Top 19 # Xem Nhiều Nhất Loại Hình Du Lịch Ẩm Thực / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Tuvanduhocsing.com

Đưa Du Lịch Ẩm Thực Thành Một Loại Hình Du Lịch / 2023

Tại Hội thảo, ông Vương Xuân Tình, Phó Chủ tịch Hội Dân tộc học và Nhân học Việt Nam cho hay Việt Nam là quốc gia có nền ẩm thực phong phú, độc đáo và có ý kiến cho rằng, cùng với Trung Hoa và Pháp, ẩm thực Việt Nam là 1 trong 3 nền ẩm thực được ưa chuộng trên thế giới.

Trong suốt một thời gian dài vừa qua, các nghiên cứu về ẩm thực và thực hành ẩm thực luôn gắn với phát triển du lịch ở nước ta.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, du lịch ẩm thực Việt Nam kém phát triển so với nhiều nước trên thế giới, kể từ chiến lược đến hành động và hiệu quả. Ông Tình cho rằng, để đẩy mạnh du lịch ẩm thực, nếu chỉ có sự năng động của doanh nghiệp tư nhân, của hệ thống nhà hàng và hiệp hội là chưa đủ.

Nêu một số gợi ý phát triển du lịch ẩm thực ở Việt Nam thời gian tới, theo ông Tình, cần điều chỉnh, bổ sung chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch đến năm 2020, 2025 và tầm nhìn 2030, đồng thời chuẩn bị xây dựng chiến lược kế tiếp. Theo đó, cần đưa du lịch ẩm thực trở thành một loại hình du lịch ở nước ta.

Ngoài ba trung tâm ẩm thực lớn là Hà Nội, Huế, Sài Gòn, cần chú trọng giá trị của ẩm thực vùng kết hợp với ẩm thực tộc người và tôn giáo để xây dựng kế hoạch phát triển du lịch ẩm thực cho thích hợp.

Cần tập trung nâng cao thương hiệu ẩm thực Việt Nam qua việc xác định, đầu tư cho những món ăn, đồ uống có giá trị, nổi tiếng, có giá trị.

Ẩm thực trong phát triển du lịch

Theo báo cáo của dự án xây dựng khu bảo tồn ẩm thực truyền thống và tôn vinh tổ nghề đầu bếp Việt, ẩm thực Việt Nam hấp dẫn khách du lịch, cả khách quốc tế và khách nội địa. Nhiều món ăn truyền thống Việt Nam như phở, bún chả, nem… đã được thừa nhận là những món ngon, độc đáo hàng đầu thế giới và không thể không thưởng thức khi đến Việt Nam. Sự kiện Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đến ăn phở vào năm 2000 tại TPHCM hoặc Tổng thống Barack Obama đã đến ăn bún chả ở Hà Nội vào năm 2016 đã làm cho thương hiệu ẩm thực Việt Nam ngày càng nổi tiếng hơn.

Giáo sư Philip Kotler – chuyên gia thương hiệu hàng đầu thế giới đã gợi ý cho ngành du lịch Việt Nam “Hãy đưa Việt Nam trở thành bếp ăn của thế giới” để thu hút mạnh mẽ khách du lịch đến Việt Nam.

Trong quá trình hội nhập, các quốc gia tiếp thu nhiều tinh hoa văn hóa thế giới, nhưng cũng đứng trước nguy cơ mất đi các giá trị truyền thống, các gốc tạo ra sự khác biệt và độc đáo của mỗi dân tộc, Trong lĩnh vực ẩm thực, điều đó rất rõ. Người Việt Nam đang ngày càng quen với các món ăn Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Châu Âu, nhiều món ăn Việt đang có nguy cơ biến mất hoặc biến dạng, đặc biệt các món truyền thống và món ăn đồng bào thiểu số. Do vậy, đầu tư để bảo tồn và phát triển ẩm thực truyền thống đang trở nên một nhu cầu quan trọng của đất nước nói chung và ngành du lịch nói riêng.

Theo Hội Lữ hành ẩm thực thế giới, hiện có khoảng 25% du khách quan tâm đến ẩm thực du lịch. Còn báo cáo toàn cầu lần thứ hai về du lịch ẩm thực lại cho rằng, có 87% số tổ chức được điều tra xác định du lịch ẩm thực là yếu tố chiến lược đối với điểm đến; 82% cho rằng du lịch ẩm thực là động lực quan trọng cho phát triển du lịch, du lịch ẩm thực là chất xúc tác cho kinh tế địa phương và nhìn chung ẩm thực là nguyên nhân thứ 3 chỉ sau yếu tố văn hoá, điều kiện tự nhiên ảnh hưởng quyết định đến điểm đến của du khách.

Phát Triển Loại Hình Du Lịch Ẩm Thực Tại Việt Nam Trong Thời Gian Tới / 2023

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………….. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH ẨM THỰC……………………………………………………………………………….. 1.1. Định nghĩa loại hình du lịch ẩm thực……………………………………………… 1.1.1.Khái niệm văn hóa ẩm thực……………………………………………………… 1.1.2.Khái niệm loại hình du lịch ẩm thực…………………………………………. 1.1.3.Phân biệt loại hình du lịch ẩm thực với các loại hình du lịch tương tự…………………………………………………………………………………………. 1.2.Đặc điểm của loại hình du lịch ẩm thực…………………………………………… 1.3. Điều kiện phát triển loại hình du lịch ẩm thực……………………………….. 1.3.1.Điều kiện chung phát triển du lịch…………………………………………… 1.3.2.Điều kiện đặc trưng phát triển du lịch ẩm thực ………………………… 1.4.Ý nghĩa của việc phát triển loại hình du lịch ẩm thực đối với Việt Nam ………………………………………………………………………………………………………. 1.4.1.Về mặt kinh tế………………………………………………………………………. 1.4.2.Về mặt xã hội……………………………………………………………………………… TỔNG KẾT CHƯƠNG I…………………………………………………………………… CHƯƠNG II: THƯC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH ẨM THỰC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY…………………………………………… 2.1.Thực trạng về các điều kiện phát triển du lịch ẩm thực ở Việt Nam …………………………………………………………………………………………………… 2.1.1.Về điều kiện tài nguyên du lịch………………………………………………. 2.1.2.Về cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch……………………………………………. 2.1.3.Về nguồn nhân lực………………………………………………………………… 2.1.4.Sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương…………………………. 2.1.5.Sự đảm bảo về vệ sinh và an toàn thực phẩm…………………………….

