Top 9 # Xem Nhiều Nhất Nhận Xét Về Ngành Du Lịch Việt Nam Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Tuvanduhocsing.com

Một Số Nhận Xét Về Du Lịch Việt Nam

Ngày đăng: 01/02/2013, 15:18

Một số nhận xét về Du lịch Việt Nam Lời nói đầu Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật của cả nớc. Hà Nội có di tích lịch sử hình thành và phát triển gần 1000 năm. Hà Nội là nơi qui tụ nhiều di tích, danh lam thắng cảnh nổi tiếng và là đầu mối giao thông nối với các tỉnh, các n- ớc trong khu vực và toàn cầu. Với những lợi thế tự nhiên Hà Nội đã thực sự là trung tâm thu hút nhiều du khách trong nớc và quốc tế từ nhiều thế hệ. Những năm gần đây, du lịch Hà Nội đã có sự tăng trởng đều đặn. Tuy nhiên sự phát triển của du lịch Hà Nội cha tơng xứng với tiềm năng hiện có. Nhiều vấn đề đặt ra với ngành du lịch thủ đô nh sau: Nhận thức về du lịch cha thực sự đồng bộ giữa các cấp, các ngành. Các chuyến tham quan Hà Nội và các vùng phụ cận còn đơn điệu, không mang rõ bản sắc, chất lợng phục vụ thấp, giá cả không tơng xứng với chất lợng gần nh là đặc điểm cố hữu của sản phẩm du lịch Hà Nội. Các tài nguyên cha đợc nâng cấp, trùng tu cho phù hợp yêu cầu thu hút khách du lịch. Hệ thống đờng xá đến các điểm du lịch còn rất bất cập, các hệ thống dịch dịch vụ ở các điểm du lịch còn thô sơ . Để đạt đợc những mục tiêu trên chúng ta phải kết hợp hài hoà các yếu tố hợp tác quốc tế để gắn liền với thị trờng quốc tế và thị trờng trong nớc nhằm hỗ trợ lẫn nhau để phát triển một cách hài hoà. Trong sự nghiệp đó, ngành du lịch đóng vai trò là một ngành kinh tế tổng hợp. Xuất phát từ đó, chuyên đề này đợc viết nhằm nêu lên thực trạng ngành kinh doanh du lịch Hà Nội để từ đó thấy đợc những mặt còn tồn tại, đề xuất ý kiến với hy vọng nhằm đóng góp một phần cho sự phát triển du lịch Hà Nội. Với phơng pháp nghiên cứu chuyên đề là dựa trên cơ sở phân tích về lý luận, kiểm soát thực trạng để tìm ra những tồn tại và đề xuất ý kiến thì bản chuyên đề này ngoài lời nói đầu và kết luận gồm có hai phần chính: 1 Phần thứ nhất: Đánh gía thực trạng ngành kinh doanh du lịch Hà Nội Phần thứ hai: Những giải pháp phát triển du lịch Hà Nội giai đoạn từ nay đến năm 2010 2 Phần thứ nhất Đánh giá thực trạng ngành kinh doanh du lịch Hà Nội Sự hình thành và phát triển của du lịch Hà Nội gắn liền với sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam từ những năm đầu của thập kỷ 60. Trải qua các thời kỳ, nội dung hoạt động của mỗi thời kỳ có sự khác nhau. Trong thời kỳ 1960 – 1975 các cơ sở hoạt động du lịch chủ yếu phục vụ các đoàn khách của Đảng và Nhà nớc, các nhà ngoại giao, các chuyên gia, thuỷ thủ . của các nớc. Sau năm 1975 mới bớc đầu tiếp cận với việc tổ chức hoạt động kinh doanh du lịch, nhng vẫn nằm trong khuôn khổ của mô hình và cơ chế hoá tập trung quan liêu, bao cấp. Từ năm 1986 hoạt động kinh doanh du lịch gắn với thời kỳ chuyển đổi mô hình và cơ chế kinh tế theo hớng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Mặc dù vậy hoạt động kinh doanh du lịch chỉ thực sự trở nên sôi động từ năm 1990, gắn liền với chính sách đa dạng hoá và đa phơng hoá trong quan hệ quốc tế và kết quả của mời năm đổi mới nền kinh tế nói chung và Hà Nội nói riêng. Dới đây sẽ đánh giá thực trạng kinh tế du lịch Hà Nội: I. Về thị trờng khách du lịch 1. Khách du lịch quốc tế Trong những năm qua, cùng với những đà phát triển khách du lịch của cả nớc, số lợng khách quốc tế đến Hà Nội tăng nhanh. Năm 1992: 200.000 lợt khách quốc tế đến Hà Nội Năm 1995: 358.000 lợt khách quốc tế đến Hà Nội Năm 1996: 352.000 lợt khách quốc tế đến Hà Nội Năm 1997: 391.000 lợt khách quốc tế đến Hà Nội Năm 1998: 351.896 lợt khách quốc tế đến Hà Nội 3 Năm 1999: 1.433.000 lợt khách quốc tế đến Hà Nội Năm 2000: 2.600.000 lợt khách quốc tế đến Hà Nội Theo số liệu báo cáo của Sở Du lịch Hà Nội, 6 tháng đầu năm 2001 đã có 301.729 l- ợt khách du lịch quốc tế của 155 nớc đến Hà Nội. Nếu so với cùng kỳ năm 2000 tăng 55,5%. Xét về mục địch, có 283.122 ngời đến Hà Nội với mục đích du lịch, chiếm tỷ lệ 80,7%. Khách thơng mại và đầu t chỉ chiếm 12,8%. Cơ cấu khách du lịch quốc tế: Khách du lịch Trung Quốc chiếm tỷ trọng 32,95%; khách Pháp chiếm tỷ trọng 14,3%; Nhật Bản chiếm tỷ trọng 9,8%; Mỹ chiếm tỷ trọng 6,7%; Australia, Anh, Đài Loan, Đức, Đan Mạch, Canađa chiếm tỷ trọng 1,6 – 5%. Chỉ tính 10 nớc nói trên đã chiếm tỷ trọng 83% tổng lợng khách đến Hà Nội. Về khả năng chi tiêu của khách du lịch đến Hà Nội cha nhiều. 