Top 4 # Xem Nhiều Nhất Ngành Văn Hóa Du Lịch Là Gì Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Tuvanduhocsing.com

Ngành Văn Hóa Học Là Gì? Ra Trường Làm Nghề Gì?

Cập nhật: 30/12/2019

Văn hoá học là một ngành khoa học được hình thành trên vùng tiếp giáp của các tri thức xã hội, nhân văn về con người và xã hội, nhằm nghiên cứu văn hoá như một chỉnh thể toàn vẹn và như một chức năng đặc biệt. Ngành Văn hóa học trang bị những kiến thức cơ bản giúp sinh viên tiếp cận công việc đạt hiệu quả như mong muốn.

1. Tìm hiểu ngành Văn hóa học

Ngành Văn hoá học

Chương trình đào tạo ngành Văn hóa học trang bị những kiến thức nền tảng về khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có hệt thống kiến về văn hoá, văn hoá học lý luận và văn hoá học ứng dụng. Đồng thời, ngành học còn chú trọng về đào tạo các kỹ năng cứng lẫn kỹ năng mềm như: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, phân tích, vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn, kỹ năng về xử lý vấn đề và trách nhiệm xã hội.

Ngành Văn hóa học còn cung cấp thêm về cách tổ chức công việc, sử dụng được ngoại ngữ, công nghệ thông tin trong lĩnh vực nghề nghiệp, có khả năng tự bồi dưỡng, độc lập trong nghiên cứu, cập nhật kiến thức. Ngành học này giúp sinh viên có khả năng lập luận, trình bày vấn đề tốt trong nhiều môi trường khác nhau và có ý thức tự học suốt đời, biết cách quản lý thời gian, tổ chức công việc bản thân, hoàn thành mục tiêu đề ra.

2. Chương trình đào tạo ngành Văn hóa học

A. Khối kiến thức giáo dục đại cương B. Khối kiến thức chuyên nghiệp a. Bắt buộc b. Tự chọn theo định hướng chuyên ngành Theo Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

3. Các khối thi vào ngành Văn hóa học

Ngành Văn hóa học có mã ngành 7229040, xét tuyển các tổ hợp môn sau:

C00 (Ngữ Văn, Lịch Sử, Địa Lý)

C20 (Ngữ văn, Địa lí, Giáo dục công dân)

D01 (Ngữ Văn, Toán, Tiếng Anh)

D14 (Ngữ văn, Lịch sử, Tiếng Anh)

D15 (Ngữ văn, Địa Lý, Tiếng Anh

D78 (Ngữ văn, Khoa học xã hội, Tiếng Anh)

Mức điểm chuẩn của ngành Văn hóa học dao động trong khoảng từ 18 – 23 điểm đối với các tổ hợp môn C00, C20, D01, D14, D15, D78 dựa theo kết quả kỳ thi THPT Quốc gia năm 2018.

5. Các trường đào tạo ngành Văn hóa học

Danh sách các trường đại học đào tạo ngành Văn hóa học tại nước ta hiện nay gồm:

6. Cơ hội việc làm của ngành Văn hóa học

Ngành Văn hoá học ra trường làm gì?

Ngành Văn hóa học có khá ít trường đại học đào tạo nên đầu ra luôn không đủ đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực của các công ty, doanh nghiệp. Sinh viên tốt nghiệp ngành Văn hóa học sẽ làm việc trong những lĩnh vực sau:

Nghiên cứu viên: chuyên nghiên cứu về văn hóa tại các Viện, Sở nghiên cứu hoặc các trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trên khắp cả nước.

Giảng dạy, đào tạo về khoa học văn hóa tại các trường đại học, cao đẳng, các trường trung cấp nghề, trường nghiệp vụ về văn hóa – thông tin, về chính trị hay hành chính Nhà nước và các tổ chức xã hội.

Quản lý tại các tổ chức, cơ quan Nhà nước về ngành văn hóa, thông tin, du lịch như: Sở văn hóa – thể thao du lịch, phòng văn hóa thông tin huyện, nhà văn hóa, phòng văn hóa các cấp từ Trung ướng đến địa phương.