2.1.6.Hệ thống chính sách và nguyên tắc đảm bảo sự phát triển lâu dài hoạt động kinh doanh du lịch ẩm thực của các chủ thể quản lí nhà nước,các đơn vị kinh doanh du lịch…………………………………………………. 2.1.7.Đối tượng khách của loại hình du lịch ẩm thực Việt Nam………………… 2.2.Đánh giá sự phát triển loại hình du lịch ẩm thực ở Việt Nam qua mô hình SWOT……………………………………………………………………………….. TỔNG KẾT CHƯƠNG II…………………………………………………………………. CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỚI CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÍ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH NHẰM PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH ẨM THỰC Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI………………………………………………………………… 3.1. Giải pháp phát triển du lịch ẩm thực ở Việt Nam trong thời gian tới. ………………………………………………………………………………………………………. 3.1.1.Giải pháp về quy hoạch phát triển du lịch………………………………… 3.1.2.Giải pháp phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch……………………. 3.1.3.Giải pháp về đào tạo,phát triển nguồn nhân lực………………………… 3.1.4.Tuyên truyền,nâng cao nhận thức về du lịch ẩm thực………………… 3.1.6. Ban hành hệ thống chính sách quản lí thống nhất,đầy đủ………….. 3.2. Kiến nghị của bản thân……………………………………………………………….. 3.2.1.Kiến nghị với Tổng cục du lịch………………………………………………. 3.2.2.Kiến nghị với cục VSATTP…………………………………………………… 3.2.3.Kiến nghị với các đơn vị kinh doanh sản phẩm du lịch ẩm thực …………………………………………………………………………………………………… 3.2.4.Kiến nghị với chính quyền địa phương……………………………………. 3.2.5.Kiến nghị với nhân dân các địa bàn phát triển du lịch ẩm thực…… TỔNG KẾT CHƯƠNG III………………………………………………………………… KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………. TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………….

LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Ai cũng biết rằng: Văn hóa ẩm thực là một biểu hiện quan trọng trong đời sống con người, nó hàm chứa trong đó những ý nghĩa triết lý. Từ xa xưa , trong dân gian đã tổng kết thành câu tục ngữ: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” chủ yếu để nhắc nhở những người mới bước vào đời thì khâu đầu tiên là “học ăn”. Ở các nước khác trên thế giới, ngoài quan niệm dân gian thì các nhà chuyên môn, những người yêu thích,am hiểu về ẩm thực… đều bàn luận, viết những tài liệu, những cuốn sách hay về nghệ thuật ăn uống. Có ý kiến cho rằng: “Chính tạo hóa giúp con người kiếm thức ăn, nuôi sống họ lại còn cho họ nếm mùi khoái lạc với các món ăn ngon.” Đó thực sự là một niềm vui ,niềm hạnh phúc lớn lao của con người, là phần thưởng của tạo hóa dành cho con người. Mỗi dân tộc trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển của mình đều có phong cách ẩm thực với những đặc thù nhất định, nên đã có người nhận xét: “Có thể đoán biết được phần chính yếu của số phận một dân tộc thông qua việc quan sát họ ăn như thế nào.”.Đối với cá nhân riêng lẻ cũng vậy, “Hãy cho tôi biết anh thường xuyên thích ăn món gì, tôi sẽ có thêm cứ luận để nói rõ cho anh biết anh là người thế nào.” Đã có một vài nhận xét thú vị được rút ra như sau : -Ăn chính là nghệ thuật : “Chúng ta dựa vào trí tuệ mẫn tiệp ,tình cảm đẹp đẽ để xây dựng cuộc sống có chất lượng cao ,ngày một hoàn thiện .Vì vậy cần phải biết chọn thức ăn ngon – đó là một biểu hiện của chất lượng cuộc sống”. Rõ ràng , biết chọn thức ăn ngon, phù hợp với mình là cả một nghệ thuật -Ăn là biểu hiện của văn hóa ứng xử: “Ăn thô tục là không biết ăn.” Cha ông ta dạy: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” là rất ý nhị. Có quan niệm còn cho rằng khi ăn cũng phải giữ phong độ uy vũ, mạnh mẽ, chân tình nhưng tránh thô lậu. “Nam thực như hổ, nữ thực như miêu” là muốn nhấn mạnh ý người nam ăn phải khỏe, tư thế vẫn tỏ rõ nam tính, trái lại ,nữ nhi phải ăn uống dịu dàng, làm dáng, thể hiện cả nữ tính yểu điệu như mèo cả trong khi ăn. – Ăn chính còn là thực hiện niềm vui sáng tạo: “Phát hiện một món ăn mới phải thấy là vui sướng như phát hiện ra một ngôi sao mới”. Tạo ra một món ăn mới được xem như một phát minh .Nếu suy nghĩ được như vậy thì ẩm thực mới phát triển và thực ra nó cũng là một trong những nguồn cảm hứng vô tận cho những ai yêu nó, để tâm sức vào nghiên cứu nó.

Cuối cùng, thiết nghĩ khi chuẩn bị món ăn, người đầu bếp phải tính toán lượng nguyên liệu sao cho vừa đủ với số lượng khách; sắp xếp nồi, niêu, xoong, chảo, bát, đĩa, thìa, dao, thớt sao cho gọn gàng , sạch sẽ. Nấu món ăn nào trước, món ăn nào sau phải hợp lý, thứ tự, thái độ nấu nướng vui vẻ, hứng khởi. Khi dọn ăn, nên chú ý lời mời chào tiếp cho chu đáo , ý vị thì càng làm cho các món ăn ngon thêm bội phần. Văn hóa ẩm thực ngày được đông đảo công chúng và các chuyên gia văn hóa chú ý không chỉ ở nước ta mà ở nhiều nước. Chính vì vậy ,văn hóa ẩm thực cũng được coi như một tài nguyên du lịch,thu hút với những đối tượng khách muốn tìm hiểu về văn hoá ẩm thực của một quốc gia,vùng miền.Khoảng chục năm trước,trên thế giới đã xuất hiện loại hình du lịch ẩm thực.Kể từ khi khai sinh thật sự của nó như một ngành công nghiệp vào năm 2003 ,du lịch ẩm thực đã phát triển theo cấp số nhân mỗi năm ,được đo bằng một số chỉ số.Trước tiên ,số lượng người tiêu dùng quan tâm đến đối tượng đã phát triển nhanh chóng qua cách tăng cho thấy du lịch ẩm thực trên truyền hình.Một thực tế là ngày càng xuất hiện nhiều hơn nhiều hơn các chương trình ẩm thực trên các kênh du lịch và ngược lại ,du lịch trên các kênh thực phẩm .Bên cạnh đó ,thống kê của ICTA -hiệp hội du lịch ẩm thực -cũng cho thấy sự tăng nhanh về số lượng thành viên đã cho thấy sự phát triển của du lịch ẩm thực trên thế giới những năm gần đây.Tuy nhiên đến nay,du lịch ẩm thực vẫn còn là khái niệm khá mới lạ ở Việt Nam.Đó thực sự là một sự lãng phí nguồn tài nguyên phát triển du lịch.Vì vậy,tôi viết về đề tài này với mong muốn có thể nghiên cứu sâu hơn về các điều kiện phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam,từ đó đề ra một vài giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch này tại Việt Nam trong thời gian tới 2. Mục tiêu,nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Mục tiêu nghiên cứu Phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam trong thời gian tới Nhiệm vụ nghiên cứu -Chỉ ra tiềm năng phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam -Đánh giá mức độ phát triển của loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam hiện nay -Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam trong thời gian tới 3.Đối tượng nghiên cứu Loại hình du lịch ẩm thực 4.Phạm vi nghiên cứu Trên lãnh thổ Việt Nam