2. Khách du lịch nội địa Trong những năm gần đây do kết quả đổi mới kinh tế ổn định, điêù kiện đi lại thuận lợi, đời sống vật chất và tinh thần của dân c đợc cải thiện và từng bớc đợc nâng cao. Đến Hà Nội du lịch là nguyện vọng, ớc mơ của ngời Việt Nam, ít nhất một lần trong đời họ đợc đến Hà Nội. Kết quả theo dõi khách du lịch nội địa hàng năm cho thấy du lịch nội địa ngày càng cao. Năm 1993 có 150.000 khách đến Thủ Đô Năm 1994 có 250.000 lợt khách đến Thủ Đô Năm 1995 có 311.000 lợt khách đến Thủ Đô Năm 1996 có 700.000 lợt khách đến Thủ Đô Năm 1997 có 900.000 lợt khách đến Thủ Đô Số lợng khách nội địa đến Hà Nội trong giai đoạn từ năm 1996 – 2000 đã tăng từ 700.000 đến hơn 2.000.000 triệu lợt khách. Khách du lịch đến Hà Nội ngoài mục đích công vụ còn phần lớn là đi tham quan, thăm ngời thân kết hợp tham quan. Xu thế sử dụng các dịch vụ du lịch ngày càng tăng lên. Số ngày lu trú trên dới hai ngày vì không phải tất cả khách đều sử dụng dịch vụ lu trú, mà một phần thờng ăn nghỉ nhà ngời thân. Khách đến Hà Nội thờng tham gia các hình thức du lịch nh: dự lễ 4 hội, du lịch tham quan các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử, du lịch công vụ của cán bộ Nhà nớc và các doanh nghiệp cho mỗi khách mỗi ngày có tăng lên so với trớc. 3. Đánh giía chung về thị trờng khách du lịch Theo đà phát triển chung, du lịch Hà Nội có tốc độ tăng trởng nhanh qua các năm (cả khách quốc tế và khách nội địa). Thị trờng khách du lịch quốc tế có sự biến đổi cơ bản, khách du lịch ngời Việt Nam ở nớc ngoài và khách du lịch trong nớc cũng rất đa dạng về mục đích và cơ cấu. Những thành tựu đó bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa ở kết quả của 10 năm đổi mới kinh tế, xã hội, chính sách Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc mà ngành kinh doanh du lịch đã khai thác thông qua hoạt động nỗ lực chủ quan. Tuy nhiên dơí góc nhìn của thị trờng, một số vấn đề sau cần lu ý: Thời gian lu trú, khả năng chi tiêu của khách du lịch còn thấp (nhất là khách du lịch nớc ngoài. Có nhiều nguyên nhân, nhng có một số nguyên nhân chủ yếu sau đây: một số điểm du lịch ở các địa phơng khác đợc hình thành gắn liền với điều kiện và phơng tiện đi lại gần đây đợc cải thiện, tạo thuận lợi cho du khách đợc tham quan nhiều nơi. Các cơ sở kinh doanh du lịch và các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ cha tạo đợc nhiều những sản phẩm đặc sắc có chất lợng và phù hợp với đối tợng du khách (khách du lịch Trung Quốc và các nớc Châu á khác đến Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng thờng phàn nàn rằng không biết mua đặc sản gì cho ngời thân và bạn bè để kỷ niệm cho chuyến đi du lịch ở Hà Nội – Việt Nam của mình). Cha có các trung tâm vui chơi giải trí tổng hợp, các dịch vụ bổ sung khác còn nghèo nàn và các tour du lịch hấp dẫn cha đợc tổ chức rộng rãi. II. Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật trong du lịch 1. Tình hình các cơ sở lu trú, ăn uống 1.1 – Các cơ sở lu trú Tính ra trên địa bàn Hà Nội năm 1996 đã có trên dới 200 khách sạn, số phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế vào khoảng 400 phòng. Công suất sử dụng phòng của các 5 khách sạn thời kỳ này là khá cao từ 65 – 75%, kèm theo đó là giá thuê phòng cũng rất đắt đã làm cho lợi nhuận trong việc kinh doanh khách sạn nhanh chóng đạt đén mức khó ai có thể tởng tợng ra đợc. Các khách sạn mọc nên nh nấm làm cung vợt qúa cầu, nên trong những năm 1996 – 1997 tình hình hoạt động khách sạn bị chững lại mặc dù lợng khách du lịch trong và ngoài nớc đến Hà Nội đến Hà Nội vẫn tăng hơn so với năm 1995, các khách sạn rơi vào công suất sử dụng phòng không cao. Năm 1998, ngành du lịch Việt Nam đã nộp cho ngân sách 1134 tỷ đồng tăng 8% so với năm 1997, riêng ngành khách sạn nộp cho ngân sách là 153 tỷ tăng 7%. Để đạt đợc điều đó các khách sạn đã phải lao vào một cuộc cạnh tranh quyết liệt để tồn tại. Một trong những biện pháp cạnh tranh không lành mạnh đó là việc giảm giá phòng xuống thấp một cách đáng kể dẫn đến nguồn thu từ buồng phòng giảm xuống khoảng 12% so với năm 1997. Đứng trớc tình trạng đó Tổng