 3.260km và hàng nghìn hòn đảo ven bờ đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam phát triển du lịch biển. Theo thống kê, dọc bờ biển Việt Nam có khoảng 125 bãi biển đẹp, trong đó, một số bãi biển và vịnh được đánh giá là những bãi biển và vịnh đẹp hàng đầu thế giới, như bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng), Phú Quốc (Kiên Giang), Eo Gió (Bình Định), vịnh Nha Trang, vịnh Lăng Cô, vịnh Hạ Long. Sự phong phú, đa dạng về tài nguyên tự nhiên và văn hóa đặc trưng vùng biển, đảo đã tạo ra những tiềm năng to lớn và lợi thế so sánh cho du lịch biển Việt Nam. Vùng biển Việt Nam lại nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiều khu vực ấm quanh năm, rất thuận lợi cho du khách từ nhiều quốc gia, đặc biệt từ các quốc gia có mùa đông lạnh tới nghỉ dưỡng, tắm biển. Những năm gần đây, ngành du lịch biển, hải đảo Việt Nam đang trên đà phát triển, thu hút ngày càng nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.

    Những thách thức trong phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện nay

    Một là, nhận thức chung về phát triển bền vững đất nước dựa vào tiềm năng biển, đảo còn chưa sâu sắc, chưa đầy đủ. Cùng với đó, nhận thức về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển của các cấp, các ngành, các địa phương ven biển và người dân chưa đầy đủ, quy mô kinh tế còn nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu các ngành nghề trong các lĩnh vực kinh tế biển chưa hợp lý, chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện để vươn ra vùng biển quốc tế. Mặt khác, việc đầu tư xây dựng các khu kinh tế ven biển còn tràn lan, thiếu trọng tâm, trọng điểm. Vẫn còn nặng tư duy khai thác tự phát, chưa thực sự coi biển là ngôi nhà chung, do vậy sống nhờ biển hơn là dựa vào biển mà giàu lên, khai thác chưa thực sự gắn liền với bảo tồn, phát triển.

    Hai là, kết cấu hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu, manh mún, thiết bị chưa đồng bộ, nên hiệu quả sử dụng thấp, kém bền vững. Các cảng biển, các khu kinh tế, sân bay ven biển còn nhỏ bé, chưa hình thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn… Hiện nay, hầu như tỉnh nào ở ven biển cũng quy hoạch cảng biển, nhưng không đủ kinh phí xây dựng, nên nhiều công trình dang dở; một số địa phương xây dựng cảng nhưng không thể khai thác, sử dụng, vì tính toán không hợp lý, gây lãng phí, kém hiệu quả.

    Ba là, các phương tiện, thiết bị nghiên cứu khoa học biển và hệ thống các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển chưa được đầu tư xứng đáng; các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo biển, thiên tai biển, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn,… ở ven biển còn nhỏ bé, trang bị thô sơ. Các phương thức quản lý biển mới, tiên tiến còn chậm được nghiên cứu áp dụng, như: quản lý tổng hợp dải ven biển, quản lý không gian biển, quy hoạch sử dụng biển chưa chú ý nghiên cứu ứng dụng công nghệ biển tiên tiến trong khai thác tài nguyên biển.

    Bốn là, tình hình khai thác, sử dụng biển và hải đảo chưa đạt hiệu quả cao, thiếu bền vững do khai thác tự phát, không tuân thủ quy hoạch biển đảo. Phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn theo hình thức sản xuất và đầu tư nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu, chủ yếu là ưu tiên khai thác tài nguyên biển ở dạng vật chất, không tái tạo; chú trọng nhiều đến sản lượng, số lượng, ít chú ý đến chất lượng và lợi ích lâu dài của các dạng tài nguyên. Ngoài ra, công tác quản lý, giám sát việc khai thác nguồn lợi biển còn nhiều yếu kém. Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào tiến trình quản lý còn rất thụ động, chưa làm rõ vấn đề sở hữu, sử dụng đất ven biển và mặt nước biển cho người dân vùng ven biển.

    Sáu là, môi trường biển bị ô nhiễm và biến đổi theo chiều hướng xấu. Ngày càng có nhiều chất thải chưa qua xử lý từ các lưu vực sông và vùng ven biển được đổ ra biển, một số khu vực ven bờ bị ô nhiễm, hiện tượng thủy triều đỏ xuất hiện ngày càng nhiều với quy mô rộng. Ngoài ra, Việt Nam cũng đang chịu tác động nặng nề của tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển dâng, trước hết là vùng ven biển và các đảo nhỏ. Đặc biệt, việc Trung Quốc mở rộng, tôn tạo trái phép các bãi rạn san hô ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam thành đảo nhân tạo…, khiến cho môi trường rạn san hô ở đây bị phá hủy vĩnh viễn, nguồn lợi thủy sản suy thoái đến mức khó có thể phục hồi và nghề cá khu vực có nguy cơ đổ vỡ.

    Một số giải pháp phát triển kinh tế biển Việt Nam theo hướng bền vững

    Trước hết, cần xây dựng một quy hoạch sử dụng biển cho toàn quốc mang tính tổng hợp với phương thức tiếp cận sinh thái. Đồng thời, xây dựng và triển khai thực hiện nền kinh tế biển xanh bằng việc bảo đảm tối ưu hóa các lợi ích. Tăng cường tính liên ngành trong phát triển và quản lý kinh tế biển vì lợi ích chung và lâu dài qua các công cụ chính sách, quy hoạch lồng ghép. Phối hợp thành lập và quản lý các khu bảo tồn ven biển và hải đảo để bảo toàn chức năng sinh thái của vùng biển và nguồn vốn tự nhiên biển cho phát triển biển bền vững.

    Thứ hai, nâng cao nhận thức về kinh tế biển bền vững, giảm thiểu các hành vi gây hại đối với môi trường và tài nguyên biển, cũng như cách ứng xử, đối phó với thiên tai, kiểm soát tốt nguồn thải, làm sạch bãi biển, bảo tồn hệ sinh thái biển nhằm tạo ra môi trường sống phù hợp, đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại và tương lai. Cùng với đó, tạo sinh kế, phúc lợi cho người dân từ biển; khuyến khích, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tham gia phát triển các ngành kinh tế biển như du lịch sinh thái, thám hiểm – khoa học, du lịch cộng đồng, gắn với nâng cao trách nhiệm của mọi tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và mỗi người dân trong phát triển bền vững biển Việt Nam.

    Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao. Bên cạnh việc chú trọng đầu tư phát triển đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia chất lượng cao, cần ưu tiên đầu tư cho công tác đào tạo, đào tạo lại nghề cho người dân, bảo đảm nhu cầu lao động của các ngành kinh tế biển. Đồng thời, phát triển khoa học và công nghệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tận dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tăng cường điều tra cơ bản biển, đẩy mạnh nghiên cứu, xác lập luận cứ khoa học cho việc hoạch định, hoàn thiện chính sách, pháp luật; ưu tiên đầu tư đánh giá tiềm năng và lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, hệ sinh thái và các ngành, lĩnh vực kinh tế, như: hàng hải, chế biến hải sản, nuôi trồng thủy, hải sản, năng lượng tái tạo, thông tin và công nghệ số biển, nano biển, sinh dược học biển,…

    Thứ tư, tôn trọng các yếu tố đặc thù, các giá trị cốt lõi trong vùng và từng địa phương, bảo đảm tốt liên kết vùng trong phát triển “chuỗi” khu kinh tế biển đảo, chuỗi đô thị ven biển và chuỗi đô thị đảo. Mỗi địa phương cần tìm ra nét đặc thù, tạo lợi thế cạnh tranh riêng biệt để khai thác, phát triển tiềm năng du lịch từ biển hoặc liên kết giữa các địa phương để tạo thành chuỗi du lịch biển nhằm khai thác lợi thế chung. Tăng cường đầu tư vào giá trị tự nhiên, bảo tồn và phát triển giá trị đa dạng sinh học thông qua mở rộng diện tích và lập mới các khu vực bảo tồn biển; phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên, nhất là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển.