5.Phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận chung Phương pháp này đóng vai trò nền tảng ,là căn cứ để chọn lựa ,sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác Phương pháp nghiên cứu tài liệu : -Lược thuật tài liệu -Thu thập ,phân tích ,tổng hợp tài liệu 6.Nội dung nghiên cứu Ngoài phần mở đầu và phần kết luận ,nội dung của đề tài bao gồm : Chương I : Cơ sở lí luận phát triển loại hình du lịch ẩm thực Chương II : Thực trạng phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam hiện nay Chương III : Giải pháp và kiến nghị với các chủ thể quản lí và hoạt động kinh doanh du lịch nhằm phát triển loại hình du lịch ẩm thực ở Việt Nam trong thời gian tới

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH ẨM THỰC 1.1. Định nghĩa loại hình du lịch ẩm thực 1.1.1.Khái niệm văn hóa ẩm thực Khái niệm văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.Văn hóa ẩm thực là nội dung nói đến lĩnh vực chế biến,cách thưởng thức các thức ăn,đồ uống…Đó chính là nét văn hóa hình thành trong cuộc sống.Văn hóa ẩm thực có 3 nội dung: – Cách thức chế biến các đồ ăn,thức uống – Các nguyên liệu ẩm thực có giá trị tôn nhau – Cách thức thưởng thức mà nâng cao lên thành “đạo” Như vậy,văn hóa ẩm thực không chỉ là nét văn hóa về vật chất mà còn là văn hóa về tinh thần.Nét văn hóa về vật chất thể hiện trong cách trang trí món ăn sao cho đẹp mắt,món ăn dậy mùi thơm…kích thích vị giác của thực khách.Nét văn hóa về tinh thần thể hiện ở cách giao tiếp ,ứng xử giữa con người trong bữa cơm ,những nguyên tắc ,chuẩn mực ,phong tục ăn uống…Vậy nên có câu: “Hãy cho tôi biết anh thích ăn những gì,tôi sẽ cho anh biết anh là người như thế nào” 1.1.2.Khái niệm loại hình du lịch ẩm thực Theo định nghĩa của hiệp hội du lịch ẩm thực,du lịch ẩm thực là sự theo đuổi những kinh nghiệm ẩm thực độc đáo và đáng nhớ,thường khi đi du lịch nhưng cũng có thể chỉ là du lịch ẩm thực tại nhà Cụm từ “độc đáo và đáng nhớ” là chìa khóa để hiểu du lịch ẩm thực .Nhiều người khi nghe đến cụm từ “du lịch ẩm thực” thường nghĩ ngay đến một nhà hàng sang trọng hay những chai rượu vang hảo hạng.Tuy nhiên ,đó không phải là tất cả.Đôi khi du lịch ẩm thực chỉ là thưởng thức những chiếc bánh ngọt tại cửa hàng địa phương hay khám phá ra một địa chỉ ẩm thực thú vị trên một con phố không tên mà chỉ người dân địa phương biết đến…Chính những trải nghiệm độc đáo và thú vị là điều hấp dẫn ,thu hút du khách đến với loại hình du lịch này

Du lịch ẩm thực bao gồm các loại kinh nghiệm ẩm thực .Nó bao gồm các trường học nấu ăn ,sách dạy nấu ăn,các chương trình ẩm thực trên tryền hình,các cửa hàng tiện ích của nhà bếp và các tour du lịch ẩm thực… Như vậy ,du lịch ẩm thực qua các tour du lịch là một tập hợp con của du lịch ẩm thực nói chúng tôi nghĩa này,du lịch ẩm thực là một loại hình du lịch với mục đích tìm hiểu văn hóa ẩm thực của điểm đến.Trong phạm vi chuyên đề thực tập ,em cũng chỉ xin giới hạn việc nghiên cứu ở nghĩa hẹp của du lịch ẩm thực như một loại hình du lịch. 1.1.3.Phân biệt loại hình du lịch ẩm thực với các loại hình du lịch tương tự Du lịch ẩm thực với du lịch văn hóa Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm mục đích nâng cao nhận thức cho cá nhân về mọi lĩnh vực như lịch sử ,kiến trúc,hội họa ,chế độ xã hội,cuộc sống của người dân cùng các phong tục tập quán của điểm đến… Như vậy,du lịch văn hóa là khái niệm bao trùm cả du lịch ẩm thực và các loại hình du lịch khác nữa dựa vào văn hóa,nó đề cập đến việc nâng cao nhận thức cá nhân trong mọi lĩnh vực.Trong khi đó,du lịch ẩm thực chỉ là nâng cao nhận thức cá nhân trong lĩnh vực ẩm thưc,tập quán ăn uống của người dân.Du lịch ẩm thực là tập hợp con của du lịch văn hóa nên cũng giống như du lịch văn hóa,du lịch ẩm thực cũng phải dựa trên những gì là giá trị văn hóa truyền thống của điểm đến để phát triển Du lịch ẩm thực với agritourism Agritourism,theo nghĩa rộng nhất là bất kì hoạt động du lịch nào dựa trên nông nghiệp hoặc khiến cho du khách tới thăm một trang trại hay trai chăn gia súc Agritourism bao gồm một loạt các hoạt động, bao gồm cả mua những nông sản được sản xuất trực tiếp từ một trang trại, điều hướng một mê cung bắp, hái trái cây, cho động vật ăn, hoặc ở tại một B & B trên một trang trại. Như vậy,agritourism khác du lịch ẩm thực ở chỗ:agritourism nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu về các hoạt động nông nghiệp,tìm hiểu về cách thức ăn của con người được tạo ra.Còn du lịch ẩm thực nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu về nghệ thuật ẩm thực của điểm đến.Du lịch ẩm thực là tập hợp con của du lịch văn hóa(các món ăn là một biểu hiện của văn hóa),trong khi đó agritourism là tập hợp con của du lịch nông thôn.Điều đó có nghĩa là du lịch ẩm thực và agritourism gắn bó chặt chẽ với nhau,như những hạt giống của các món ăn có thể được tìm thấy trong nông nghiệp