cục Du Lịch, Sở Du Lịch Hà Nội đã đề ra những giải pháp cấp bách để phát triển ngành du lịch thủ đô nh: đề ra và triển khai chơng trình hành động quốc gia về du lịch, tổ chức nhiều hoạt động lễ hội truyền thống, mở rộng các tour tạo ra nhiêù điểm vui chơi tham quan cho khách du lịch, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động du lịch Cùng với những xúc tiến du lịch nêu trên và sự phục hồi từng bớc của nền kinh tế sau khủng hoảng, ngành kinh doanh khách sạn đã vợt qua khó khăn và từng bớc có những chuyển biến đáng phấn khởi. Năm 2000, tổng số các khách sạn trên địa bàn Hà Nội là 310 khách sạn gồm 9372 phòng. Trong đó: -76 khách sạn quốc doanh với 3100 phòng -17 khách sạn liên doanh với 3154 phòng -1 khách sạn liên doanh trong nớc với 44 phòng -202 khách sạn ngoài quốc doanh với 2644 phòng -8 khách sạn cổ phần với 91 phòng -6 khách sạn của các chi nhánh với 139 phòng Đã có 69 khách sạn đợc xếp hạng: 6 -6 khách sạn 5 sao -4 khách sạn 4 sao -18 khách sạn 3 sao -31 khách sạn 2 sao -10 khách sạn 1 sao Tổng doanh thu ngành kinh doanh khách sạn Hà Nội đạt 630 tỷ đồng tăng 14,13% so với năm 1999. Đóng góp vào doanh thu toàn ngành du lịch Hà Nội 15,75%. Công suất phòng ở các khách sạn quốc doanh đạt từ 60 – 70%, ở các khách sạn liên doanh đạt khoảng hơn 50%. Đặc biệt vào dịp lễ hội 990 năm Thăng Long – Hà Nội, có khách sạn có mức sử dụng lên tới 100%. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng bên cạnh những tiến bộ vẫn còn những hạn chế nh: a. Việc phát triển một số cơ sở lu trú còn tự phát, không theo quy hoạch đã dẫn đến hàng loạt nhà nghỉ, nhà khách, khách sạn mini, t nhân ra đời mà xét về mặt lâu dài sẽ là một tồn tại khó khắc phục và điều này có liên quan đến công suất sử dụng phòng lu trú đạt thấp. b. Mặc dù nhiều khách sạn đợc nâng cấp về tiện nghi tơng đối hiện đại nhng hệ thống dịch vụ bổ sung còn nghèo nàn, đơn điệu, các dịch vụ vui chơi giải trí cha đợc quan tâm đúng mức, cha đáp ứng đợc nhu cầu của khách. 1.2 – Các cơ sở ăn uống Đáp ứng nhu cầu ăn uống tốt cho khách du lịch là một nhiệm vụ tối cần thiết của hoạt động du lịch. Cùng với sự gia tăng du khách và cơ sở lu trú, hệ thống các cơ sở ăn uống trên địa bàn Hà Nội cũng tăng nhanh chóng. Hầu hết các khách sạn, nhà nghỉ đều có các phòng ăn ( Restaurant ), quầy Bar phục vụ cả khách lu trú tại khách sạn và cả khách bên ngoài. Trong các cơ sở này, du khách đợc thởng thức đầy đủ các món ăn dân tộc ( Âu, á, ) do những đầu bếp lành nghề, với chất lợng tốt, đợc đảm bảo vệ sinh thực phẩm, vừa ăn uống vừa có thể thởng thức các làn điệu dân ca 7 đậm đà bản sắc dân tộc. Song song với các món ăn, đồ uống cũng rất phong phú và đa dạng có đầy đủ các loại rợu, bia nổi tiếng thế giới với giá cả thờng cao hơn từ 2 – 3 lần so với ở nơi khác. Tất nhiên, nó chỉ phù hợp với đối tợng du khách có thu nhập cao hoặc khách đi du lịch theo Tour trọn gói. Bên cạnh các cơ sở ăn uống trong khách sạn, còn có các cơ sở ăn uống ngoài khách sạn, đợc đầu t xây dựng trong hầu hết các thành phần kinh tế. Chủng loại đồ ăn, thức uống ở đây cũng rất phong phú và đa dạng với giá cả thích hợp với nhiều loại du khách khác nhau, kể cả nhân dân ở địa phơng. So với các cơ sở lu trú việc tổ chức kinh doanh ăn uống có phần đơn giản hơn, song việc kinh doanh ăn uống vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và đồ ăn là đặc biệt quan trọng.Mặc dù vậy, cho đến nay chỉ có một vài khách sạn lớn mới có bộ phận y tế kiểm tra vệ sinh thực phẩm – đồ uống. Còn hầu hết các cơ sở ăn uống khác vấn đề này còn bị bỏ ngỏ. Nhiều trờng hợp không đảm bảo vệ sinh ảnh hởng đến sức khoẻ của du khách cần đợc quan tâm trong thời gian tới. 2. Tình hình vận chuyển khách du lịch Vận chuyển khách du lịch là nhu cầu đi lại bằng nhiều phơng tiện khác nhau của khách du lịch từ nơi c trú đến các địa điểm du lịch, từ địa điểm du lịch này đến địa điểm du lịch khác hoặc trong nội bộ khu du lịch. Cùng với sự nghiệp đổi mới nền kinh tế, dịch vụ vận chuyển khách du lịch nói chung và Hà Nội nói riêng có những chuyển biến tích cực: – Ngành hàng không trong thời gian ngắn đã thay đổi hàng loạt máy bay hiện đại, đ- ờng băng, nhà ga đợc cải tạo nâng cấp và xây dựng mới, chất lợng đội bay và đội ngũ tiếp viên hàng không đợc nâng cao. Các chuyến bay trên các