    Thứ năm, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai từ biển, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, ngập lụt, xâm nhập mặn do triều cường, nước biển dâng cho các vùng duyên hải. Đồng thời, phải tiến hành cơ cấu lại các ngành kinh tế biển và ven biển dựa trên hệ sinh thái và phù hợp với lợi thế, tiềm năng tự nhiên. Trong đó, cần ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực như du lịch biển, đảo, năng lượng tái tạo (năng lượng gió, năng lượng dòng chảy thủy triều và năng lượng sóng biển), từng bước đầu tư phát triển công nghệ sinh học biển, dược liệu biển, bên cạnh việc thúc đẩy các ngành kinh tế biển truyền thống, như kinh tế hàng hải, khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản, nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản, hạ tầng nghề cá, công nghiệp đóng tàu,…

    Thứ sáu, chú trọng tính tổng thể, toàn diện; phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện tự_ nhiên, vị trí địa lý, bảo đảm tính kết nối giữa các địa phương ven biển với nhau, cũng như với các địa phương trong nội địa, qua đó tăng cường sự gắn kết, tạo thành chuỗi kết nối khép kín, nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa, sức cạnh tranh cho các ngành, địa phương và các vùng trong cả nước. Mặt khác, cần đẩy mạnh công tác quản lý biển theo cách tiếp cận tổng hợp nhằm giảm thiểu tác động từ hoạt động của các ngành kinh tế khác đến môi trường và tài nguyên biển./.

    Theo THS. HOÀNG VĂN KHẢI/Tạp chí Cộng sản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Địa Điểm Du Lịch Tâm Linh Nổi Tiếng Ở Miền Bắc
  • Những Địa Điểm Du Lịch Mùa Đông Ở Miền Bắc Hot Nhất 2022
  • Bảng Giá Phòng New Resort Đồng Châu Thái Bình 3 Sao
  • Vé Máy Bay Đường Nguyễn Thái Bình Quận 1
  • Tour Bình Ba 2 Ngày 2 Đêm
  • Hiệu Quả Phát Triển Kinh Tế Du Lịch Biển Đảo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Máy Ảnh Compact Chụp Thiếu Sáng Tốt
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Kỳ Co Quy Nhơn 2022
  • Cẩm Nang Du Lịch Perth, Australia Đầy Đủ Nhất
  • Review Kinh Nghiệm Du Lịch Nha Trang Đà Lạt Tự Túc 5 Ngày 4 Đêm
  • Chia Sẻ Những Bí Kíp Du Lịch Đà Lạt Tháng 8 Năm [2020]
  • Hoàng hôn trên biển Bãi Dài Phú Quốc (Ảnh: Pinterest)

    Với sự ra đời và đi vào thực hiện của Nghị định số 09-NQ/TW về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022”, kinh tế biển tại nhiều vùng đã có những bước phát triển toàn diện, tiêu biểu trong đó phải kể đến đảo ngọc Phú Quốc. Sự bùng nổ của kinh tế du lịch đã giúp nơi đây trở thành huyện “giàu nhất” tỉnh Kiên Giang và là điểm sáng của cả nước về phát triển kinh tế biển xanh, tận dụng được triệt để lợi thế của du lịch biển đảo.

    Bên cạnh đó, theo các số liệu thống kê của tổng cục du lịch thì với lượng khách tăng nhiều trong những năm qua và chiếm tới 70% tổng khách du lịch cả nước, du lịch biển đảo đã và đang là hình thức du lịch chủ đạo, góp phần quan trọng đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam.

    Nếu đến đảo Ngọc cách đây vài ba năm, ta chỉ thấy một hòn đảo đìu hiu, thưa vắng khách thì giờ đây khi nói đến đảo Ngọc người ta nhớ đến một vùng biển mộng mơ, trong xanh và đầy nên thơ. Để tạo nên cú chuyển mình đầy ngoạn mục đó là nhờ sự lớn mạnh không ngừng của du lịch biển đảo.

    Các hệ thống nghỉ dưỡng “mọc” lên san sát khắp vùng đảo Ngọc. Từ chỗ chỉ có những làng chài xơ xác bên bãi biển, ngày nay Phú Quốc đã bước sang đẳng cấp khác khi sở hữu hàng loạt dự án tầm cỡ. Nhiều khu nghỉ dưỡng cao cấp, khu vui chơi giải trí lớn đã được đầu tư xây dựng nhằm phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước như Vinpeal, Safari…

    Sự bứt phá mạnh mẽ nhất của huyện đảo Phú Quốc trong những năm qua là đầu tư khai thác tiềm năng du lịch vùng ven biển và hải đảo. Trong đó, nhiều dự án và công trình quan trọng đã được đầu tư hoàn thành và đưa vào sử dụng như: Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc, hệ thống giao thông, cấp điện, cấp nước. Kết cấu hạ tầng vùng ven biển, hải đảo cũng được quan tâm đầu tư, như các công trình giao thông, thủy lợi, hệ thống cảng biển, trường học, trạm y tế và các dự án phát triển du lịch mang tầm quốc tế.

    Nhờ sự đầu tư quy mô này mà lượng khách du lịch đổ về Phú Quốc ngày càng đông, đặc biệt là khách quốc tế. Năm 2022 số lượng khách ngoại tăng 68,4% so với năm 2022.

    Cũng như Phú Quốc, chỉ vài năm trước khu vực ven biển Nhơn Lý – Eo gió chỉ là những đồi cát hoang, trập trùng nắng gió, còn Quy Nhơn chỉ là điểm trung chuyển để du khách dừng chân tạm thời trước khi đến với những địa danh nổi tiếng hơn. Bình Định có thể coi là một địa danh “lạ” trên bản đồ Việt Nam.

    Eo Gió (Quy Nhơn) (Nguồn: www.24h.com.vn)

    Và sau một vài năm với sự phát triển của kinh tế vùng miền, những dấu hiệu đổi thay đã bắt đầu xuất hiện. Những cồn cát trắng đẹp hơn nhờ sắc xanh của cỏ cây, hoa lá rồi lần lượt là sự ra đời của các khách sạn, sân golf, hồ bơi… Những khu nghỉ dưỡng cao cấp, những khách sạn mọc lên nhanh chóng đã đem lại sức sống mới cho một vùng biển quanh năm chỉ thấy nắng, gió và cát bụi.

    Nhờ những thước phim điện ảnh đặc sắc đã tô đậm thêm nét đẹp của Quy Nhơn, biến nơi đây trở thành một địa danh hấp dẫn nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Theo đó, cuộc sông của người dân vùng biển cũng ngày càng được cải thiện, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh nhà. Năm 2022, tỉnh Bình Định đã đón hơn 4 triệu lượt khách, đạt doanh thu 3.301 tỷ đồng, tăng 54,7% so với năm 2022, vượt chỉ tiêu đề ra 35,8%.

    Nhờ sự phát triển của ngành du lịch đã tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong tỉnh.

    Sự thành công của Phú Quốc, Quy Nhơn đã đánh thức nhiều vùng biển khác như Phú Yên, Hà Tĩnh…tạo đà phát triển cho các vùng miền này.

    Có thể nói du lịch biển đảo đã, đang và sẽ trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam.

    Việt Nam có lợi thế của một nước có vùng biển dài và rộng trên thế giới, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền, có bờ biển dài 3.260 km.

    Với nguồn tài nguyên thiên nhiên tiềm năng đó, theo Samthienha.com Nguyễn Minh Hòa, Giám đốc Diễn đàn phát triển đô thị bền vững châu Á tại Việt Nam, Ủy viên hội đồng Quy hoạch – Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh, trong những năm gần đây, Việt Nam đã dành nhiều sự quan tâm hơn cho biển với các chiến lược phát triển kinh tế biển, phát triển dải đô thị biển và dự án nối liền mạch tuyến đường bộ ven biển chạy qua 28 tỉnh thành bắt đầu từ Quảng Ninh đến Kiên Giang với tổng chiều dài 3.041km được khởi động.

    Khi nhận thức về tiềm năng du lịch biển đảo đầy hứa hẹn ngày càng rõ ràng hơn, Đảng, nhà nước cùng nhân dân ta trong những năm gần đây đã đẩy mạnh phát triển và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, du lịch, đặc biệt là hệ thống cơ sở lưu trú ven biển.

    Hiện nay, khu vực ven biển đã có hơn 1.400 cơ sở lưu trú cung ứng với gần 50.000 buồng. Nhờ sự đầu tư mạnh về cơ sở vật chất cùng sự ra đời của hàng loạt các dịch vụ giải trí, du lịch biển đã thu hút hàng triệu lượt khách đến tham quan và nghĩ dưỡng mỗi năm.

    Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, trong giai đoạn 2000-2010, tỷ trọng khách quốc tế đến Việt Nam du lịch tại các địa phương giáp biển là 75,3%, hay tính trung bình trên 75% khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chọn du lịch biển đảo. Đối với khách du lịch trong nước, tỷ trọng này khiêm tốn hơn song cũng chiếm 54,5% tổng lượng khách du lịch trong nước.