1.2.Đặc điểm của loại hình du lịch ẩm thực Du lịch ẩm thực phản ánh và chứa đựng tài nguyên tự nhiên,văn hóa và lịch sử của bản địa Nhìn vào nền ẩm thực của một quốc gia,vùng miền nào đó ta có thể phần nào thấy được điều kiện tự nhiên của quốc gia,vùng miền đó.Bởi với điều kiện tự nhiên khác nhau như khí hậu ,địa hình…thì số lượng,chủng loại nguồn nguyên liệu cũng như mùi vị các món ăn cũng khác nhauVí dụ như Nhật Bản là quốc gia được bao bọc bởi bốn bề là biển nên thủy,hải sản rất phong phú.Bởi vậy,trong những món ăn thường ngày của người Nhật không bao giờ thiếu cá và các loại hải sản khác. Yếu tố văn hóa chính là linh hồn của du lịch ẩm thực .Chẳng ai đi du lịch chỉ để “ăn”một cách thuần túy.Vấn đề ăn uống trong du lịch đã được nâng lên thành cả một nghệ thuật.Ăn không chỉ để hưởng thụ cuộc sống mà qua ăn uống,người ta còn có thể nâng cao vốn tri thức của mình về một nền văn hóa.Các giá trị văn hóa được thể hiện trong cách chế biến hay cách thức ăn uống theo đúng kiểu của người dân bản địa.Bên cạnh đó,giá trị văn hóa còn thể hiện ở không gian kiến trúc,cách bài trí của nhà hàng,quán ăn:ở cung cách phục vụ,trang phục của nhân viên hay chính ở lối sống của người dân bản địa Du lịch ẩm thực còn phản ánh trong đó những giá trị lịch sử của mỗi vùng miền.Huế xưa kia từng là đất kinh kì,nơi mà lối sống của tầng lớp quý tộc và thượng lưu trí thức luôn được đề cao nên thực đơn và cách chế biến món ăn Huế luôn mang tính công phu, tỉ mỉ. Tư tưởng đó sau này dù khi không còn ở vị trí trung tâm của đất nước nhưng người Huế vẫn cứ muốn tìm những cái cầu kỳ trong ăn uống để khẳng định sắc thái của mình. Đó chính là cái không hướng đến sự ăn nhiều,ăn no, ăn thoải mái mà hướng đến triết lý ăn để thưởng thức cái đẹp của người Huế. Đó cũng chính là cái khung cảnh ăn uống mang đậm yếu tố thiên nhiên , hòa quyện ,gắn bó với con người. Chính đặc trưng rõ nét đó đã tạo ra một “lối nấu Huế” để phân biệt với những nơi khác. Lối nấu mà một nhà nghiên cứu về văn hóa Huế đã viết: “Trong bữa ăn, người Huế ưa ăn các món ăn đa dạng, hỗn hợp, dù mỗi món chỉ dùng một ít. Trong chế biến cũng như trong ăn uống, người Huế thích phải tinh vi, tỉ mỉ, cầu kỳ, thể hiện một ý thức mỹ cảm rõ rệt, con người ăn uống không chỉ để thỏa mãn nhu cầu sinh tồn mà còn để thưởng thức cái mà mình sáng tạo ra” Du lịch ẩm thực hướng tới việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của điểm đến

Du lịch ẩm thực phát triển dựa trên nền văn hóa ẩm thực mang đậm bản sắc của điểm đến,cái mà du khách tìm đến là bản sắc riêng của nền văn hóa đó.Điều đó có nghĩa là sự lai tạp giữa nền văn hóa ẩm thực bản địa với văn hóa ẩm thực của những vùng miền khác sẽ làm mất đi ý nghĩa của du lịch ẩm thực,làm giảm tính hấp dẫn của điểm đến với du khách.Vì vậy ,phát triển du lịch ẩm thực đặt ra yêu cầu phải bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của điểm đến. Du lịch ẩm thực mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư địa phương Du lịch ẩm thực không có nghĩa là chỉ dẫn du khách đi ăn tại các nhà hàng sang trọng ,mà đó có thể chỉ là tìm đến những quán ăn bình dân ,thưởng thức những món ăn ở đó ,để du khách có thể hòa mình với lối sống của người dân bản địa.Du khách cũng có thể tới tham quan các làng nghề ẩm thực truyền thống của địa phương ,tham gia vào một công đoạn sản xuất hoặc được tự tay chế biến những món ăn từ chính những sản phẩm của làng nghề.Điều đó có nghĩa là các nhà hàng,quán ăn bình dân và các làng nghề truyền thống của cư dân địa phương cũng là một yếu tố góp phần phát triển du lịch ẩm thực.Mặt khác,du lịch ẩm thực phát triển cũng sẽ thúc đẩy sự phát triển của các nhà hàng,quán ăn và các làng nghề truyền thống ,mang lại lợi ích cho chính các hộ kinh doanh của địa phương.Bên cạnh đó,du lịch ẩm thực phát triển sẽ tiêu thụ một lượng lớn hơn các sản phẩm nông sản và thực phẩm do địa phương tạo ra,đồng thời giúp gia tăng giá trị các sản phẩm đó lên gấp rất nhiều lần. Ngoài ra,cũng giống bất kì hoạt động du lịch nào khác ,du lịch ẩm thực phát triển cũng sẽ mang lại nguồn thu lớn cho địa phương từ các khoản phí và thuế mà các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn nộp. Về mặt xã hội,du lịch ẩm thực cũng mang lại rất nhiều lợi ích cho địa phương.Du lịch ẩm thực thu hút lượng khách lớn đến từ những nền văn hóa khác,sẽ thổi vào một luồng sinh khí mới cho điểm đến.Nền văn hóa mới với lối sống,tác phong ,suy nghĩ mới sẽ giúp dân cư địa phương mở mang đầu óc,thay đổi sự nhận thức đối với thế giới xung quanh.Đó sẽ là động lực để nhân dân địa phương tự làm mới bản thân ,nắm bắt cơ hội làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình. Cũng chính bởi lợi ích to lớn mà du lịch ẩm thực mang lại cho cộng đồng dân cư địa phương sẽ giúp họ hiểu được tầm quan trọng của các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương cũng như tính cấp thiết phải giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống đó.Như vậy,phát triển du lịch ẩm thực cần gắn với lợi ích cả công đồng dân cư địa phương