tuyến quốc tế và nội địa đợc mở rộng, thông suốt và an toàn thông qua các sân bay: Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Phú Bài, Nha Trang, Điện Biên, Nà Sản . – Ngành đờng sắt cùng với những đổi mới đáng kể. Chất lợng các đoàn tàu và chất lợng phục vụ có nâng cao. Thời gian chạy tàu cho mỗi chuyến đã nhiều lần rút ngắn lại, đã nối lại tuyến đờng sắt quốc tế Việt – Trung .Nhờ đó, đã tạo ra các chuyến du lịch cho cả khách quốc tế và nội địa thuận tiện, thú vị và hấp dẫn. 8 – Dịch vụ vận chuyển đờng bộ cũng phát triển khá nhanh cả về số lợng lẫn chất l- ợng. Hầu hết các công ty vận chuyển khách du lịch trên địa bàn Hà Nội đã đầu t đổi mới các loại xe, nhiều chủng loại phơng tiện (ô tô, taxi, xe máy, xích lô .) sẵn sàng phục vụ du khách trong và ngoài nớc thuận tiện, kịp thời với chất lợng tốt và giá cả hợp lý. Tuy nhiên, việc tổ chức sắp xếp lại các lực lợng dịch vụ vận chuyển cũng cần đặt ra sao cho hợp lý và văn minh hơn. Việc đổi mới nâng cao chất lợng phơng tiện và tính hấp dẫn khách du lịch của tuyến đờng sông còn cha cao cần đợc quan tâm trong thời gian tới. 3. Hiện trạng các cơ sở vui chơi Vui chơi giải trí là một nhu cầu không thể thiếu đợc của du khách để sử dụng quỹ thời gian còn lại trong ngày và nhằm tăng cờng sức khoẻ sau những ngày lao động. Bởi vậy, nếu dịch vụ này đợc phát triển cả về số lợng cơ cấu và chất lợng có tác dụng tăng cờng thời gian lu trú, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có và tăng doanh thu. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy rất rõ điều đó. Cho đến nay trên địa bàn Hà Nội thiêú trầm trọng nơi vui chơi giải trí cho khách du lịch trong và ngoài nớc. Một số cơ sở du lịch, các hình thức vui chơi còn đơn điệu với quy mô không lớn. Các vũ trờng có phát triển nhng giá cả còn cao chỉ thích hợp cho lớp trẻ, cha quần chúng .Có thể nói, việc đầu t xây dựng các khu vui chơi giải trí tổng hợp đang là một đòi hỏi cấp bách trong thời gian tới không thể thiếu vắng trong chơng trình nghị sự của thành phố và ngành du lịch. III. Tình hình lao động trong kinh doanh lao động du lịch Do tính đặc thù của ngành du lịch, nên chất lợng lao động đòi hỏi ngời lao động về độ tuổi, giới tính và trình độ nghiệp vụ nhất định. Hiện nay trong ngành du lịch Hà Nội về nữ có độ tuổi trung bình từ 20 – 30 tuổi chiếm số đông trong các cơ sở du lịch. Nam giới thờng chiếm tỷ lệ thấp hơn so với số lợng nữ và có độ tuổi cao hơn, 9 trình độ học vấn của họ thờng cao hơn so với nữ. Do du lịch mang tính thời vụ nên việc tuyển dụng, sử dụng và trả công lao động không thể không ký hợp đồng theo thời vụ, theo tháng và theo ngày. Đây là một mâu thuẫn, mà mâu thuẫn này dẫn đến hệ quả là trình độ chuyên môn của lao động hợp đồng thời vụ không cao, ảnh hởng đến chất lợng dịch vụ cần đợc tính đến. Nhìn chung chất lợng lao động du lịch Hà Nội đợc đào tạo cơ bản, có khả năng nghiệp vụ và ngoại ngữ, thông minh nhanh nhẹn nắm bắt nhanh công nghệ tiên tiến của nớc ngoài và đợc đánh giá cao. Phần lớn nguồn nhân lực du lịch đợc đào tạo bao gồm cả 3 cấp: Đại học, Trung học và Dạy nghề thuộc các trờng ở Hà Nội. IV. Hiện trạng về tổ chức quản lý Hoạt động du lịch Hà Nội trớc đây, việc quản lý nó do Sở Kinh Tế Đối Ngoại đảm nhiệm. Đến ngày21/6/1994 Sở Du Lịch hình thành và đảm nhận chức năng quản lý này cho đến nay. Mặc dù mới thành lập, nhng Sở Du Lịch đã nghiên cứu đề xuất với Uỷ ban nhân dân thành phố nhiều việc có liên quan đến sự phát triển du lịch trên địa bàn. Bớc đầu đã thực hiện tốt việc chuyển các nhà khách, nhà nghỉ của các Bộ, các cơ quan, các ngành sang kinh doanh dịch vụ; quản lý vĩ mô đợc các doanh nghiệp dịch vụ du lịch nhất là dịch vụ lu trú và dịch vụ lữ hành. Trong hoạt động kinh doanh du lịch xét về chiều hớng tích cực cho thấy: – Có sự tăng nhanh về nguồn khách, về thị trờng, về cơ hội đầu t để tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật theo hớng hiện đại. – Sự ra đời nhiều tổ chức kinh doanh du lịch khách sạn, nhà hàng với nhiêù quy mô và trình độ khác nhau của nhiêù chủ sở hữu khác nhau. – Sự quản lý của Nhà nớc về du lịch đã đợc tăng cờng trong sự thống nhất quản lý về một mối – Đó là Sở Du Lịch. Tuy nhiên, cũng còn một số hạn chế: 10 […]… triển trong Quy hoạch tổng thể phát triển 1995 – 2010 , trong đó Hà