    Đặc biệt, kể từ năm 2000, ngành du lịch Việt Nam có sự tăng trưởng khá trong cả doanh thu và số lượt khách du lịch, đóng góp một vị thế quan trọng vào sự phát triển này là nhờ du lịch biển.

    Theo các số liệu thống kê, năm 2022, ngành du lịch đã đón khoảng 15,6 triệu khách quốc tế đến, phục vụ trên 80 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch đạt 620.000 tỷ đồng. Theo thống kê, trung bình trên 75% khách quốc tế chọn du lịch biển đảo và 28 tỉnh, thành phố có địa lý giáp biển, đóng góp tới 71,5% tổng doanh thu du lịch lữ hành của cả nước.

    Top 20% các địa phương dẫn đầu chiếm tỷ trọng 75,8% tổng doanh thu du lịch lữ hành và trong top này tỷ lệ các địa phương giáp biển đã chiếm đến gần 82%.

    Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) Việt Nam xếp thứ 6/10 nước có tăng trưởng du lịch mạnh nhất thế giới đầu năm 2022 và đứng đầu châu Á về tốc độ phát triển du lịch.

    Những thành quả này có được là nhờ sự vào cuộc quyết liệt của tất cả các cấp nhằm thúc đẩy du lịch phát triển trên lộ trình trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cẩm Nang Du Lịch Bắc Kinh Hữu Ích Nhất
  • Cẩm Nang Du Lịch Bắc Kinh
  • Du Lịch An Giang Tiềm Năng Và Định Hướng
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Rừng U Minh Thượng Chi Phí 2022
  • Ước Tính Chi Phí Cho 1 Chuyến Du Lịch Hàn Quốc
  • Nền Kinh Tế Du Lịch Việt Nam – Văn Hóa Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Số Đóng Vai Trò Quan Trọng Trong Phát Triển Du Lịch
  • Nét Văn Hóa Độc Đáo Của Ngư Dân Vùng Ven Gò Công
  • Tour Cần Giờ Vàm Sát 1 Ngày Giá Rẻ 750.000Đ
  • Tây Bắc, Du Lich Tay Bac
  • Tour Quan Lạn 2 Ngày 1 Đêm Du Lịch Từ Hà Nội Tốt Nhất 2022
  • Nền kinh tế du lịch Việt Nam hiện nay đang chịu khá nhiều ảnh hưởng nặng nề từ bão lũ, và dịch bệnh. Trước tình hình hiện nay thì nước ta đang có dấu hiệu hồi phục và phát triển trở lại sau những biến cố

    1. Kinh tế du lịch – chìa khóa phát triển nền kinh tế rộng mở

       1. Ngành kinh tế du lịch là gì?

    Kinh tế du lịch – chìa khóa phát triển nền kinh tế rộng mở

    Ngành kinh tế du lịch trong những năm mới đây đang ngày càng phát triển bởi những tiềm năng được khai thác triệt để và có đạt kết quả tốt. Kinh tế du lịch được rất nhiều các những người có chuyên môn kinh tế đưa rõ ra khái niệm nhưng có một định nghĩa khá rõ ràng về ngành kinh tế du lịch.

    Kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tình đặc thù riêng biệt của dịch vụ và được xem là ngành công nghiệp không khói. DDây là ngành kinh tế có vai trò khai thác các tài nguyên sẵn có của thiên nhiên nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước tới tham quan.

    Ngành kinh tế du lịch bao gồm 2 loại:

    • Du lịch trong nước: Là loại hình tổ chức và khai thác các địa điểm thăm quan, du lịch dành cho khách du lịch nội địa hoặc những khách du lịch tới thăm quan tại đất nước đó.

    • Du lịch quốc tế: Là loại hình du lịch mà khách du lịch của quốc gia nội tại có nhu cầu và thực hiện tham quan du lịch tại các đất nước khác.

       2. Đặc điểm của ngành kinh tế du lịch – nền kinh tế du lịch Việt Nam

    Đặc điểm của ngành kinh tế du lịch có những đặc điểm du lịch sau:

    • Tính tổng hợp, liên ngành: ngành kinh tế du lịch hay bất kỳ một ngành nào thuộc cơ cấu nền kinh tế của một đất nước đều có mối liên hệ khắn khít và không thể tách rời khỏi nhau. Ngành kinh tế du lịch cần phải mang tính tổng hợp và gắn kết với các lĩnh vực khác như giao thông, nông nghiệp, công nghiệp, tài nguyên và môi trường, văn hóa hay thể thao,…

    • Tính xã hội hóa: Ngành kinh tế du lịch có đặc điểm xã hội hóa,

      có nghĩa là

       có sức 

      thu hút

       mọi thành phần chủ thể kinh tế xã hội tham gia (bao gồm cả những chủ thể 

      nội địa

       và chủ thể nước ngoài, tức là 

      du khách

       nước ngoài).

    • Tính xanh và sạch: Toàn cầu đang hướng đến sự toàn cầu hóa tuy nhiên đồng thời vẫn phải đưa ra những biện pháp chống thế giới hóa, nhất định là bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp. Với đặc trưng là ngành công nghiệp không khói, ngành kinh tế du lịch cần phải giữ vững được cái tên như vậy sao cho đúng với thực tế nhất có thể.

    • Tính ích lợi và hiệu quả kinh tế cao: Ở đây, chúng tôi muốn nói tới chính là ngành công nghiệp gà đẻ trứng vàng, đấy chính là tính lợi ích và đạt kết quả tốt kinh tế mà ngành kinh tế du lịch đem lại cho nền kinh tế, đóng góp vào ngân sách và cấp độ tăng trưởng GDP của một đất nước.

       3.

    Vai trò

     của ngành kinh tế du lịch

    Ngành kinh tế du lịch được xem là chìa khóa đẩy mạnh nền kinh tế phát triển phong phú hóa, đa phương hóa tại đất nước nước ta. nhất định, ngành kinh tế du lịch có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế ở một vài khía cạnh sau:

    • Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tốc độ tăng trưởng

    • Ngân sách nhà nước
    • Tổng 

      vốn đầu tư

    • Công nghệ 

      tối tân

    • Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
    • Nền văn hóa phong phú

    2. Du lịch

    đất nước ta

    phát triển vượt bậc – nền kinh tế du lịch Việt Nam

    Theo Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lê Quang Tùng (tại Diễn đàn cấp cao du lịch Việt Nam diễn ra ngày 12-9-2019), du lịch nước ta đang ở giai đoạn phát triển nhanh, mạnh với lượng du khách quốc tế tăng trưởng cao. Giai đoạn 2022-2018, tốc độ tăng trưởng trung bình khách du lịch quốc tế đạt 12,8%/năm.

    Năm 2022, đất nước ta đón 10 triệu lượt khách quốc tế, tăng 26% so với năm 2022, giúp sức trực tiếp đạt 6,96% vào GDP. Hai năm sau đón 15,5 triệu lượt khách quốc tế, tăng 19,9% so với năm 2022, giúp sức trực tiếp ước đạt 8,5% vào GDP.

    nếu như không có diễn biến bất thường, năm 2022 du lịch nước ta sẽ hoàn thành chỉ tiêu được Chính phủ giao, đón 18 triệu lượt khách du lịch quốc tế. Trong 11 tháng của năm 2019, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt xấp xỉ 16,3 triệu lượt, tăng 15,4% so với cùng kỳ, trong khi đó lượng khách quốc tế đến châu Á-Thái Bình Dương tăng khoảng 6%, đến Đông Nam Á tăng khoảng 5%.

    3. Tìm hướng đi mới

    Đây chính là các phiên họp sâu hơn về những vấn đề đang còn khó khăn, “nút thắt” của ngành du lịch đất nước ta, lôi cuốn nhiều người có chuyên môn nội địa, quốc tế cùng “hiến kế”, chia sẻ kinh nghiệm.

    Trong đó tại phiên toàn thể, Diễn đàn tập trung tranh luận về 2 đề tài. Đó là giải pháp để tạo dựng một Việt Nam tươi đẹp, văn hóa đặc sắc, người dân thân thiện mến khách, nhằm sửa đổi và nâng cấp thứ hạng của du lịch Việt Nam trên bảng xếp hạng toàn cầu.