Biên tập viên chuyên mục văn hóa tại các tạp chí, cơ quan truyền thông báo chí, hay biên dịch, biên soạn sách giáo khoa, soạn thảo văn bản, truyện tranh, thơ, văn…

Cán bộ nhà nước trong hoạt động quản lý văn hóa nghệ thuật, bảo tồn di sản văn hóa, hay viện bảo tàng…

7. Mức lương ngành Văn hóa học

Mức lương ngành văn hóa học được phân thành 2 bậc như sau:

Đối với những cá nhân làm việc trong cơ quan hành chính, cơ quan quản lý nhà nước, lương cơ bản sẽ được tính theo cấp bậc lương quy định của nhà nước cho cán bộ, công chức.

Đối với những cá nhân làm việc tại những cơ quan, doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân sẽ có các mức lương khác nhau tùy thuộc vào vị trí công việc, đơn vị làm việc và kinh nghiệm, năng lực bản thân.

8. Những tố chất phù hợp với ngành Văn hóa học

Để học tập và thành công trong lĩnh vực Văn hóa học, bạn cần hội tụ những tố chất sau:

Có khả năng sáng tạo, linh hoạt;

Khả năng viết, biên soạn tốt, nhanh nhạy trong việc phát hiện và xử lý vấn đề;

Biết cách phân tích, tổng hơp thông tin;

Nghiêm túc, chịu khó trong công việc;

Tính nhẫn nại và tỉ mỉ;

Có kỹ năng giao tiếp, thuyết trình tốt, có khả năng thuyết phục người nghe;

Tự tin, bản lĩnh trước đám đông;

Có ý thức trách nhiệm công dân, luôn tôn trọng và tự hào về tài sản văn hóa quốc gia và địa phương;

Có ý thức bảo tồn những kho tàng văn hóa các dân tộc thiểu số.

Văn Hóa Du Lịch Là Gì?

Ngày nay, cuộc sống của con người càng được nâng cao và cải thiện với những công nghệ tiên tiến, hiện đại. Tuy nhiên chính sự phát triển đó dường như đã khiến mọi người luôn phải ở trong trạng thái bận rộn, quay cuồng với công việc.

1. Văn hóa du lịch là gì?

Văn hóa du lịch được hiểu là sự thể hiện nội dung văn hóa trong lĩnh vực du lịch, được tích lũy và sáng tạo trong hoạt động du lịch bởi bốn chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch là khách du lịch, doanh nghiệp du lịch, cộng đồng dân cư nơi diễn ra hoạt động du lịch và chính quyền các cấp.

Bên cạnh đó, văn hóa du lịch còn được hình thành và phát triển cùng với hoạt động du lịch và là một phạm trù lớn, vừa thể hiện những giá trị văn hóa của hoạt động quản lý, nghiên cứu, kinh doanh, trải nghiệm du lịch, vừa góp phần tuyên truyền, quảng bá các giá trị tốt đẹp của văn hóa và nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp ấy.

2. Văn hóa vật thể

Văn hóa là kết quả sáng tạo, sự tiến hóa, thích nghi của xã hội loài người. Có hai loại hình văn hóa du lịch được thế giới thống nhất, trong đó có văn hóa vật thể. Đây là kể quả của hoạt động sinh hoạt, sáng tạo, thiết kế, tạo ra những tác phẩm và giá trị mang tính hiện hữu, vật chất.

Những tác phẩm của văn hóa vật thể có thể nhắc đến như các tác phẩm tranh ảnh, nghệ thuật, văn học, dụng cụ. Việt Nam là một trong những quốc gia sở hữu những văn hóa vật thể được công nhận trên thế giới như trống đồng Đông Sơn, cồng chiêng Tây Nguyên.

3. Văn hóa phi vật thể

Văn hóa du lịch là gì? là một trong câu hỏi khiến nhiều khách du lịch phải băn khoăn và suy nghĩ. Văn hóa du lịch là những giá trị văn hóa mang bản sắc dân tộc được thể hiện thông qua hoạt động du lịch giúp gắn kết cộng đồng làm du lịch, cộng đồng cư dân địa phương, chủ nhân các tài nguyên du lịch, góp phần xây dựng con người của quốc gia dân tộc.