Nội đợc xác định là đầu mối phân phối khách du lịch lớn của cả nớc, đợc đánh giá là một trong mời trung tâm du lịch lớn cần đợc u tiên đầu t, là một cực trong tam giác tăng trởng về du lịch ở phía Bắc là Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Mục tiêu của ngành du lịch Hà Nội đến năm 2005 đón 5 triệu khách du. .. đón 5 triệu khách du lịch, trong đó 1 triệu khách du lịch quốc tế, doanh thu du lịch đạt 645 triệu USD Năm 2010 đón 8,5 triệu khách du lịch, trong đó 1,6 triệu khách quốc tế, doanh thu du lịch đạt 1,4 tỷ USD 16 Mức tăng trởng du lịch bình quân 13,15%/năm, GDP du lịch chiiếm 13 – 14% trong cơ cấu GDP toàn thành phố 3 Một số quan điểm phát triển du lịch Hà Nội – Sự phát triển du lịch cần đảm bảo điều… ngành du lịch Hà Nội sẽ phát triển mạnh mẽ, phục vụ dài lâu cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá thủ đô 27 Tài liệu tham khảo 1 Thực trạng và những giải pháp chính phát triển du lịch Hà Nội – PTS Nguyễn Quang Lân (Giám đốc Sở du lịch Hà Nội) 2 Du lịch Hà Nội tiềm năng và giải pháp – Báo Du lịch Việt Nam 3 Bàn về cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Hà Nội – Lê Hồng Phấn – Báo NXB… khách về lịch sử, con ngời, thiên nhiên tơi đẹp của Việt Nam Những thông tin cần thiết về các tuyến điểm du lịch, các cơ sở dịch vụ, các chính sách của Chính Phủ trong phát triển du lịch – Xúc tiến phát hành rộng rãi các phim t liệu về lịch sử, văn hoá, các công trình kiến trúc, di sản văn hoá của thủ đô Ngành Du Lịch – Văn Hoá phaỉi thực hiện tổ chức tuyên truyền những kiến thức du lịch bền vững, du lịch. .. khách du lịch 3 Các lại hình du lich tập trung cần phát triển: Thủ đô Hà Nội là một lãnh thổ có tiềm năng về tài nguyên du lịch nhân văn Căn cứ vào các yếu tố đó và các điều kiện hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn và khu vực, những loại hình du lịch chủ yếu mà Hà Nội cần phát triển là: 19 – Du lịch tham quan – Du lịch nghỉ dỡng ( ở vùng phụ cận Hà Nội ) – Du lịch sinh thái ( ở vùng phụ cận Hà Nội ) – Du lịch. .. Đồng Nai Tạp chí các số: 7, 11, 12/1998 9, 10, 11, 12/1999 3, 10/2000 28 Mục lục Lời nói đầu .1 2 Phần thứ nhất 3 Đánh giá thực trạng ngành kinh doanh du lịch Hà Nội .3 I Về thị trờng khách du lịch 3 1 Khách du lịch quốc tế 3 2 Khách du lịch nội địa .4 3 Đánh giía chung về thị trờng khách du lịch 5 II… một nghiệp vụ vô cùng quan trọng trong phát triển Một chuyên gia Singapore đang điều hành khách sạn The Lien Resort Westlake nói rằng: Không nên nghĩ rằng cứ có 22 sản phẩm du lịch tốt, đất nớc tơi đẹp là khách du lịch sẽ đến Đó là một sai lầm lớn Để làm việc này cần: – Biên soạn và phát hành những ấn phẩm có chất lợng và thông tin chính thức về du lịch Hà Nội để giới thiệu với du. .. hoá và du lịch sinh thái cho công chúng trên chơng trình Truyền hình Hà Nội và Truyền hình Trung ơng – Phối hợp chặt chẽ với các tạp chí du lịch quốc tế nh Travel Report Asia, Newsweek, Tourist Asia để phân phát các thông tin về du lịch 6 Đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch: Du lịch là một ngành kinh tế đòi hỏi có sự giao tiếp rộng rãi và trực tiếp với du khách Do đó, hoạt động trong ngành du lịch cần… triển một cách phong phú các loại hình du lịch của Hà Nội 4 Đa dạng hoá các sản phẩm du lịch: Việt Nam là một nơi duy nhất ở Châu á cha đợc khai phá Do đó khách quốc tế rất quan tâm, chú ý tới việc khai thác, tìm tòi các loại hình du lịch ở đây Tuy nhiên, đã có những dấu hiệu cho thấy nhiều tài nguyên du lịch quí giá đã bị khai thác cạn kiệt, thiếu sự bảo vệ, tôn tạo, nâng cấp và phát triển Đây là một. .. cho một số công ty lữ hành quốc tế hoạt động trực tiếp khai thác các tuyến du lịch của Hà Nội và Việt Nam, cho phép một số công ty lữ hành của Hà Nội liên kết với các hãng du lịch nớc ngoài kinh doanh khai thác các tuyến du lịch trong và ngoài nớc Có chính sách khuyến khích hợp tác du lịch trong khu vực để đảm bảo thu hút số du khách có xu hớng đến khu vực Châu á – Thái Bình Dơng ngày càng tăng vào . nhau của khách du lịch từ nơi c trú đến các địa điểm du lịch, từ địa điểm du lịch này đến địa điểm du lịch khác hoặc trong nội bộ khu du lịch. Cùng. Thị trờng khách du lịch quốc tế có sự biến đổi cơ bản, khách du lịch ngời Việt Nam ở nớc ngoài và khách du lịch trong nớc cũng rất đa dạng về mục đích và