    Tạm kết :

    Vũ – Tổng hợp, chỉnh sửa (Nguồn tổng hợp : chúng tôi chúng tôi … )

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Úc Tháng 11: Melbourne – Sydney
  • Tìm Hiểu Visa Thăm Thân Úc Chi Tiết Nhất
  • Visa Thăm Thân Nhân Úc – Visa Úc – Visa 600 – Thăm Thân Nhân Úc Nhiều Lần
  • Thủ Tục Xin Visa Đi Úc Thăm Thân Nhân Như Thế Nào?
  • Kinh Nghiệm Xin Visa Thăm Thân Úc
  • Nam Định: Phát Triển Kinh Tế Du Lịch Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhà Đất Mua Bán Ngay
  • Tour Du Lịch Nha Trang Bằng Tàu Hỏa Tết 2022
  • Phú Yên Bằng Tàu Lửa ( 3 Ngày 3 Đêm
  • Hãy Thử 1 Lần Đi Du Lịch Bằng Tàu Hoả Để Tận Hưởng Cảm Giác “mùa Hè Lướt Ngoài Cửa Sổ”
  • Tour Du Lịch Ninh Chữ – Vĩnh Hy Bằng Tàu Lửa
  • Nam Định có bờ biển dài 72km với nhiều tiềm năng giá trị đã được đưa vào khai thác để phát triển kinh tế du lịch biển. Cụ thể đã hình thành các khu du lịch biển Thịnh Long (Hải Hậu), Quất Lâm (Giao Thủy). Khu vực ven biển còn có các làng nghề khai thác, đánh bắt, chế biến hải sản với phong tục, tập quán sinh hoạt đậm nét văn hóa của nền văn minh lúa nước sông Hồng. Đặc biệt, Vườn Quốc gia Xuân Thủy (Giao Thủy) với hệ sinh thái rừng ngập mặn, nơi dừng chân của các loài chim di trú là điểm Ramsar quốc tế đầu tiên của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á được đánh giá là điểm tham quan, trải nghiệm hấp dẫn. Tuy nhiên, đến nay du lịch biển của tỉnh chưa thu hút được lượng khách như mong đợi, lượng du khách sử dụng dịch vụ lưu trú, mức chi tiêu của du khách thấp, đóng góp của ngành du lịch cho nền kinh tế địa phương ở mức khiêm tốn.

    Du khách trải nghiệm dịch vụ ngắm cảnh làng quê ven biển tại bãi biển Thịnh Long.

    Trước thực trạng này, tỉnh định hướng các cấp, ngành, địa phương có biển phải tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để khai thác tiềm năng, thế mạnh vùng kinh tế biển, trong đó đặc biệt chú trọng phát triển kinh tế du lịch biển. Theo đó, để phát triển ngành du lịch biển, huyện Hải Hậu xác định giai đoạn 2022-2025 sẽ tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật. Chú trọng phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nghỉ dưỡng tại bãi biển Thịnh Long, khu nhà thờ đổ xã Hải Lý. Tăng cường mối liên kết giữa các điểm du lịch biển với các điểm du lịch khác trên địa bàn huyện, tỉnh; hình thành các tour du lịch biển, nghỉ dưỡng dài ngày kết hợp với các loại hình vui chơi, giải trí, thi đấu thể thao. Hướng dẫn, hỗ trợ người dân sản xuất các sản phẩm phục vụ khách du lịch; tạo chuỗi sản phẩm, thương hiệu du lịch, nhất là các sản phẩm hàng hóa du lịch từ tài nguyên biển, các sản phẩm đặc trưng của địa phương. Huyện Nghĩa Hưng xác định phát triển kinh tế biển (trong đó có du lịch biển) trở thành vùng kinh tế động lực là 1 trong 2 khâu đột phá trong nhiệm kỳ 2022-2025 của huyện. Quản lý và thực hiện tốt các quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện: Quy hoạch hai bên tuyến đường trục phát triển nối vùng kinh tế biển của tỉnh với đường cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình; Quy hoạch hai bên tuyến đường bộ ven biển và cầu Thịnh Long đoạn qua Nghĩa Hưng; quy hoạch đô thị Rạng Đông. Thu hút mọi nguồn lực để xã hội hóa đầu tư hạ tầng kinh tế biển, triển khai xây dựng khu chức năng phía Nam và hình thành đô thị Rạng Đông theo hướng phát triển đa ngành, đa lĩnh vực như phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Hình thành các tổ hợp đô thị – thương mại – du lịch – dịch vụ chất lượng cao, khu vui chơi giải trí, khách sạn, resort, sân golf… gắn với du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng. Huyện Giao Thủy xác định giai đoạn 2022-2025 sẽ tập trung phát triển du lịch biển trên cơ sở khai thác những tiềm năng, lợi thế sẵn có của địa phương. Khai thác có hiệu quả các điểm du lịch hiện có như Vườn Quốc gia Xuân Thủy, Bảo tàng Đồng quê… Nâng cấp khu du lịch Quất Lâm trở thành khu du lịch cấp tỉnh. Tổ chức kết nối các điểm du lịch thành các tour du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch trải nghiệm văn hóa, di tích lịch sử trên địa bàn huyện trong quan hệ hợp tác liên vùng. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng Giao Phong. Phấn đấu giai đoạn 2022-2025 ngành du lịch biển của huyện bình quân đón 550 nghìn lượt khách/năm; doanh thu du lịch bình quân đạt 200 tỷ đồng/năm.

    Bên cạnh sự nỗ lực của các địa phương, tỉnh cũng chủ động xác định lộ trình, phương án huy động, sắp xếp nguồn lực để phát triển vùng kinh tế biển và thúc đẩy, khai thác tối đa tiềm năng du lịch biển theo quy mô liên vùng, bao trùm cả 3 địa phương có biển. Trong đó, chú trọng khuyến khích, tạo điều kiện thu hút đầu tư xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch; khai thác tiềm năng, thế mạnh về du lịch của địa phương trong mối tương quan với du lịch của vùng. Trong Chương trình hành động số 01-CTr/TU ngày 12-10-2020 thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX nhiệm kỳ 2022-2025, Tỉnh ủy xác định: Tập trung triển khai Quyết định số 1453/QĐ-TTg ngày 24-9-2020 của Thủ tướng Chính phủ xây dựng Khu kinh tế Ninh Cơ thành trung tâm lớn trong giao thương quốc tế về công nghiệp, thương mại, du lịch và cảng biển của vùng Nam đồng bằng sông Hồng; tạo động lực trong phát triển kinh tế – xã hội của các huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu. Xây dựng và phát triển các đô thị ven biển (Thịnh Long, Quất Lâm, Rạng Đông), trong đó xây dựng đô thị Thịnh Long – Rạng Đông trở thành thành phố trung tâm phía tây nam của tỉnh với chức năng phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch. Từng bước xây dựng không gian kinh tế liên kết khu vực biển huyện Nghĩa Hưng gồm đô thị Rạng Đông Thịnh Long – KCN Dệt may Rạng Đông – Khu chức năng phía nam đô thị Rạng Đông theo hướng phát triển đa ngành, đa lĩnh vực. Tiếp tục đầu tư và hoàn thành các tuyến đường giao thông quan trọng, huyết mạch kết nối khu kinh tế biển của tỉnh với các khu du lịch trong vùng. Bên cạnh đó, tiếp tục phát triển các trung tâm vui chơi, giải trí để khai thác những điều kiện, lợi thế về cảnh quan, sinh thái, các giá trị văn hoá, tâm linh; cải tạo, nâng cấp và nâng cao chất lượng dịch vụ tại các khu du lịch truyền thống. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động phát triển du lịch; có chế độ ưu đãi phù hợp để thu hút nhân lực du lịch có trình độ cao, chuyên nghiệp về công tác tại địa phương; ưu tiên nguồn nhân lực là người dân địa phương phục vụ du lịch cộng đồng. Tạo điều kiện để doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin trong du lịch, áp dụng các giải pháp và công nghệ du lịch thông minh để cải thiện chất lượng dịch vụ, tăng trải nghiệm của khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng của ngành. Nâng cấp trang thông tin điện tử về du lịch Nam Định; kết hợp sử dụng các nền tảng mạng xã hội phổ biến như Youtube, Facebook, Instagram… để xây dựng hình ảnh và phát triển thương hiệu du lịch biển Nam Định. Đổi mới cách thức, nâng cao hiệu quả xúc tiến và quảng bá du lịch trong và ngoài nước, đảm bảo tính thống nhất, chuyên nghiệp, hiệu quả, giới thiệu được các sản phẩm du lịch đặc sắc, hấp dẫn của địa phương đến du khách và nhà đầu tư; chú trọng kết hợp nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm với các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch biển để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành du lịch trong giai đoạn mới./.