Ngoài văn hóa vật thể thì loại hình du lịch văn hóa phi vật thể cũng được thế giới thống nhất với nhau. Văn hóa phi vật thể là tất cả những giá trị văn hóa về mặt tin thần, hay còn gọi là vô hình, những thứ không cầm nắm được, là đời sống tâm linh của con người.

Các loại hình văn hóa phi vật thể có thể kể đến như ca dao tục ngữ, các câu chuyện thần thoại trong dân gian, các hình thức diễn xướng, ca hát, làn điệu nghệ thuật. Một trong những di sản văn hóa của Việt Nam được UNESCO công nhận là Nhã nhạc cung đình Huế, Đờn ca tài tử Nam Bộ, Dân ca quan họ Bắc Ninh.

¬ Ngành Việt Nam Học (Chuyên Ngành Văn Hóa Du Lịch)

Ngành Việt Nam học sẽ mang đến cho người học một bức tranh tổng thể về Việt Nam với những giá trị như sau:

Cung cấp cho người học hệ thống kiến thức sâu sắc và toàn diện về Việt Nam, giúp thấu hiểu các giá trị cốt lõi và bản sắc riêng của cá nhân, cộng đồng, đất nước. Từ đó, khiến mọi người có thái độ trân trọng và yêu quý Việt Nam hơn. Ở phương diện đối tượng của một ngành đào tạo, Việt Nam học là một trong những ngành có tính nhân văn cao cả.

Sự đặc sắc về cảnh quan của Việt Nam khiến cho đất nước này trở thành một điểm đến du lịch quyến rũ, có sức hút bậc nhất ở châu Á. Vì vậy, Việt Nam học còn là một hành trình vui chơi và khám phá qua quá trình học về hệ thống di tích danh thắng cùng những điểm đến du lịch nổi tiếng trên khắp mọi miền đất nước trong chương trình học.

Kết hợp với ngành Việt Nam học, phân môn Tiếng Việt cho người nước ngoài tại Khoa KHXH&NV – Duy Tân vừa là phương tiện, vừa là chìa khóa giúp bạn bè quốc tế có thể tiếp cận và thích ứng dễ dàng hơn khi đến Việt Nam. Nơi đây là địa chỉ học tập lí tưởng cho những ai có niềm say mê với Văn hóa Việt và mong muốn sinh sống – làm việc tại mảnh đất ” Nghìn năm văn hiến”.

Ngành Việt Nam học, chuyên ngành Văn hóa Du Lịch sẽ đào tạo trên cơ sở chọn lọc, tích hợp nhiều điểm ưu việt của cả 2 hệ thống kiến thức Văn hóa và Du lịch; trang bị cho người học hệ thống kiến thức cốt lõi của chuyên ngành Việt Nam học trong bối cảnh ngành du lịch đang có bước phát triển mạnh ở Việt Nam; chú trọng gia tăng hàm lượng các môn kỹ năng, trang bị cho sinh viên những kỹ năng nghề nghiệp cần thiết; chú trọng gia tăng hàm lượng giảng dạy thực tế. Những chuyến đi thực tế tìm hiểu kiến thức môn học trên thực địa là đặc thù nổi trội của chương trình đào tạo Việt Nam học.

Hơn nữa, Việt Nam học là ngành học có tính liên ngành, đậm nét hàn lâm văn hóa. Xây dựng chương trình theo hướng ứng dụng với chuyên ngành Văn hóa – Du lịch, sinh viên sẽ được cung cấp những kiến thức về văn hóa, lịch sử của nhiều nền văn hóa muôn màu muôn vẻ khi khám phá hệ thống kiến thức và những trải nghiệm thực tiễn về: Văn hóa ẩm thực, Văn hóa ứng xử, giao tiếp, trang phục, âm nhạc, kiến trúc v…v… cùng với kỹ năng thiết thực, sát với định hướng nghề nghiệp ở lĩnh vực Văn hóa và Du lịch sau khi ra trường.