Nhìn Nhận Về Sự Phát Triển Của Ngành Du Lịch Việt Nam

(TITC) – Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng. Du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế. Du lịch đang ngày càng nhận được sự quan tâm của toàn xã hội. Chất lượng và tính cạnh tranh của du lịch là những vấn đề nhận được nhiều sự chú ý và thảo luận rộng rãi. Một cách tiếp cận đa chiều về đánh giá chất lượng du lịch sẽ góp phần hình thành các giải pháp đúng đắn nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của du lịch Việt Nam.

Một số ý kiến cho rằng tỷ lệ khách quay trở lại cho thấy tính cạnh tranh của du lịch. Tuy nhiên, do du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nên tính cạnh tranh của du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Dưới góc độ kinh tế du lịch, tỷ lệ khách quay trở lại không phải là chỉ tiêu nghiên cứu phục vụ xây dựng chính sách phát triển ngành. Hiệu quả của ngành Du lịch thường được đánh giá qua các chỉ số chính như: tốc độ tăng trưởng khách, độ dài lưu trú bình quân của khách, chi tiêu bình quân của khách, đóng góp của du lịch vào cơ cấu GDP.

Nhìn từ kinh nghiệm bên ngoài, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), các chỉ số cơ bản đo lường tính cạnh tranh của ngành du lịch một quốc gia gồm có: đóng góp của du lịch vào GDP, thu nhập từ khách du lịch inbound theo từng thị trường, thời gian lưu trú qua đêm, giá trị xuất khẩu dịch vụ du lịch, năng suất lao động, sức mua và giá cả dịch vụ du lịch, thủ tục thị thực nhập cảnh, tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, tài nguyên văn hóa, mức độ thỏa mãn của du khách, và chương trình hành động của ngành Du lịch. Ngoài ra còn có một số chỉ số phụ như: mức độ đa dạng hóa thị trường, nguồn nhân lực, mức độ kết nối hàng không và các phương tiện khác, phân bổ ngân sách chính phủ dành cho ngành Du lịch, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong du lịch… Tham khảo những chỉ số này có thể thấy tỷ lệ khách quay trở lại không nằm trong các tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh của ngành du lịch.

Mặt khác, về bản chất hoạt động du lịch là sự khám phá, trải nghiệm. Nhìn chung, khách du lịch luôn muốn đi đến những vùng đất mới lạ, tìm hiểu những nền văn hóa độc đáo, trải nghiệm những lối sống khác nhau. Đối với khách du lịch ở nhiều nền kinh tế phát triển, du lịch là một phần thiết yếu trong cuộc sống bên cạnh quá trình lao động, làm việc. Họ có điều kiện dành thời gian và nguồn tài chính để thực hiện nhiều chuyến du lịch trong đời và coi đây là cơ hội vừa để nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động, vừa để khám phá những nền văn hóa mới và bồi đắp kiến thức cho mình. Việc lựa chọn một điểm đến cũ có thể sẽ không phải là ưu tiên của họ nếu không có một nhu cầu đặc biệt nào đó hoặc sự cảm mến, gắn kết đặc biệt.

Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ khách quốc tế đến Việt Nam lần đầu và khách đến từ hai lần trở lên lần lượt là 72% và 28% (năm 2003); 65,3% và 24,7% (năm 2005), 56,3% và 43,7% (năm 2006); 60,4% và 39,6% (năm 2009); 61,1% và 38,9% (năm 2011); 66,1% và 33,9% (năm 2013). Có thể thấy tỷ lệ này không biến động lớn qua các năm và duy trì ở mức độ khá hài hòa.