    Bài và ảnh: Thanh Thúy

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • 1/5 Đi Biển Nào? Gợi Ý 10 Biển Miền Bắc Phù Hợp Cho Kỳ Nghỉ Lễ
  • Khám Phá Miền Nam Nhật Bản
  • Hướng Dẫn Viên Tiếng Việt Tại Phnom Penh Cambodia
  • Tuyển Dụng, Tìm Việc Làm Du Lịch Tại Timviec.com.vn
  • Tour Guide Tự Túc Tại Hongkong
  • 4.500 Khách Quốc Tế Sắp Đến Việt Nam Bằng Đường Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Nha Trang 4 Ngày 4 Đêm: Sài Gòn
  • Titanic Và Costa Concordia: Hai Vụ Đắm Tàu Gây Tốn Kém Nhất Trong Lịch Sử
  • Tour Du Lịch Sapa 3 Ngày Từ Hà Nội Bằng Tàu Hỏa Giá Rẻ
  • Vé Tàu Du Lịch Hà Nội Sapa
  • Vé Tàu Hà Nội Huế Đặt Vé Nhanh, Thanh Toán Linh Hoạt
  • Trong tháng 10 này, Công ty TNHH một thành viên dịch vụ lữ hành Saigontourist sẽ đón khoảng 1.600 khách và thuyền viên (quốc tịch Ý, Tây Ban Nha, Anh) của tàu du lịch biển quốc tế Costa Victoria.

    Ngoài ra, sẽ có 1.700 khách và thuyền viên (chủ yếu quốc tịch Mỹ) của tàu Voyager of the Seas và khoảng 1.200 khách và thuyền viên (quốc tịch Trung Quốc) của tàu SuperStar Gemini lần lượt đến tham quan Việt Nam trong tháng 10-2013.

    Tàu Costa Victoria sẽ tham quan Việt Nam theo hải trình Đà Nẵng – TPHCM – Mỹ Tho trong thời gian 3 ngày. Đây là lần thứ 8 tàu Costa Victoria đến Việt Nam kể từ đầu năm 2013 và là chuyến du lịch tàu biển quốc tế thứ chín thuộc hãng tàu Costa Crociere S.p.A đến Việt Nam trong năm 2013. Theo chương trình, sau khi cập cảng Tiên Sa – Đà Nẵng vào lúc 9h sáng ngày 17-10, du khách tàu biển Costa Victoria sẽ tham quan một vòng thành phố Đà Nẵng (city tour), khu du lịch Non Nước – Ngũ Hành Sơn; phố cổ Hội An, làng gốm Thanh Hà; Di sản Văn hóa Thế giới – khu đền tháp Mỹ Sơn…

    Vào lúc 18h00 cùng ngày, tàu Costa Victoria sẽ rời cảng Tiên Sa đi TPHCM. Dự kiến cập cảng SPCT (Hiệp Phước) vào lúc 8h ngày 19-10, du khách tàu biển Costa Victoria tham quan TPHCM với các điểm du lịch tiêu biểu như Bảo tàng Lịch sử, dinh Thống Nhất, nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố, chợ Bến Thành, chùa Ngọc Hoàng – Quận 1 và chùa Bà Thiên Hậu – Quận 5, xưởng sơn mài Phương Nam, xem múa rối nước; địa đạo Củ Chi… Đến Mỹ Tho, khách đi đò đến xã Tân Thạch tham quan cảng cá, xưởng kẹo dừa, ghé trại nuôi ong thưởng thức trà mật ong và trái cây miệt vườn… Tàu sẽ rời TPHCM vào lúc 16h00 cùng ngày.

    Tàu Voyager of the Seas cùng 1.700 khách và thuyền viên (chủ yếu quốc tịch Mỹ) dự kiến sẽ cập cảng Phú Mỹ, Bà Rịa – Vũng Tàu vào lúc 7h ngày 18-10, bắt đầu chuyến tham quan Việt Nam 2 ngày theo hải trình Vũng Tàu – TPHCM. Tại TPHCM, du khách tàu biển Voyager of the Seas sẽ đi thăm các điểm tham quan tiêu biểu như trên. Tại Vũng Tàu, khách viếng Niết bàn tịnh xá, đình Thắng Tam, Bạch Dinh… Con tàu du lịch biển thuộc hãng Royal Caribbean Cruise Lines này sẽ rời cảng Phú Mỹ vào lúc 18h00 ngày 19-10.

    Trong khi đó, tàu SuperStar Gemini mang theo 1.200 khách và thuyền viên (quốc tịch Trung Quốc) dự kiến sẽ cập cảng Hạ Long vào hồi 8h30 sáng ngày 28/10. Khách sẽ đi tham quan Vịnh Hạ Long với các danh thắng nổi tiếng như núi Bài Thơ, vụng Oản, hòn Mặt Quỷ, hòn Gấu Ngòi, Cổng Trời, hòn Chó Đá, hòn Gà Chọi, hang Thiên Cung; trường quay phim Đông Dương; làng chài Hòn Gai; mua sắm tại chợ phiên Bãi Cháy; tham quan Công viên Hoàng Gia và xem múa rối nước, ca múa nhạc truyền thống; viếng đền Cốc, thăm làng nghề đan thuyền thúng và làm lưới cá thủ công Hà Nam… Vào lúc 18h00 cùng ngày, con tàu thuộc hãng Star Cruises này sẽ rời Hạ Long đi Tam Á (Trung Quốc).

    Tiếp đó, theo kế hoạch, vào ngày 24-12-2013, tại Phú Quốc, Lữ hành Saigontourist sẽ đón dự kiến 450 du khách quốc tịch Đức của tàu du lịch biển quốc tế Europa 2 đến tham quan Việt Nam theo hải trình 8 ngày, từ 24 đến 31-12. Đây là lần đầu tiên con tàu thuộc hãng Hapag-Lloyd này đến Việt Nam.

    HNMO

    --- Bài cũ hơn ---

  • Review Tàu Chất Lượng Cao Du Lịch 5 Sao Snt: Sài Gòn
  • Top 10 Bài Văn Tả Vịnh Hạ Long Hay Nhất 2022
  • Du Lịch Hạ Long Trên Du Thuyền Bài Thơ
  • Núi Bài Thơ Vịnh Hạ Long
  • Tất Tần Tật Kinh Nghiệm Du Lịch Tết Bình Ba
  • Việt Nam Có Mấy Vùng Kinh Tế Trọng Điểm?

    --- Bài mới hơn ---

  • Canada Và Việt Nam Có Tiềm Năng Rất Lớn Để Hợp Tác Phát Triển Du Lịch
  • Việt Nam Học (Văn Hóa Du Lịch)
  • Ngành Việt Nam Học (Hướng Dẫn Viên Du Lịch)
  • ¬ Ngành Việt Nam Học (Chuyên Ngành Văn Hóa Du Lịch)
  • Nghỉ Hè Nên Đi Du Lịch Ở Đâu
  • Trong quá trình hình thành và phát triển, các vùng kinh tế trọng điểm đang phát huy lợi thế, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.

    Hỏi:

    Việt Nam có mấy vùng kinh tế trọng điểm?

    A. 3

    B. 4

    C. 5

    D. 6

    Đáp án:

    B. 4

    Vùng kinh tế trọng điểm được Đảng và Nhà nước xác định là vùng động lực làm đầu tàu lôi kéo sự phát triển của các vùng khác trên cả nước. Hiện cả nước có bốn vùng kinh tế trọng điểm gồm: Bắc Bộ, Trung Bộ, phía Nam và Đồng bằng sông Cửu Long.

    Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

    A. Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh

    B. Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh Bình

    C. Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Nam

    D. Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Ninh Bình

    Đáp án:

    A. Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh

    Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ được thành lập theo quyết định Thủ tướng từ tháng 9/1997 gồm các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh Quảng Ninh, Hưng Yên, Hải Dương với diện tích hơn 10.000km².

    Hỏi:

    Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có mấy tỉnh, thành trực thuộc trung ương?

    A. 5

    B. 6

    C. 7

    D. 8

    Đáp án:

    C. 7

    Sau khi Quốc hội quyết định mở rộng địa giới thành phố Hà Nội (sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội) thì tổng diện tích vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ sau khi bổ sung là hơn 11.300km². Hiện vùng kinh tế trọng điểm này có 7 tỉnh thành gồm: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc.

    Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ

    Hỏi:

    Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ có mấy tỉnh, thành trực thuộc trung ương?