Thời gian làm việc gia đình và các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như mua hàng, dọn dẹp nhà cửa … Thời gian cần thiết để thoả mãn các nhu cầu tự nhiên, nhu cầu sinh lý: ngủ, ăn… Thời gian rỗi: Trong sự phân chia trên, thời gian rỗi là đối tượng cần nghiên cứu của môn khoa học về tổ chức du lịch. Mối quan tâm của xã hội hiện nay không chỉ là số lượng thời gian rỗi của con người. Điều quan trọng hơn là con người sử dụng thời gian đó vào mục đích gì và sử dụng như thế nào. Thời gian rỗi có thể tăng lên nếu con người sử dụng thời gian hợp lý quỹ thời gian và có chế độ lao động đúng đắn. Với chế độ làm việc năm ngày một tuần ở nhiều nước, số thời gian rỗi tăng lên và đó là điều kiện thực tế để tổ choc hợp lý du lịch và nghỉ ngơi cho nhân dân lao động. Thời gian rỗi còn tăng bằng cách giảm bớt thời gian của các công việc khác ngoài giờ làm việc. Tóm lại, để có thể tăng thời gian rỗi, phải có cơ cấu thời gian ngoài giờ làm việc hợp lý. Điều này có thể thực hiện được nếu mạng lưới thương nghiệp được mở rộng, mạng lưới phục vụ công cộng, giao thông, y tế…được tổ chức và quản lý tốt. Thời gian rỗi nằm trong quỹ thời gian, còn thời gian dành cho du lịch, thể thao và nghỉ ngơi lại nằm trong thời gian rỗi. Do vậy, du lịch muốn phát triển tốt phải nghiên cứu đầy đủ cơ cấu của thời gian làm việc, cơ cấu của thời gian rỗi, phải xác lập được ảnh hưởng của các thành phần thời gian khác lên thời gian rỗi. Việc áp dụng phương pháp hệ thống tìm ra các phương hướng phát triển và phục cụ thích hợp cho thể thao, du lịch và nghỉ ngơi. Trên cơ sở xu hướng phát triển của thời gian làm việc, thời gian ngoài giờ làm việc và thời gian rỗi, các chuyên gia đã dự đoán, số ngày làm việc bình quân một năm sẽ không vượt qúa 200. Đó là điều kiện thực tế và khả năng tăng số ngày nghỉ phép trong năm cho phép các tổ chức du lịch thu hút được thêm khách đến các cơ sở của mình. Số thời gian rỗi ngày càng được kéo dài đó phải được sử dụng hợp lý. Các cơ sở du lịch sẽ trở thành nguồn tiết kiệm thời gian rỗi và là tiền đề vật chất cho việc kéo dài thời gian rỗi của nhân dân lao động. Các cơ sở ấy đóng vai trò trung tâm trong việc kích thích sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lý, để thoả mãn nhu cầu thể chất và tinh thần cho toàn dân. 1.3.1.2. Mức sống về vật chất và trình độ văn hoá chung của người dân cao. Mức sống về vật chất cao

Thu nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia đi du lịch. Con người khi muốn đi du lịch không phải chỉ cần có thời gian mà còn phảicó đủ tiền mới có thể thực hiện được mong muốn đó. Khi đi du lịch và lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên, khách du lịch luôn là người tiêu ding của nhiều loại dịch vụ, hàng hoá. Con người để có thể đi du lịch và tiêu dùng phải có phương tiện vật chất đầy đủ. Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi du lịch nói chung thành có khả năng thanh toán,vì khi đi du lịch họ phải trả ngoài các khoản tiền cho các nhu cầu giống như các nhu cầu thường ngày, còn phải trả thêm các khoản khác như tiền tàu xe, tiền thuê nhà ở, tiền tham quan…và xu hướng của con người khi đi du lịch là chi tiêu rộng rãi hơn. Do vậy, phúc lợi vật chất của nhân dân là điều kiện có nghĩa to lớn trong sự phát triển của du lịch. Và mỗi khi thu nhập của nhân dân tăng thì sự tiêu dùng của du lịch tăng theo, đồng thời có sự thay đổi về cơ cấu của tiêu dùng du lịch. Phúc lợi vật chất của nhân dân luôn phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, vào thu nhập quốc dân của đất nước đó. Vì nguyên nhân đó, những nước có nền kinh tế phát triển, đảm bảo cho dân có mức sống cao, một mặt,có điều kiện sản xuất ra nhiều của cải vật chất và có khả năng phát triển du lịch trong nước và mặt khác có thể gửi khách du lịch ra nước ngoài, nhưng vì kinh tế lạc hậu, chậm phát triển nên không thể phát triển du lịch và càng không thể gửi nhiều khách du lịch ra nước ngoài được. Trình độ văn hoá chung của nhân dân cao Trình độ văn hóa chung của một dân tộc được nâng cao, thì động cơ đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt. Số người đi du lịch tăng, lòng ham hiểu biết và mong muốn làm quen với các nước xa gần cũng tăng và trong nhân dân, thói quen đi du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ rệt. Mặt khác, nếu trình độ văn hoá chung của một đất nước cao, thì đất nước đó khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ khách du lịch một cách văn minh và làm hài lòng khách đi du lịch đến đó. 1.3.1.3. Điều kiện giao thông vận tải phát triển Từ xưa, giao thông vận tảilà tiền đề cho sự phát triển du lịch. Ngày nay, giao vận tải đã trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế. Trong những năm gần đây, lĩnh vực giao thông, đặc biệt là giao thông trong du lịch phát triển cả về lượng lẫn về chất lượng. Phát triển về số lượng: thực chất đó là việc tăng chủng loại và số lượng các phương tiện vận chuyển. Sự phát triển về số lượng của các phương tiện vận chuyển