Xét về tổng thể, điều quan trọng là các chỉ số về lượng khách và tổng thu của Du lịch Việt Nam đạt tăng trưởng tốt qua các năm. Nếu năm 2000, chúng ta mới đón được 2,1 triệu lượt khách quốc tế thì năm 2005 đón được 3,4 triệu lượt, năm 2010 đón được 5 triệu lượt và năm 2013 vừa qua là 7,5 triệu lượt. Đồng thời, lượng khách du lịch nội địa cũng ngày càng tăng: năm 2000 là 11,2 triệu lượt, 2005 là 16,1 triệu lượt, năm 2010 là 28 triệu lượt và năm 2013 là 35 triệu lượt. Đặc biệt, tổng thu từ du lịch những năm gần đây có sự tăng trưởng vượt bậc khi năm 2013 đạt tới 200 nghìn tỷ đồng, trong khi năm 2010 mới đạt 96 nghìn tỷ, năm 2005 đạt 30 nghìn tỷ và năm 2000 chỉ đạt 17,4 nghìn tỷ. Tốc độ tăng trưởng của tổng thu từ khách du lịch đang tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng khách du lịch, đóng góp của ngành Du lịch vào cơ cấu GDP đất nước ngày càng lớn trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn.

Ngành Du lịch cũng đang góp phần tạo công ăn việc làm, giải quyết an sinh xã hội. Đến năm 2013, ước tính đã có trên 1,7 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch, trong đó 550 nghìn lao động trực tiếp và 1,2 triệu lao động gián tiếp.

Cùng với đó, hình ảnh du lịch quốc gia ngày càng được nâng cao. Hệ thống di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận ngày càng phong phú. Nhiều điểm du lịch được các tổ chức uy tín bình chọn là địa chỉ yêu thích của đông đảo du khách quốc tế. Trong đó, điển hình như Vịnh Hạ Long được trang web BuzzFeed của Mỹ bình chọn là 1 trong 25 địa danh có vẻ đẹp khó tin nhất trên thế giới; Hà Nội được TripAdvisor bình chọn là 1 trong 10 thành phố thu hút khách du lịch hàng đầu trên thế giới năm 2014; Việt Nam được Tạp chí du lịch Travel & Leisure của Mỹ bình chọn đứng thứ 6 trong số 20 điểm đến tốt nhất dựa trên độ an toàn và thân thiện của người dân dành cho khách du lịch lẻ; Hang Sơn Đoòng được Tạp chí du lịch Business Insider của Mỹ bình chọn là 1 trong 12 hang động ấn tượng nhất thế giới và Tạp chí National Geographic phiên bản tiếng Nga bình chọn là tour du lịch mạo hiểm đẳng cấp nhất thế giới của năm 2014; Tuyến du lịch trên sông Mê Kông (đoạn Việt Nam-Campuchia) được báo Telegraph (Anh) xếp thứ 4/5 tuyến du lịch trên sông hàng đầu châu Á… Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp lữ hành, khách sạn của Việt Nam cũng đã được các tổ chức, website tiêu dùng vinh danh do chất lượng dịch vụ xuất sắc của mình.

Điều này cho thấy chất lượng du lịch Việt Nam đang dần tốt lên, đi vào chiều sâu thay vì chiều rộng theo đúng định hướng trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh”.

Nâng cao chất lượng du lịch để thu hút khách, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách là một định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch nước ta. Một điều tất nhiên, trong quá trình phát triển ngành du lịch nói riêng và kinh tế – xã hội đất nước nói chung, sẽ phát sinh nhiều vấn đề bất cập cần giải quyết. Mâu thuẫn và việc giải quyết mâu thuẫn nội tại trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng là nguồn gốc và động lực của quá trình vận động, phát triển.

Sự phát triển của du lịch phụ thuộc rất nhiều vào quyết tâm chính trị của chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương, sự phối kết hợp chặt chẽ của các bộ, ngành liên quan, sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức trong nước và quốc tế, sự năng động tích cực của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, sự đồng cảm và tham gia của cộng đồng dân cư, du khách và sự quan tâm khích lệ của các cơ quan thông tin truyền thông – một kênh quan trọng tuyên truyền, quảng bá hình ảnh du lịch đất nước cũng như phát hiện những bất cập cần khắc phục để du lịch Việt Nam trở thành một thương hiệu được mỗi người chúng ta cũng như bạn bè quốc tế ngày càng quý mến.

T.P

Malaysia Thách Thức Nhận Thức Về Ngành Y Tế Du Lịch

Malaysia thách thức nhận thức về ngành Y tế du lịch

Ông Benjamin Philip George đến từ công ty George Medical Getaway đã đưa ra nhận định của mình về sự phát triển của ngành y tế du lịch tại Malaysia:

” Nếu bạn đang tìm kiếm một dịch vụ chăm sóc sức khỏe đẳng cấp thế giới với các chuyên gia quốc tế, cơ sở vật chất hàng đầu và dịch vụ khách hàng xuất sắc, Malaysia chính là đất nước mang tới chất lượng mà bạn không thể tìm thấy ở đâu khác.”

Nhu cầu tăng cao về dịch vụ chăm sóc chất lượng tiếp tục thúc đẩy ngành du lịch khám bệnh ở Malaysia. Với gần 1 triệu lượt khách du lịch khám bệnh, Malaysia đã được tạp chí International Medical Travel Journal trao tặng giải thưởng ‘Địa điểm chăm sóc sức khỏe và y tế của năm’ (Health and Medical Destination of the Year) trong 2 năm liên tiếp. Những nỗ lực của Malaysia xứng đáng nhận được sự công nhận trên toàn cầu, nhất là khi họ phải đối mặt với sức cạnh tranh tăng cao và khó khăn kinh tế trong năm 2015. Với Malaysia, y tế du lịch không phải là một cách để tăng nguồn thu nhập. Ngược lại, đây là phương pháp mở rộng thị trường dành cho những cơ sở y tế tư nhân đã sớm khẳng định tên tuổi trên thế giới. Mọi bệnh nhân đều được hưởng dịch vụ chăm sóc y tế chất lượng cao, hỗ trợ bởi những công nghệ y khoa tiên tiến.