Để hoàn thành chương trình học Việt Nam học (chuyên ngành Văn hóa Du lịch) sinh viên cần phải tích lũy 132 tín chỉ (chưa tính Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng và các buổi sinh hoạt ngoại khóa khác). Trong quá trình theo học, sinh viên sẽ được trang bị các kiến thức chuyên ngành thuộc lĩnh vực văn hóa như: Phong tục tập quán lễ hội Việt Nam, Văn hóa Làng và Du lịch bản làng, Tín ngưỡng các dân tộc Việt Nam, Di sản mỹ thuật thế giới và Việt Nam; và các môn thuộc lĩnh vực du lịch như: Ẩm thực Việt Nam – lý thuyết và thực hành, Nghiệp vụ nhà hàng, Nghiệp vu bàn, Tiếp thị du lịch, Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch …

Điểm nhấn của ngành Việt Nam học, chuyên ngành Văn hóa Du lịch là chương trình tài năng tạo cơ hội cho sinh viên nhiều cơ hội trau dồi kỹ năng giao tiếp và trình độ ngoại ngữ nâng cao. Đặc biệt các em sẽ có cơ hội giao lưu với các bạn sinh viên đến từ nhiều quốc gia khác nhau của khu vực Asean. Những hoạt động quảng bá văn hóa, điền dã, ngoại khóa sẽ giúp cho sinh viên có thêm nhiều trải nghiệm và tăng cường hiểu biết nhiều nền văn hóa hết sức đa dạng của đất nước Việt Nam xinh đẹp.

Ngoài ra, trong khung chương trình đào tạo ngành Việt Nam học còn có hệ thống những môn học đại cương, tạo nền nền tảng văn hóa, như: Tri thức triết học (trong các học phần Triết học và tư tưởng phương Đông, phương Tây); Văn hóa tranh luận và phản biện (trong học phần Hướng Nghiệp 2, Logic học); Văn hóa thực học và tinh thần học tập suốt đời (trong học phần Hướng nghiệp 1); Văn hóa ứng xử giữa con người với tự nhiên và xã hội (trong học phần Môi trường và con người, Xã hội học đại cương, Lịch sử văn minh thế giới; Văn hóa đạo đức và chính trị (trong học phần Đạo đức nghề nghiệp; Hướng nghiệp 2, Các thể chế chính trị); Tầm nhìn chiến lược, tự quản bản thân (trong Hướng nghiệp 2).

* Thời gian đào tạo: 4 năm (132 tín chỉ).

– Có khả năng giao tiếp, kết nối và kỹ năng thuyết phục thu hút mọi người.

– Có khả năng vận dụng hiểu biết về văn hóa, lịch sử… vào trong vấn đề nhìn nhận, đánh giá các di sản vật thể và phi vật thể; nhìn nhận những vẫn đề xã hội theo hướng tiếp cận có chiều sâu; phát hiện những giá trị tiềm ẩn của cá nhân, tổ chức

– Có khả năng nhận ra trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp, tuyên truyền quảng bá văn hóa dân tộc cho bạn bè quốc tế để tăng cường sự thấu hiểu hơn đối với Việt Nam.

– Có khả năng làm việc nhóm hiệu quả, thiết lập mục tiêu, kế hoạch và đáp ứng các nhiệm vụ.

– Có khả năng nghiên cứu điền dã, điều tra xã hội học để đưa ra những nhận định, phát hiện ở những lĩnh vực văn hóa, lịch sử….

– Có khả năng tiếp thu và áp dụng kiến thức mới khi cần thiết bằng cách sử dụng các chiến lược học tập phù hợp.

– Hướng dẫn viên du lịch

– Điều hành tour

– Thiết kế, tổ chức sự kiện

– Quản lý buồng, phòng, … trong các khu resort, khách sạn, nhà hàng

– Làm việc tại các, ban phòng phụ trách văn hóa các cơ quan, Hội Văn hóa Dân gian các khu vực, vùng miền

– Làm việc ở các tổ chức văn hóa ở các tổ chức quốc tế, các TC CP & phi chính phủ

* Tổ hợp môn xét tuyển

Tổ hợp môn xét tuyển theo Học Bạ và theo kết quả kỳ thi THPT quốc gia.

Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Thành Ngành Công Nghiệp Văn Hóa Ở Việt Nam

Du lịch văn hóa là một trong những hình thức căn bản của du lịch, là loại hình du lịch khai thác các giá trị văn hóa tạo thành sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, mang lại lợi ích kinh tế – xã hội cho quốc gia, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa Việt Nam trong thời hội nhập. Hơn thế, các giá trị của di sản văn hóa Việt Nam không chỉ tạo nên sự hấp dẫn, sự khác biệt trong sản phẩm du lịch, mà còn là nguồn lực, là sức mạnh mềm cho phát triển bền vững và quảng bá thương hiệu quốc gia. Việc phát triển du lịch văn hóa thành một ngành công nghiệp văn hóa là phù hợp với tiềm năng, thế mạnh, chiến lược và kiến tạo cho sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa khác ở nước ta hiện nay. Bài viết nhằm diễn giải và bàn luận về phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam thành ngành công nghiệp văn hóa.

1. Du lịch văn hóa

Du lịch văn hóa là một trong hai hình thức quan trọng nhất của ngành du lịch, đó là du lịch tự nhiên và du lịch văn hóa. Từ lâu, du lịch văn hóa đã được nhiều tác giả và tổ chức quan tâm kiến giải. Du lịch văn hóa là hình thức du lịch phát triển dựa trên các giá trị văn hóa, đó là việc khai thác các giá trị của di sản văn hóa tạo các thành sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội và góp phần bảo tồn văn hóa. Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) định nghĩa: “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”[1]. Theo Trần Quốc Vượng: “Du lịch văn hóa là một loại hình chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim”[3]. Luật Du lịch giải thích: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh những giá trị văn hóa mới của nhân loại”[4]. Từ góc độ tiếp cận của mình, Dương Văn Sáu cho rằng: “Du lịch văn hóa ở Việt Nam là loại hình du lịch khai thác có chọn lọc những giá trị các thành tố của văn hóa Việt Nam thông qua các chương trình du lịch. Hoạt động này nhằm mục đích bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị văn hóa của dân tộc thông qua hoạt động du lịch; đem lại lợi ích nhiều mặt cho cả người kinh doanh, cộng đồng cư dân bản địa và các đối tượng du khách; tạo sự phát triển bền vững cho du lịch Việt Nam”[5]. Theo Nguyễn Phạm Hùng: “Du lịch văn hóa là hoạt động đa dạng của du khách rời khỏi nơi cư trú của mình trong một không gian và thời gian nhất định, nhằm thưởng thức, trải nghiệm, khám phá những điều mới lạ và khác biệt về văn hóa. Du lịch văn hóa là toàn bộ các dịch vụ du lịch do con người tạo ra, các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên văn hóa nhằm tạo ra sản phẩm du lịch mới lạ và khác biệt phục vụ nhu cầu thưởng, trải nghiệm, khám phá của du khách trong một không gian và thời gian nhất định”[6].