đã làm cho mạng lưới giao thông vươn tới được mọi nơi trên trái đất. Hiện nay trên thê giới có trên 300 triệu khách du lịch đI qua biên giới các nước bằng các phương tiện vận chuyển khác nhau. Phát triển về chất lượng của các phương tiện vận tải theo hướng: Tốc độ vận chuyển: Việc tăng tốc độ vận chuyển cho phép tiết kiêm thời gian đi lai và cho phép kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch và cho phép khách du lịch đến những nơi xa xôi Đảm bảo an toàn trong vận chuyển: Ngày nay, sự tiến bộ khoa hoc kỹ thuật đã làm tăng rõ rệt tính an toàn trong vận chuyển hành khách Đảm bảo tiện lợi trong vận chuyển Vận chuyển với giá rẻ Tiến bộ của vận chuyển hành khách còn thể hiện trong sự phối hợp các loại phương tiện vận chuyển. Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của du lịch. Sự phối hợp đó có hai mức độ: mức độ dân tộc và mức độ quốc tế. Cả hai mức độ có vai trò quan trọng trong vận chuyển hành khách du lịch. Việc tổ chức vận tải phối hợp tốt cho phép rút ngắn thời gian chờ đợi ở các điểm giữa tuyến và tạo ra điều kiện thuận lợi khi phảiđổi phương tiện vận chuyển và làm vừa lòng khách đi du lịch.. 1.3.1.4. Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước Khả năng và xu hướng phát triển du lịch của một đất nước phụ thuộc ở mức độ lớn vào tình hình và xu hướng phát triển kinh tế ở đó. Theo ý kiến của một số chuyên gia kinh tế thuộc Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc, một đất nước có thể phát triển du lịch nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du lịch. Nếu một nước phải nhập một khối lượng lớn hàng hoá để trang bị cho cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo phục vu khách du lịch thì việc cung ứng vật tư hàng hóa sẽ hết sức khó khăn. Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của một đất nước được phân tích và đánh giá chủ yếu theo các hướng: Thực trạng và xu hướng phát triển của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc nội tình theo đầu người. Tỷ trọng và xu hướng phát triển của các ngành sản xuất ra hàng hoá tiêu dùng và các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất. Sự phát triển của ngành công nghiệp nhẹ, nông nghiệp và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm có ý nghĩa quan trọng

đỗi với việc phát triển du lịch. Vì ngành du lịch sử dụng khối lượng lớn lương thực, thực phẩm. Xu hướng phát triển của nội, ngoại thương Tỷ trọng dân đang trong độ tuổi lao động tích cực trong tổng dân số. Đặc biệt đối với ngành du lịch là ngành cần có hàm lượng lao động sống lớn thì yếu tố này đặc biệt quan trọng trong giúp cho hoạt động du lịch phát triển 1.3.1.5. Tình hình chính trị hoà bình, ổn định của đất nước và các điều kiện an toàn đối với du khách. Tình hình chính trị, hoà bình ổn định là tiền đề cho sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của một đất nước. Một quốc gia mặc dù điều kiện tài nguyên phong phú cũng không thể phát triển du lịch nếu như ở đó luôn xảy ra những sự kiện hoặc thiên tai làm xấu đi tình hình chính trị và hoà bình ổn định thì không có điều kiện để phát triển kinh doanh du lịch và cũng không thu hút được khách du lịch. Các điều kiện an toàn đối với khách du lịch Các yếu tố ảnh hưởng đến sự an toàn trực tiếp hoặc gián tiếp của khách du lịch có thể theo các hướng sau: Tình hình an ninh, trật tự xã hội Lòng hận thù đối của dân bản địa đối với một dân tộc nào đó Các loai bệnh dịch Nói tóm lại, các điều kiện chung để phát triển du lịch ở trên tác động một cách độc lập lên sự phát triển du lịch. Các điều kiện ấy ảnh hưởng đến du lịch tách rời nhau. Do vậy, nếu thiếu một trong những điều kiện ấy thì sự phát triển của du lịch có thể bị trì trệ, giảm sút hoặc hoàn toàn ngừng hẳn. Sự có mặt của tất cả các điều kiện trên đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ cả ngành du lịch như một hiện tượng kinh tế – xã hội đai chúng và lặp lại đều đặn. 1.3.2.Điều kiện đặc trưng phát triển du lịch ẩm thực . Nền văn hóa ẩm thực phong phú,độc đáo Đối với những loại hình du lịch khác,ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tác động tới cảm nhận của du khách về toàn bộ chuyến đi du lịch nhưng không được xem như là một nhân tố để du khách quyết định thực hiện chuyến du lịch.Vì vậy ,đôi khi chỉ cần xây dựng thực đơn cho phù hợp với khẩu vị của du

khách.Nhưng đối với loại hình du lịch ẩm thực ,ẩm thực lại là nhân tố quyết định trong việc lựa chọn chương trình du lịch,các điểm đến.Chính vì vậy ,điểm đến có nền văn hóa ẩm thực càng phong phú, độc đáo bao nhiêu thì càng hấp dẫn với du khách bấy nhiêu.Mức độ phong phú của một nền ẩm thực có thể là do sự hội tụ của nhiều tộc người khác nhau với những sắc thái ẩm thực khác nhau trên cùng một vùng,miền hoặc cũng có thể đó là nơi tập trung của nhiều làng nghề ẩm thực …Sự phong phú của nền văn hóa ẩm thực sẽ mang đến cho du khách nhiều cơ hội khám phá ,học hỏi .Còn tính độc đáo được tạo nên bởi những đặc trưng của một nền ẩm thực,nó tạo ra sự khác biệt với các nền văn hóa ẩm thực khác.Sự độc đáo có thể thể hiện ở cách thức chế biến món ăn,mùi vị đặc trưng ,lợi ích của món ăn hay ở kiến trúc nhà hàng,quán ăn…Tuy nhiên,khi đưa vào để phát triển thành một sản phẩm du lịch thì tình độc đáo cũng chỉ là một khái niệm tương đối vì trong du lịch,các sản phẩm du lịch rất dễ bị bắt chước.Vì vậy,luôn tìm tòi ,sáng tạo nhưng không làm mất đi bản sắc riêng là yêu cầu không thể thiếu trong việc phát triển du lịch nói chung,du lịch ẩm thực nói riêng