    A. 5

    B. 6

    C. 7

    D. 8

    Đáp án:

    A. 5

    Vùng kinh tế Trung Bộ được thành lập từ tháng 11/1997 theo quyết định của Thủ tướng, gồm thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Hiện quy mô của vùng được mở rộng thêm tỉnh Bình Định, nâng tổng số tỉnh thành ở vùng kinh tế này là 5.

    Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

    B. TP. HCM, Bình Dương, Bến Tre

    C. chúng tôi Bình Phước, Bến Tre

    D. TP. HCM, Long An, An Giang

    Đáp án:

    A. TP. HCM, Long An, Bình Phước

    Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam được thành lập từ tháng 2/1998 gồm TP HCM và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu với diện tích tự nhiên hơn 12.600km². Từ giữa năm 2003, Thủ tướng đã quyết định mở rộng ranh giới vùng, bổ sung 3 tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Long An.

    Vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long

    Hỏi:

    Vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long hiện gồm mấy tỉnh thành?

    A. 1

    B. 2

    C. 3

    D. 4

    Đáp án:

    D. 4

    Vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long được thành lập từ tháng 4/2009, gồm tỉnh thành: Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau; rộng hơn 16.200km².

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Vụ Làm Visa Hà Lan Trọn Gói Tại Hà Nội Và Hồ Chí Minh
  • Hướng Dẫn Khai Tờ Khai Xin Visa Hungary
  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Triển Khai Công Tác Năm 2013
  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch, 30 Năm Gắn Liền Với Sự Phát Triển Của Du Lịch Việt Nam
  • Một Năm Thành Công Của Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch
  • Tiềm Năng Và Vai Trò Của Ngành Du Lịch Biển Đối Với Kinh Tế Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Nguyên Du Lịch Của Chúng Ta Rất Lớn, Vấn Đề Là Khai Thác Thế Nào Thôi!
  • Git Trong Du Lịch Là Gì? Những Lợi Ích Tuyệt Vời Của Git
  • Review Kinh Nghiệm Phượt Du Lịch Phú Yên – Tuy Hòa
  • Bán Buôn Gối Hơi Du Lịch, Gối Hàng Không, Gối Chữ U Chỉ 17K/1Sp, Địa Chỉ Bán Gối Hơi Ở Hà Nội
  • Gợi Ý 7 Điểm Du Lịch Hè 2022 Bạn Nên Check In
  • Vùng biển Việt Nam có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển du lịch biển, ven biển và đảo với nhiều loại hình du lịch khác nhau. Du lịch đóng góp một phần quan trọng vào phát triển kinh tế biển ở nước ta, đang là hướng ưu tiên phát triển và có mức tăng trưởng khá rõ rệt trong những năm gần đây.

    Từ bắc vào nam, 28 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương có biển là các tỉnh và thành phố: Quảng Ninh, Tp. Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Tp. Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tp. Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang.

    Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vịnh, hang động tự nhiên đẹp là tiềm năng về du lịch lớn của nước ta. Do đặc điểm kiến tạo khu vực, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, nhiều vụng, vịnh, bãi cát trắng, hang động, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới như di sản thiên nhiên Hạ Long được UNESCO xếp hạng.

    Hệ thống gần 82 hòn đảo ven bờ có diện tích trên 01 km2, trong đó 24 đảo có diện tích trên 10 km2 (l0 320 km2), cách bờ không xa là những hệ sinh thái đảo hấp dẫn. Ở đây không khí trong lành, nước biển trong và sạch, bãi cát trắng mịn.

    Các thắng cảnh trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha, Bích Động, Non Nước… Các di tích lịch sử và văn hoá như Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm, nhà thờ đá Phát Diệm,. .. phân bố ngay ở vùng ven biển.

    Các trung tâm kinh tế thương mại, các thành phố du lịch nằm ven biển hoặc cách bờ biển không xa như Hạ Long, Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên, Hà Nội, Sài Gòn,… Hệ thống đường bộ, đường xe lửa xuyên Việt và liên vận quốc tế chất lượng cao được xây dựng dọc bờ biển. 

    Đặc điểm địa hình ven biển tạo nên nhiều cảnh quan đẹp, hấp dẫn khách du lịch trên suốt chiều dài đất nước như đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cả… xen kẽ với các mũi nhô và vũng, vụng ven bờ với khoảng 126 bãi cát biển đẹp, trong đó khoảng 20 bãi cát biển đạt tiêu chuẩn quốc tế, dài 16 km, chưa kể đến hàng trăm bãi biển nhỏ, đẹp, nằm ven các vụng tĩnh lặng ven các đảo hoang sơ có thể phát triển loại hình du ngoạn, picnic,… Vùng biển ven bờ tập trung tới trên 2.500 đảo lớn nhỏ, nhiều đảo/cụm đảo có giá trị du lịch như Quan Lạn, Cát Bà, Bạch Long Vỹ, vịnh Nha Trang, Cù Lao Chàm, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc,…

     

    Nguyệt Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Tây Ninh – Tất Tần Tật Về Mảnh Đất Yên Bình Trong Nắng Gió
  • Giới Thiệu Về Tỉnh Hòa Bình
  • Nghiên Cứu Văn Hóa Tỉnh Hòa Bình
  • Tổng Quan Lữ Hành Việt Nam
  • Khu Du Lịch Văn Thánh – Địa Điểm Đi Trốn Cuối Tuần Cực
  • Du Lịch Việt Nam Hội Nhập Cộng Đồng Kinh Tế Asean

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Hội Thảo: Đà Nẵng
  • Tour Du Lịch Hội Thảo: V’resort Hòa Bình
  • Tour Du Lịch Kết Hợp Hội Thảo Tại Huế
  • Tour Du Lịch Homestay An Giang: Long Xuyên
  • Khám Phá 5 Homestay Châu Đốc
  • (TCDL) – Ngày 22/11/2015, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 27 diễn ra ở Thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia, Lãnh đạo của 10 quốc gia thành viên ASEAN đã đặt bút ký văn kiện lịch sử Tuyên bố hình thành Cộng đồng ASEAN 2022, trong đó nêu rõ “sự hình thành của Cộng đồng ASEAN đã tạo ra một dấu mốc trong tiến trình liên kết, bảo đảm hòa bình, an ninh và tự cường dài lâu trong một khu vực hướng ra bên ngoài, với các nền kinh tế năng động, cạnh tranh và liên kết sâu rộng, và một cộng đồng thu nạp dựa trên ý thức mạnh mẽ về sự gắn kết và bản sắc chung”. Cộng đồng kinh kế ASEAN (AEC) cùng với Cộng đồng an ninh – chính trị và Cộng đồng văn hóa – xã hội là ba trụ cột tạo nên Cộng đồng ASEAN. Trong ba trụ cột, AEC được coi là quan trọng nhất, sự phát triển của AEC sẽ là tiền đề thúc đẩy việc thực hiện hai trụ cột còn lại. Hội nhập AEC là một bước ngoặt đánh dấu sự hội nhập khu vực một cách toàn diện của các nền kinh tế Đông Nam Á, qua đó mang lại những tác động tích cực tới Du lịch Việt Nam.

    Khái quát các hoạt động hội nhập của Du lịch Việt Nam đóng góp vào quá trình hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN

    Hội nhập quốc tế về du lịch của Việt Nam thời gian qua được triển khai theo hướng thúc đẩy ký kết và thực hiện các hiệp định thỏa thuận hợp tác cấp chính phủ, cấp ngành song phương và đa phương, tranh thủ hợp tác, hỗ trợ của các nước thông qua các chương trình, dự án cụ thể và các cam kết mở cửa tự do hóa thương mại dịch vụ du lịch trong các khuôn khổ WTO, ASEAN, APEC, GMS…. Trong đó, ASEAN là một trong những khuôn khổ hợp tác mà Du lịch Việt Nam tham gia sâu rộng và có hiệu quả nhất.

    Du lịch Việt Nam bắt đầu tìm hiểu và tham gia các cơ chế hợp tác từ cuối những năm 1990, sau khi gia nhập ASEAN (1995). Việt Nam từng bước tham gia đầy đủ các hoạt động trong các nhóm/tiểu ban công tác du lịch từ đầu những năm 2000 và chủ động hội nhập từ cuối những năm 2000. Đối với các cam kết về thị trường, Việt Nam đã thực hiện đầy đủ các cam kết đối với các lĩnh vực khách sạn, dịch vụ xếp chỗ ở khách sạn, dịch vụ phục vụ ăn uống và kinh doanh lữ hành quốc tế. Năm 2009, Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Du lịch và Diễn đàn Du lịch ASEAN (ATF) – sự kiện lớn nhất trong năm của du lịch ASEAN.