Hình 1: Chùa Phổ Minh ở Nam Định

Như vậy, du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, trải nghiệm những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của du khách như tham quan các di tích lịch sử – văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, ẩm thực… Nói cách khác, du lịch văn hóa lấy văn hóa làm đối tượng nghiên cứu để khai thác và biến các giá trị của văn hóa thành sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách. Du khách không chỉ tham quan, tìm hiểu những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể mà họ còn quan tâm đến thái độ ứng xử, cách tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cũng như được học hỏi và trải nghiệm những sinh hoạt văn hóa cộng đồng của cư dân bản địa. Do đó, việc nhận thức đúng vai trò của di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trong hoạt động kinh doanh du lịch cũng như quan tâm đến thái độ ứng xử và giao tiếp của chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh du lịch là vô cùng quan trọng. Thực tiễn cho chúng ta biết rằng, các di sản văn hóa Việt Nam luôn có sức hấp dẫn với mọi du khách. Những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được khai thác thành các sản phẩm du lịch văn hóa thường thu hút khách du lịch trải nghiệm, thưởng thức, khám phá. Đó là những chương trình du lịch, những dịch vụ du lịch khác trong kinh doanh khách sạn – nhà hàng… Do đó, chủ thể kinh doanh phải biết ứng dựng những dụng kiến thức văn hóa và các kỹ năng – nghiệp vụ du lịch vào các hoạt động kinh doanh du lịch như kinh doanh lữ hành, kinh doanh khách sạn – nhà hàng, kinh doanh vận chuyển khách du lịch và kinh doanh dịch vụ du lịch khác. Vì vậy, ngành du lịch ở từng địa phương, từng vùng và quốc gia phải nghiên cứu, quy hoạch, lập trình, thiết kế những tour lữ hành tham quan các di sản văn hóa là mục tiêu hướng đến của du lịch văn hóa. Việc làm này còn góp phần xây dựng thương quốc gia từ du lịch văn hóa. Du lịch văn hóa được ngành du lịch xác định là loại hình du lịch quan trọng, có sức hấp dẫn, góp phần phát triển bền vững, là một trong những dòng sản phẩm thu hút du khách quốc tế tham quan, tìm hiểu đất nước, con người, lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Hai là, phát triển du lịch văn hóa là một ngành công nghiệp góp phần phát huy, bảo tồn và làm giàu các giá trị văn hóa dân tộc. Như chúng ta được biết, Việt Nam là một quốc gia có lịch sử và văn hóa lâu đời. Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã sáng tạo nên các giá trị văn hóa đặc sắc và đa dạng. Các giá trị văn hóa này được biểu hiện thông qua văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Đặc biệt là nhiều di sản văn hóa Việt Nam đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa của thế giới như Kinh thành Huế, Đô thị cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ, Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Dân ca Bài Chòi, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ… Điều này khẳng định Việt Nam là một quốc gia có bản sắc văn hóa riêng góp phần sáng tạo và làm phong phú thêm các giá trị cho văn hóa nhân loại. Các giá trị văn hóa Việt Nam không chỉ là nền tảng, là mục tiêu, là động lực cho sự phát triển đất nước trong thời hội nhập, toàn cầu hóa, mà còn là nền tảng cho du lịch Việt Nam nói chung và du lịch văn hóa nói riêng phát triển bền vững, góp phần không nhỏ cho việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam trên toàn cầu. Theo đó, các giá trị văn hóa Việt Nam vừa được bảo tồn vừa được phát huy qua con đường du lịch là một quy luật tất yếu và phù hợp với xã hội đương đại. Phát triển du lịch văn hóa còn là một trong những phương cách làm giàu và phong phú thêm các giá trị văn hóa mới cho kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Bởi vì trong quá trình tiêu dùng các sản phẩm du lịch văn hóa đã diễn ra sự trao đổi giữa du khách với nhân viên du lịch và với người dân bản địa. Đây là quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa trong du lịch. Sự tiếp biến văn hóa này được phản ánh thông qua các lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du lịch như dịch vụ lữ hành, dịch vụ lưu trú, dịch vụ vận chuyển khách và các dịch vụ khác. Sự tiếp biến văn hóa này không chỉ góp phần bảo tồn, quảng bá, lan tỏa văn hóa Việt Nam qua thị trường du khách nội địa mà nó còn là sự tiếp nhận những giá trị văn hóa mới của nhân loại qua các thị trường du khách quốc tế. Đó là sự tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại qua việc học tập, trao đổi kinh nghiệm trong nghiên cứu, bảo tồn, phát huy và đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển du lịch văn hóa từ những quốc gia có ngành công nghiệp du lịch văn hóa nổi tiếng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh…