một công đoạn sản xuất tại làng nghề hay tự nấu một món ăn và thưởng thức thành quả tự mình làm ra. Tuy nhiên ,việc thiết kế ,xây dựng các nhà hàng ,quán ăn đặc biệt chú ý đến các điều kiện về vệ sinh và sự hài hòa với môi trường xung quanh Nguồn nhân lực,đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất,chế biến,dịch vụ ăn uống có chất lượng cao Du lịch là một lĩnh vực hoạt động kinh doanh cung cấp dịch vụ.Bởi thế,nhân tố con người càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của hoạt động kinh doanh du lịch. Đối với loại hình du lịch ẩm thực ,lao động trong bộ phận sản xuất,chế biến thực phẩm và bộ phận phục vụ thức ăn,đồ uống cần được chú trọng đặc biệt.Du khách tìm đến với loại hình du lịch này với mong muốn có được những trải nghiệm độc đáo và đáng nhớ về ẩm thực.Do đó,phải làm sao để chế biến ra những món ăn,đồ uống ngon,bổ,trình diễn những kĩ thuật chế biến mới lạ,hấp dẫn và tạo dựng được phong cách phục vụ chuyên nghiệp.Để làm được điều đó,không những đòi hỏi bản thân người lao động cần có lòng nhiệt huyết,đam mê,tự trau dồi kiến thức mà còn có sự đào tạo bài bản từ phía các trường lớp ,các viện nghiên cứu.Có vậy mới tạo ra đội ngũ người lao động đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng Sự tham gia tích cực của công đồng dân cư địa phương Cũng như điều kiện để phát triển du lịch văn hóa ,sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương là cần thiết đối với sự phát triển của du lịch ẩm thực.Đối với loại hình du lịch ẩm thực,cái mà du khách tìm đến không chỉ là vị ngon của thức ăn ,đồ uống mà còn là những giá trị về mặt tinh thần .Đó là sự hiểu biêt về một nền văn hóa khác thông qua những phong tục truyền thống,lối sống của người dân bản địa.Hơn ai hết,chính người dân bản địa lại là những người am hiểu nhất về nền văn hóa địa phương.Và cũng chính họ sẽ là người quyết định sự thịnh suy của nền văn hóa đó.Chính vì vậy,để có thể lưu giữ và phát huy một nền văn hóa thì phải dựa vào chính người dân địa phương. Sự đảm bảo về an toàn vệ sinh thực phẩm Vấn đề an ninh,an toàn tính mạng luôn là vấn đề du khách quan tâm khi quyết định điểm đến cho chuyến hành trình du lịch của mình.Theo lý thuyết Maslow về nhu cầu của con người,nhu cầu an ninh,an toàn cho tính mạng được xếp ở vị trí thứ hai trong thang bậc các nhu cầu,chỉ sau nhu cầu sinh lí.Với loại hình du lịch ẩm

thực,du khách dường như luôn tiếp xúc với thức ăn,đồ uống của điểm đến.Nếu không được đảm bảo về vệ sinh thì đó chính là nguồn khiến mầm bệnh xâm nhập trực tiếp và nhanh nhất vào cơ thể con người.Do đó ,cần chú trọng đặc biệt đến vấn đề vệ sinh,cả ở khu vực bên trong các nhà hàng,quán ăn,các làng nghề và môi trường xung quanh..Đối với bên trong,phải đảm bảo sự sạch sẽ ở mức cao nhất các trang thiết bị,dụng cụ nấu nướng,ăn uống.Nguồn nguyên liệu phải rõ ràng xuất xứ,đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh…Đối với bên ngoài,cần thực hiện tốt các điều kiện vệ sinh môi trường và các biện pháp xử lí chất thải…

địa phương ,các đơn vị kinh doanh du lịch cần xác định những đặc trưng của nền văn hóa ẩm thực trên địa bàn,khu vực và nghiên cứu đặc điểm đối tượng khách hàng mục tiêu cho phù hợp 1.4.Ý nghĩa của việc phát triển loại hình du lịch ẩm thực đối với Việt Nam 1.4.1.Về mặt kinh tế Du lịch ẩm thực giúp làm gia tăng giá trị tổng sản phẩm quốc dân cho ngành du lịch và cho đất nước Cũng giống như các hoạt động du lịch khác,du lịch ẩm thực làm tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương phát triển du lịch ẩm thực.Nguồn thu này lấy từ các khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở kinh doanh du lịch thuộc quản lí trực tiếp của địa phương. Du lịch ẩm thực còn góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo.Vì chính yêu cầu hỗ trợ liên ngành trong hoạt động du lịch là cơ sở cho các ngành khác phát triển như giao thông vận tải,tài chính,bưu điện…Chính du lịch giúp nền kinh tế trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa.Với du lịch ẩm thực thì khách du lịch cũng không thể ăn uống liên tục cả ngày.Theo điều tra của hiệp hội nhà hàng quốc gia Hoa Kì,hiệp hội công nghiệp du lịch của Mỹ và ủy ban du lịch Canada,khách du lịch,người quan tâm đến rượu vang/ẩm thực cũng cho thấy một ái lực đối với các viện bảo tàng,nhà hát,mua sắm,âm nhạc,liên hoan phim và giải trí ngoài trời.Thực tế là chi tiêu cho các hoạt động này nhiều khi còn lớn hơn cả tổng hóa đơn bữa tối.Như vậy ,không chỉ ngành kinh doanh ăn uống tăng doanh thu mà doanh thu của các doanh nghiệp khác cũng tăng lên đáng kể nhờ phát triển hoạt động kinh doanh du lịch ẩm thực. Mặt khác,du lịch ẩm thực dựa trên nguồn tài nguyên chính là ẩm thực,nguồn tài nguyên hấp dẫn có sẵn quanh năm.Phát triển loại hình du lịch ẩm thực nhờ vậy sẽ kéo dài thời gian lưu trú của khách ,góp phần khắc phục tính mùa vụ trong du lịch Du lịch ẩm thực giúp tăng sản lượng tiêu thụ và gia tăng giá trị cho các sản phẩm nông nghiệp,chăn nuôi,thủy hải sản,công nghiệp chế biến thực phẩm Ta thử làm phép tính đơn giản sau:Giá của một kg cà chua bán trên thị trường chưa được 1USD nhưng khi đem bán vào nhà hàng ,khách sạn làm món salat trộn sẽ tăng gấp chục lần.Báo chí cũng đã viết rằng:1kg cà phê hạt là 1USD nhưng chế biến 1kg cà phê để bán cho người tiêu dùng cho vào cốc cà phê thì giá sẽ lên tới 600USD.Như vậy ,có thể thấy dịch vụ phục vụ ăn uống sẽ làm tăng giá trị các sản

Chương Trình ” Du Lịch Và Ẩm Thực” Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hà Nội / 2023

Chương trình “Du lịch và ẩm thực” là chương trình dạng phóng sự trải nghiệm ghi lại hành trình đến thăm và tìm hiểu về một địa điểm du lịch mới hoặc một món ăn ngon. Mỗi số là một trải nghiệm đưa đến người xem những điều thú vị về cảnh sắc thiên nhiên của Đất nước và các món ẩm thực đặc trưng của từng vùng miền Việt Nam.