    Đối với các lĩnh vực cụ thể, Việt Nam đã ký Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN về nghề du lịch (MRA-TP) (tại ATF 2009, tại Hà Nội) để làm cơ sở cho việc phát triển nguồn nhân lực du lịch ASEAN và tạo thuận lợi cho dịch chuyển lao động trong khu vực. Du lịch Việt Nam đã chủ động đóng góp vào việc triển khai MRA-TP chung của ASEAN thông qua việc xây dựng các tài liệu hướng dẫn triển khai MRA-TP (2013). Du lịch Việt Nam đã tham gia xây dựng 130 sản phẩm du lịch chung để kết nối ít nhất 2 quốc gia trong ASEAN theo các nhóm chuyên đề như du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa và di sản, du lịch cộng đồng, du lịch đường biển và đường sông đồng thời tích cực triển khai Chiến lược marketing du lịch ASEAN 2011 – 2022 với tiêu đề “Đông Nam Á – cảm nhận sự ấm áp” tập trung vào khai thác các thị trường Trung Quốc và Ấn Độ, khách du lịch trải nghiệm và sáng tạo, khách du lịch khám phá, khách du lịch công vụ, khách du lịch lưu trú dài ngày và người cao tuổi, khách trong nội vùng ASEAN. Cùng với đó, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò Trưởng nhóm Marketing và Truyền thông du lịch ASEAN (2013-2014), hiện đang là Phó Trưởng nhóm Chất lượng dịch vụ du lịch, điều phối phát triển sản phẩm du lịch đường sông và Dự án hỗ trợ kỹ thuật phát triển du lịch đường sông khu vực sông Mê Kông do UNWTO hỗ trợ ASEAN, điều phối triển khai Dự án xây dựng Hướng dẫn xây dựng và vận hành loại hình Boutique Hotel; nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ASEAN thông qua việc phối hợp cùng các quốc gia thành viên phát triển và áp dụng các bộ tiêu chuẩn chung trong ASEAN như tiêu chuẩn khách sạn xanh ASEAN, cơ sở lưu trú nhà dân ASEAN, nhà vệ sinh công cộng ASEAN, dịch vụ Spa ASEAN, tiêu chuẩn thành phố du lịch sạch ASEAN, tiêu chuẩn du lịch cộng đồng, hướng dẫn an ninh và an toàn du lịch ASEAN cho các khách sạn, khu nghỉ dưỡng và lộ trình du lịch ASEAN ứng phó với biến đổi khí hậu…

    Hàng năm, Du lịch Việt Nam tham gia Hội chợ Du lịch quốc tế TRAVEX bên lề Diễn đàn Du lịch ASEAN, tham gia và có đóng góp tích cực tại các phiên họp định kỳ và họp chuyên đề. Bên cạnh ATF năm 2009, Việt Nam cũng đã đăng cai tổ chức thành công cuộc họp chuyên đề về Marketing và Phát triển sản phẩm du lịch ASEAN (2013) và sẽ tiếp tục tổ chức phiên họp các nhóm công tác du lịch dự kiến vào tháng 4/2016. Bên cạnh các nội dung hợp tác du lịch ASEAN nói chung, Việt Nam còn tích cực và chủ động trong các cơ chế hợp tác du lịch tiểu vùng và giữa ASEAN với các nước, tổ chức đối tác. Các khuôn khổ hợp tác phổ biến là: Hợp tác kinh tế ACMECS (hợp tác kinh tế gồm 5 nước Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam); Hợp tác GMS (còn gọi là chương trình hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng, gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và tỉnh Vân Nam, tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc); Hợp tác CLMV (gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam); Hợp tác giữa ASEAN với các nước và tổ chức đối tác (ASEAN với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc; ASEAN với Nga, ASEAN với Ấn Độ, ASEAN với Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO, ASEAN với Ngân hàng phát triển châu Á ADB…), và hợp tác du lịch song phương để đóng góp vào cơ chế hợp tác du lịch trong ASEAN.

    Tác động của việc hội nhập AEC đối với Du lịch Việt Nam

    Qua quá trình hợp tác lâu dài cũng như những kết quả và lợi ích mang lại, có thể khẳng định rằng ASEAN cũng như AEC có vai trò đặc biệt quan trọng đối với Du lịch Việt Nam. Với dân số hơn 500 triệu dân, trong những năm qua, các thị trường nguồn du lịch thuộc khu vực ASEAN đóng góp khoảng 20% tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Một số nước ASEAN như Thái Lan, Singapore, Malaysia vừa là thị trường nguồn, vừa đóng vai trò là cửa ngõ quan trọng để khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Hợp tác du lịch với các nước ASEAN là quan hệ cùng có lợi khi các nước cùng hợp tác, bổ sung cho nhau về tất cả các khía cạnh trong phát triển du lịch, hỗ trợ nhau đồng thời cũng là hỗ trợ chính mình. Tuy nhiên, đây là quá trình vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, theo đó lợi ích đối với mỗi nước phụ thuộc vào nỗ lực và khả năng của từng nước. Mặc dù vậy, lợi ích của nước này không làm ảnh hưởng đến lợi ích của các nước khác mà ngược lại tạo cơ hội cho các nước khác.

    Mặt khác, quá trình hợp tác để hình thành AEC đã góp phần nâng cao sự hiện diện và uy tín của Du lịch Việt Nam trong khu vực. Đồng thời, Du lịch Việt Nam được tiếp cận nhiều thông tin và bài học kinh nghiệm quý báu về phát triển du lịch và nhận được sự hỗ trợ tích cực của các nước có ngành Du lịch phát triển hơn như Thái Lan, Malaysia, Singapore… AEC đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện yêu cầu “gắn thị trường du lịch Việt Nam với thị trường du lịch khu vực và thế giới” như Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 đã đề ra.

    Hội nhập AEC mang lại những tác động tích cực đối với Du lịch Việt Nam đồng thời tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt hơn trong lĩnh vực du lịch, trong đó việc phát huy những tác động tích cực của quá trình hội nhập sẽ quyết định hiệu quả của quá trình hội nhập du lịch trong AEC. Những tác động trên một số lĩnh vực chủ đạo được khái quát như sau:

    – Nhìn chung, hội nhập về sản phẩm du lịch trong ASEAN đã góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Việt Nam hiện nay và tranh thủ được các nguồn khách nối tour trong khu vực để qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của du lịch khu vực ASEAN nói chung và khả năng kết nối khách giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và ngược lại. Mặt khác, chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch của Việt Nam cũng đã tăng lên rõ rệt, đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch trong và ngoài khu vực ASEAN về cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ lưu trú du lịch, chất lượng dịch vụ, chất lượng và sự đa dạng của ẩm thực trong sản phẩm du lịch, đặc biệt là đối với phân đoạn thị trường chất lượng cao, tập trung ở các trung tâm du lịch lớn trong nước.

    – Việt Nam đã tranh thủ được khá tốt hiệu quả xúc tiến quảng bá du lịch trong khu vực để thu hút khách du lịch đến Việt Nam do tham gia đầy đủ các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch chung trong ASEAN. Hình ảnh và vị thế của Du lịch Việt Nam trong khu vực ASEAN được nâng lên do sự chủ động tổ chức và khởi xướng các sự kiện, hoạt động xúc tiến du lịch liên kết với các nước ASEAN. Thương hiệu quốc gia từng bước được cải thiện do các hoạt động tích cực của ngành Du lịch và các hoạt động xúc tiến quảng bá.

    – Triển khai MRA-TP là cơ hội rất tốt để Du lịch Việt Nam có động lực nâng cao chất lượng nhân lực du lịch trong nước đủ điều kiện làm việc hiệu quả tại các nước khác trong khu vực đồng thời cũng góp phần giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động trong bối cảnh phát triển nhanh của du lịch trong nước, tranh thủ được nguồn lao động chất lượng cao trong khu vực. Bên cạnh việc các doanh nghiệp du lịch đã quan tâm hơn tới công tác đào tạo nhân lực của mình thì khối các cơ sở đào tạo về du lịch cũng đã không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo du lịch góp phần phát triển liên tục nguồn nhân lực du lịch Việt Nam trong thời gian qua, cơ bản đáp ứng được yêu cầu về số lượng và từng bước cải thiện chất lượng phù hợp với nhu cầu hội nhập khu vực ASEAN.