Ba là, phát triển du lịch văn hóa Việt Nam thành một ngành công nghiệp văn hóa còn thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa phong phú, đa dạng của người dân. Các sản phẩm của du lịch văn hóa mang tính phổ biến, được sản xuất hàng loạt như các chương trình/dịch vụ du lịch văn hóa. Sản phẩm của du lịch văn hóa không phải chỉ dành riêng cho một đối tượng hay một tầng lớp trong xã hội, mà nó còn là cơ hội cho mọi người dân được hưởng thụ các sản phẩm công nghiệp văn hóa này. Không những thế, phát triển du lịch văn hóa Việt Nam thành một ngành công nghiệp văn hóa vừa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân vừa có ý nghĩa phục hưng, nâng tầm cao mới cho sự phát triển văn hóa dân tộc trong thời kỳ toàn cầu hóa. Tuy nhiên, khi sản xuất các sản phẩm của công nghiệp du lịch văn hóa Việt Nam cũng cần quan tâm, tìm hiểu sâu về nhu cầu của người dân thì mới cung ứng những sản phẩm du lịch phù hợp. Điều này biểu hiện qua các hoạt động kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú và ăn uống, kinh doanh vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ du lịch bổ sung khác của các chủ thể hoạt động kinh doanh du lịch.

Bốn là, phát triển du lịch văn hóa còn góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Có thể nói, ngoài lợi ích kinh tế – xã hội – văn hóa, thì các sản phẩm của công nghiệp du lịch văn hóa là một trong những hình thức hữu hiệu để quảng bá văn hóa, con người và đất nước Việt Nam trên phạm vi toàn cầu. Chẳng hạn văn hóa ẩm thực, tiêu biểu như phở Việt Nam. Đây là một món ăn đã kết tinh các giá trị văn hóa, con người và đất nước Việt Nam. Mặt khác, sự phát triển công nghiệp du lịch văn hóa Việt Nam còn ảnh hưởng, lan tỏa sâu rộng đến đời sống văn hóa thế giới. Ngành công nghiệp du lịch văn hóa Việt Nam càng phát triển thì cần đẩy mạnh công tác giới thiệu, thâm nhập các thị trường quốc tế để quảng bá các sản phẩm du lịch. Sự phát triển công nghiệp du lịch văn hóa, thông qua sự phổ biến của internet và các phương tiện thông tin đại chúng là cơ hội tiếp xúc văn hóa dễ dàng và bình đẳng cho mọi người dân. Mọi người đều được hưởng thụ, nghe nhìn, cảm nhận, hiểu biết về các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại của dân tộc qua các sản phẩm du lịch văn hóa. Từ đó, người Việt Nam sẽ hiểu sâu về truyền thống dân tộc mình, nâng cao ý thức và tự hào tự tôn dân tộc và có đời sống tinh thần phong phú hơn. Mặt khác, việc phát triển ngành công nghiệp du lịch văn hóa thông qua việc sản xuất các chương trình du lịch, các dịch vụ du lịch còn kiến tạo được làn sóng yêu thích văn hóa Việt Nam ở hải ngoại. Hiện nay, việc tổ chức các hội chợ triển lãm về thời trang, ẩm thực, nông sản, điện ảnh, kiến trúc, liên hoan du lịch, tuần lễ văn hóa Việt Nam tại các nước… cùng với việc tham gia các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch quốc tế không chỉ đẩy mạnh phát triển công nghiệp du lịch văn hóa trong và ngoài nước mà còn là công cụ quảng bá hiệu quả, nhanh chóng, sinh động về văn hóa, con người và đất nước Việt Nam ra thế giới.

Năm là, phát triển du lịch thành một ngành công nghiệp văn hóa còn có ý nghĩa về chính trị và ngoại giao văn hóa. Phát triển du lịch văn hóa thành một ngành công nghiệp văn hóa còn thể hiện sự đa dạng trong chính sách đối nội và đối ngoại của Nhà nước ta. Đối với vai trò chính trị đối nội, ngành công nghiệp du lịch văn hóa phát triển sẽ góp phần xây dựng nền tảng của xã hội tri thức nâng cao mối quan hệ giữa Chính phủ với người dân, giữa Chính phủ với doanh nghiệp. Về ý nghĩa đối ngoại, phát triển du lịch văn hóa Việt Nam là một ngành công nghiệp văn hóa còn là một phương cách thực hiện chiến lược ngoại giao văn hóa, xây dựng hình ảnh quốc gia, nâng cao vị thế và thương hiệu quốc tế của Việt Nam. Việc phát triển du lịch văn hóa thành ngành công nghiệp văn hóa sẽ tạo được sự quan tâm, sự hiểu biết, tạo cơ sở tin tưởng và hợp tác ngoại giao quốc tế. Đồng thời phát triển công nghiệp du lịch văn hóa còn thúc đẩy sự yêu thích các sản văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và góp phần nâng tầm hình ảnh quốc gia. Bởi vì đặc thù của một sản phẩm công nghiệp văn hóa khác với sản phẩm văn hóa thông thường, nó được sản xuất, lưu thông và tiêu dùng thông qua hệ thống thông tin, truyền thông điện tử như máy tính, điện thoại thông minh… Nhờ các phương thức và phương tiện mới như internet mà du khách quốc tế nhanh chóng trong tìm kiếm, quyết định tiêu dùng các sản phẩm của công nghiệp du lịch văn hóa Việt Nam.