Thời gian phát sóng: 15h40 – 16h00 thứ 7 hàng tuần

Kênh phát sóng: H1

Tần suất phát sóng: 1 lần/tuần.

Điểm nhấn của “Du lịch và Ẩm thực”, BTV và đầu bếp sẽ là hai nhân vật chính đưa quý vị bước vào hành trình khám phá những điểm du lịch mới, hấp dẫn; cùng chế biến, thưởng thức những món ăn, ẩm thực thực riêng có của từng vùng, miền trên dải đất hình chữ S.

Không chỉ giới thiệu khám phá những địa danh, điểm du lịch hấp dẫn, khám khá vẻ đẹp của những vùng đất khác nhau, BTV Phan Quyên và đầu bếp sẽ cùng khán giả trải nghiệm, cùng chế biến, thưởng thức những món ngon, đặc trưng của từng vùng miền.

BTV Phan Quyên và đầu bếp Nguyễn Phương Hải là hai nhân vật dẫn dắt chương trình. Ảnh cắt từ Clip

“Ẩm thực Việt Nam mang những nét văn hóa riêng biệt và rất đa dạng, phong phú ở ba miền Bắc, Trung và Nam. Để tìm hiểu văn hóa của bất kỳ vùng miền nào, chúng ta không thể quên được văn hóa ẩm thực. Bản thân đi rất nhiều nơi, tôi thấy ở mỗi vùng miền đều có những đặc trưng riêng về văn hóa ẩm thực. Khi chúng ta thưởng thức những đặc sản của vùng miền đó sẽ hiểu rõ hơn về nếp sống tập tục, về nét văn hóa đặc trưng của nơi ấy. Du lịch kết hợp với ẩm thực sẽ là trải nghiệm sống động, thực tế của du khách”, BTV Phan Quyên cho hay.

Cảm nhận của chính BTV và khách du lịch thực sự sẽ mang đến cho khán giả những thông tin chân thật và bổ ích nhất.

Ê kíp sản xuất chương trình. Ảnh do nhân vật cung cấp

“Du lịch và Ẩm thực” sẽ là cuốn cẩm nang hứa hẹn đem đến cho quý vị nhiều thông tin hữu ích về những địa danh, điểm đến hấp dẫn, thú vị, độc đáo và địa chỉ những món ăn ẩm thực riêng có của từng vùng.

Mở Các Loại Hình Du Lịch Mới / 2023

Mọi người luôn phê bình ngành Du lịch Việt Nam nghèo nàn về sản phẩm du lịch và chất lượng sản phẩm chưa cao. Điều này hoàn toàn đúng với những tổng kết trên. Để phát triển du lịch, trước hết là thu hút nhiều khách du lịch những người làm du lịch trước hết phải nắm được nhu cầu, thị hiếu, sở thích và khả năng thanh toán của khách, vì thế triết lý của marketing ngày nay đã thay đổi 4P thành 4C mà 2C đầu tiên là Customer Solutions (giải pháp thực hiện theo nhu cầu của khách hàng) sau đó là Customer Cost (chi phí khách hàng có thể chấp nhận).

Trong hoạt động du lịch, khách là yếu tố quyết định cho sự phát triển, khách du lịch là những người có giới tính, tuổi tác, dân tộc, nghề nghiệp, phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng và khả năng tài chính khác nhau, những người làm du lịch cần phải nắm vững được các vấn đề này mới có thể thu hút được khách du lịch. Phải tạo ra những điều mới lạ, độc đáo và hấp dẫn phù hợp với từng đối tượng khách du lịch được thể hiện trong các loại hình du lịch.

Trong những năm qua, loại hình du lịch cơ bản của Việt Nam là du lịch biển, nghỉ núi, du lịch tham quan theo tuyến…, loại hình du lịch văn hóa tuy có đề cập nhưng vẫn chưa tạo ra nhiều ấn tượng để thu hút khách, mặc dù chúng ta có rất nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận.

Những loại hình du lịch khác theo nhu cầu của du khách chưa được tổ chức, một phần do ý tưởng sáng tạo của các nhà kinh doanh, nhưng phần khác vướng vào những quy định của luật pháp.

Có thể thấy rằng, nhiều loại hình du lịch theo yêu cầu của du khách và ý tưởng của người làm du lịch nhưng các quy định của pháp luật không cho phép nên không thể thực hiện. Nếu thực hiện sẽ phải đi xin phép nhiều Bộ, ngành và địa phương mất nhiều thời gian nhưng lại chỉ mang tính thử nghiệm chưa được tổ chức thường xuyên và liên tục.

Đối với các loại hình du lịch truyền thống, chúng ta mới chỉ khai thác một cách nguyên sơ mà chưa có nhiều ý tưởng sáng tạo để cạnh tranh thu hút khách. Có thể thấy một số loại hình du lịch cơ bản sau:

1. Du lịch biển, đảo: Việt Nam có đường biển dài trên 3.000km, có nhiều bãi biển đẹp, cát trắng, nước biển trong xanh nhưng khả năng thu hút khách du lịch quốc tế còn rất hạn chế so với các nước trong khu vực như: Thai Lan, Malaysia, Bali (Indonexia). Vậy nguyên nhân chủ yếu ở đây là gì, phải chăng sức cạnh tranh của các khu du lịch vùng biển kém, phải chăng chưa có các loại hình du lịch khác ở đây có sức hút đối với du khách.

Chúng tôi còn nhớ, khi nói chuyện với khách du lịch Nga đến nghỉ tại Nha Trang họ ca ngợi bãi biển rất đẹp, nước biển tuyệt vời, nhưng ngoài tắm biển họ không có nhiều hoạt động để chơi. Người Nga thích uống rượu ở các quán bar đến gần hết đêm, họ thích đi nhảy ở những vũ trường lớn, họ thích tắm hơi công cộng (theo kiểu châu Âu) … Họ không thích vào các phòng Karaoke và phòng Sauna và Massaga chật hẹp. Họ không thích đi tham quan nhiều nên họ chỉ đến một lần cho biết.

Châu Anh (Còn nữa)