    – Đối với các doanh nghiệp du lịch, các doanh nghiệp lữ hành ngày càng lớn mạnh về số lượng, đa dạng về loại hình, cải thiện chất lượng, phù hợp với trình độ phát triển và nhu cầu trong khu vực ASEAN, một số doanh nghiệp lớn đã từng bước khẳng định được thương hiệu trong khu vực trên cơ sở sự đa dạng của sản phẩm và đảm bảo về chất lượng. Các cơ sở lưu trú du lịch (CSLTDL) được đầu tư phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về loại hình dịch vụ, chất lượng được nâng lên tầm khu vực ở nhiều phân khúc đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn chung của sản phẩm du lịch ASEAN và Việt Nam nói riêng. Năng lực cạnh tranh trong khu vực của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam cũng được nâng lên trên cơ sở sự liên kết phát triển sản phẩm du lịch theo mô hình Lữ hành – Hàng không – Khách sạn. Các loại hình doanh nghiệp khác tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ du lịch như vận chuyển (hàng không, đường bộ, đường biển, đường thủy), nhà hàng cung cấp dịch vụ ăn uống, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí… ngày một gia tăng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu kết nối giữa Việt Nam với các nước trong khu vực ASEAN cũng như góp phần đảm bảo năng lực cung ứng dịch vụ du lịch và gia tăng tính hấp dẫn, đa dạng của sản phẩm, dịch vụ du lịch khu vực ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng.

    Việc Việt Nam chính thức gia nhập AEC sẽ có những tác động trực tiếp và gián tiếp đến tất cả các đối tượng trong ngành Du lịch, từ cơ quan quản lý nhà nước đến doanh nghiệp kinh doanh du lịch, cơ sở đào tạo, người lao động và thậm chí cả khách du lịch nội khối cũng như khách du lịch quốc tế đến khu vực. Khi Việt Nam gia nhập AEC, Du lịch Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen. Vấn đề đặt ra là phải tận dụng được các cơ hội đồng thời vượt qua những khó khăn, thách thức để phát triển với tốc độ cao và tránh được nguy cơ tụt hậu, nhất là so với các nước có ngành Du lịch phát triển trong khu vực./.

    Trần Phú Cường Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế – Tổng cục Du lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Đà Nẵng Hội Nhập Quốc Tế
  • Hội Nhập Quốc Tế Và Những Vấn Đề Đặt Ra Cho Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Cần Lưu Ý Gì Để Có Chương Trình Du Lịch Hội Nghị Hoàn Hảo?
  • Hội Nghị Là Gì? Cách Thức Tổ Chức Hội Nghị Chuyên Nghiệp, Ấn Tượng
  • Hội Thảo, Hội Nghị Là Gì? Cách Tổ Chức Hội Thảo, Hội Nghị Chuyên Nghiệp.
  • Kinh Tế Du Lịch Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò Của Kinh Tế Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Du Lịch Là Gì? Các Lĩnh Vực Kinh Tế Du Lịch Hiện Nay
  • Quảng Ninh: Biến Du Lịch Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Cơ Hội Vàng Cho Du Lịch Quảng Ninh
  • Kỉ Niệm 55 Năm Ngày Thành Lập Ngành Du Lịch
  • Hoạt Động Kỷ Niệm Ngày Du Lịch Việt Nam 9/7
  • Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, kinh tế du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế đất nước, góp phần vào tiến trình hội nhập quốc tế và thực hiện đường lối đối ngoại của các quốc gia.

    1. Kinh tế du lịch là gì?

    Kinh tế du lịch là một hệ thống phức hợp những quan hệ và hoạt động kinh tế của các chủ thể tham gia trong quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ du lịch, nhằm đem lại lợi ích kinh tế, xã hội cho các bên tham gia và tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

    Trong quá trình hội nhập kinh tế, kinh tế du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế đất nước, góp phần vào tiến trình hội nhập quốc tế và thực hiện đường lối đối ngoại của các quốc gia.

    Kinh tế du lịch nhằm khai thác tài nguyên có sẵn của thiên nhiên nhằm thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.

    Ngành kinh tế du lịch gồm 2 loại:

    Du lịch trong nước: là loại hình tổ chức và khai thác các địa điểm tham quan du lịch dành cho khách du lịch trong nước hoặc những khách du lịch tới tham quan tại quốc gia đó.

    Du lịch quốc tế: là loại hình du lịch mà khách du lịch của quốc gia nội tại có nhu cầu và thực hiện tham quan di lịch tại quốc gia khác.

    2. Đặc điểm của ngành kinh tế du lịch

    Tính tổng hợp, liên ngành: ngành du lịch cũng như các ngành khác, đều có mỗi quan hệ liên kết chặt chẽ với các lĩnh vực khác như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, tài nguyên môi trường, thể thao văn hóa…

    Tính xã hội hóa: tức là ngành kinh tế du lịch thu hút mọi thành phần kinh tế xã hội tham gia.

    Tính xanh và sạch: Đây được đánh giá là ngành công nghiệp không khói, có xu hướng tích cực bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp.

    Tính lợi ích và hiệu quả kinh tế cao: phải khẳng định rằng kinh tế du lịch đem lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế, góp phần tăng ngân sách và mức đô tăng trưởng GDP của mỗi quốc gia.

    3. Vai trò của kinh tế du lịch đối với hội nhập quốc tế

    Có thể nói kinh tế du lịch là chiếc chìa khóa thúc đẩy nền kinh tế phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa quốc gia tác động mạnh mẽ đến tổng sản phẩm quốc nội GDP; ngân sách nhà nước; tổng vốn đầu tư; công nghệ hiện đại; tổng kim ngạch xuất khẩu; nền văn hóa đa dạng.

    Kinh tế du lịch góp phần thúc đẩy phân công lao động, hợp tác khu vực và quốc tế: Kinh tế du lịch là ngành sản xuất ra sản phẩm du lịch để cung ứng ra thị trường với sự kết hợp của một chuỗi các dịch vụ khác nhau, để có được sản phẩm chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu thị trường đòi hỏi phải có sự phân công lao động, chuyên môn hóa rất cao trong các công đoạn, phân khúc sản phẩm.

    Kinh tế du lịch góp phần tăng cường giao lưu, hội nhập của quốc gia với khu vực và quốc tế: thông qua các hoạt động dịch vụ du lịch, đòi hỏi sự liên kết mở rộng, giao lưu kinh tế và văn hóa.

    Kinh tế du lịch góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tham gia mở rộng thị trường nội địa và quốc tế: đây là kênh quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Thông qua hợp tác quốc tế và khu vực trong lĩnh vực du lịch, các quốc gia có thể tận dụng lợi thế để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

    Việc phát triển kinh tế du lịch góp phần giới thiệu và quảng bá hình ảnh của quốc gia đối với nhiều nước khác trên thế giớ; có cơ hội được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến; có cơ hội liên kết mở rộng các tuyến du lịch và các loại hình du lịch mới.

    Tuy nhiên để phát triển kinh tế du lịch cũng đối mặt với một số thách thức như làm tăng sự phụ thuộc về khách du lịch của các quốc gia vào thị trường nước ngoài hoặc tạo ra những thách thức trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc, bảo vệ tài nguyên và môi trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Kinh Tế Du Lịch Biển Gắn Với An Ninh Trật Tự Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Vienna (Áo)
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Vienna Giá Rẻ Tự Túc Cập Nhật 2022
  • Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Úc (Australia) Từ A
  • Kinh Nghiệm Xin Visa Hàn Quốc Tự Túc 2022
  • Du Lịch Biển Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Biển Việt Nam
  • Những Nguyên Nhân Khiến Bạn Bị Xin Visa Du Lịch Úc?
  • Một Mình Ở Singapore
  • Tour Bà Nà Trong Ngày Chất Lượng Cao Tại Đà Nẵng
  • Du Lịch Một Mình Ở Singapore Trong 2022: Hướng Dẫn Thưởng Thức Những Điều Tuyệt Vời Nhất Ở Châu Á
  • --- Bài cũ hơn ---

  • 20 Món Đặc Sản Hà Nội Làm Quà Và Địa Chỉ Mua
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Tự Túc Đảo Quan Lạn (Phần 1)
  • Tour Cần Thơ 2 Ngày 1 Đêm
  • Nên Chơi Ở Đâu Và Ăn Gì Khi Đi Du Lịch Brussels, Bỉ ?
  • Du Lịch Hàn Quốc Cần Điều Kiện Gì
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100