Tạm kết

Nhìn chung lại, du lịch văn hóa là loại hình du lịch khai thác các giá trị của di sản văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, trải nghiệm văn hóa của du khách, mang lại lợi ích kinh tế, xã hội, chính trị cho địa phương, quốc gia và góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam. Phát triển du lịch văn hóa còn góp phần xây dựng và định vị thương hiệu du lịch Việt Nam trên thị trường du lịch quốc tế. Việc phát triển ngành công nghiệp du lịch văn hóa sẽ mang lại nhiều hiệu quả về kinh tế, chính trị và văn hóa cho đất nước ta hiện nay cũng như lâu dài thông qua việc kết nối và thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp văn hóa khác. Tuy nhiên, để phát triển du lịch văn hóa thành một ngành công nghiệp văn hóa từ nay đến năm 2030 theo chủ trương của Chính phủ và các cơ quan ban ngành từ trung ương đến địa phương thì chúng ta còn nhiều việc cần làm. Trước hết, chúng ta cần nhận thức đúng vai trò của nó trong hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay. Đặc biệt là ngành văn hóa, thể thao và du lịch phải xây dựng chiến lược, ban hành những cơ chế, chính sách cụ thể, nguồn lực tài chính, đào tạo nguồn nhân lực và đẩy mạnh công tác tuyên truyền phát triển ngành công nghiệp du lịch văn hóa ở Việt Nam. Đồng thời nghiên cứu lựa chọn, quy hoạch có trọng tâm, trọng điểm, hình thành các trung tâm sáng tạo, thành phố sáng tạo phát triển công nghiệp du lịch văn hóa tiêu biểu như thành phố Hà Nội, thành phố Hạ Long, thành phố Huế, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hội An, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ./.

Tài liệu tham khảo

[1]. Trần Thúy Anh (chủ biên), Du lịch văn hóa những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2014, tr. 7.

[2]. Nguyễn Văn Bốn, “Văn hóa du lịch Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 335, Hà Nội, 2012.

[3]. Lê Hồng Lý (chủ biên), Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010, tr. 24.

[4]. Luật Du lịch, Nxb Lao động, Hà Nội, 2017, tr. 7.

[5]. Dương Văn Sáu, Văn hóa du lịch, Nxb Lao động, Hà Nội, 2017, tr. 41.

[6]. Nguyễn Phạm Hùng, Văn hóa du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2017, tr. 261.

[7]. Đặng Hoài Thu và Phạm Bích Huyền, Các ngành công nghiệp văn hóa, Nxb Lao động, Hà Nội, 2012, tr. 9.

[8]. Hạ Vân, Năm 2018, Du lịch Việt Nam đạt nhiều thành tựu, chúng tôi ngày 15/7/2020.

[9]. Hà Giang, Nhà hát múa rối Thăng Long, sáng tạo là mệnh lệnh sống còn, chúng tôi ngày 15/8/2020.

[10]. http://hueworldheritage.org.vn , ngày 15/8/2020.

[11]. Đinh Thị Vân Chi, Nhu cầu trong của du khách trong quá trình du lịch, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004.

[12]. Đổng Ngọc Minh – Vương Đình Lôi (chủ biên), Kinh tế du lịch và Du lịch học, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 2001.

[13]. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội, 2016.

[14]. Phạm Hồng Thái (chủ biên), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở Nhật Bản và Hàn Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015.

Bài viết và hình ảnh: TS. Nguyễn Văn Bốn