Ngành du lịch sức khỏe của Malaysia vẫn tiếp tục phát triển

Malaysia Healthcare Travel Council (MHTC) cho biết, năm 2015 chứng kiến 850,000 lượt khách du lịch khám bệnh tới Malaysia, giảm 3,6% so với 882,000 du khách trong năm 2014. Mặc dù vậy, họ vẫn phát triển nhờ vào sự hoàn thiện của ngành du lịch khám bệnh Malaysia. Chỉ riêng doanh thu từ du lịch khám bệnh tại các bệnh viện đã tăng 17%, từ 770 triệu ringgit (hơn 4000 tỉ đồng) đến gần 1 tỷ ringgit (hơn 5500 tỉ đồng). Doanh thu tăng, cùng với sự mở rộng của các dịch vụ y tế và thị trường vươn tới Bắc Mỹ, Trung Đông, châu Phi và châu Âu tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của ngành chăm sóc sức khỏe Malaysia.

Trong năm 2015, khoảng 80% lượng khách du lịch sức khỏe tại Malaysia tới từ các nước lân cận, bao gồm Indonesia, Thái Lan và Singapore. Bộ trưởng Bộ Y tế Malaysia, Tiến sĩ S. Subramanian cho biết trong năm nay ” lượng lớn bệnh nhân tìm tới dịch vụ điều trị tại các trung tâm y tế công và tư nhân tại Malaysia đến từ Bangladesh, Trung Quốc, Indonesia, và các quốc gia tại Trung Đông và châu Phi.” Sự dịch chuyển các nhóm bệnh nhân chứng tỏ Malaysia đã vượt tầm khu vực để trở thành một cường quốc về y tế du lịch trên thế giới.

Một báo cáo từ Frost & Sullivan dự đoán ngành du lịch khám bệnh, cùng với dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, sẽ thúc đẩy sự phát triển của ngành chăm sóc sức khỏe trong trung và dài hạn.

Tại sao ngành y tế du lịch Malaysia tiếp tục phát triển?

Khi MHTC được thành lập vào năm 2009, bên cạnh dịch vụ khám bệnh hiện đại, chính phủ cũng tập trung vào chăm sóc và chẩn đoán dài hạn các bệnh như tim mạch, ung thư, chỉnh hình, thần kinh và sinh sản. Đồng thời, lĩnh vực y tế tư nhân về phẫu thuật thẩm mỹ, nha khoa, và LASIK cũng phát triển nhanh chóng khi các cơ sở y khoa và phòng khám tư bắt đầu đóng vai trò lớn hơn trong việc phát triển dịch vụ y tế tại Malaysia.

Khi thị trường du lịch khám bệnh tiếp tục phát triển, Malaysia cũng đã cải thiện dịch vụ chăm sóc phòng ngừa bệnh. Dịch vụ chăm sóc toàn diện tại Malaysia cũng tạo điều kiện để khách du lịch chữa bệnh kết hợp các phương pháp điều trị với nhiều phương pháp hồi phục. Phạm vi của các phương pháp điều trị và chăm sóc sức khỏe tại Malaysia mang tới cho khách du lịch chữa bệnh nhiều lựa chọn như Yoga, Ayurveda, Y học cổ truyền phương Đông, giải độc, an thần và chống lão hóa.

Hơn thế nữa, Malaysia có một lợi thế sẵn có để trở thành Trung tâm Halal Toàn cầu, với đa số cơ sở y tế và hạ tầng khác được thiết kế phù hợp với người theo đạo Hồi. Một nhân tố khác thu hút các du khách chữa bệnh từ Trung Đông tới Malaysia chính là đội ngũ y bác sĩ có nhiều người Hồi giáo, kể cả nam và nữ.

Là sự kết hợp lý tưởng cho chăm sóc sức khỏe xuyên lục địa, Malaysia sẵn sàng tiếp đón những khách du lịch chữa bệnh đang tìm kiếm dịch vụ điều trị y tế đẳng cấp thế giới với mức giá cạnh tranh, trong một môi trường sử dụng tiếng Anh và đa văn hóa, với các cơ sở y tế được cấp chứng nhận JCI, ISQua, ISO 9001, ACHSI, và MSQH. Đồng Ringgit giảm giá cũng mang đến cho du khách giá trị kinh tế tốt hơn khi chữa bệnh và du lịch tại Malaysia.

Điều này có nghĩa rằng bệnh nhân quốc tế có thể nhận được chất lượng điều trị 5 sao ở mức giá 3 sao tại một trong những cường quốc kinh tế ở Đông Nam Á, với sự đảm bảo về an toàn cá nhân và chất lượng điều trị.

Malaysia có thể phát triển ở những lĩnh vực nào nữa?

Trong thực tế, tương lai của ngành du lịch y tế tại Malaysia là một quá trình điều chỉnh và hoàn thiện.

Phân tích bởi Frost & Sullivan cho thấy rằng, nếu so sánh với các nước ASEAN khác, ” Malaysia có tỷ lệ nhân viên y tế cao hơn trung bình và các cơ sở chất lượng cao cung cấp các dịch vụ điều trị trong nhiều những mức giá khác nhau, giúp quốc gia này trở thành điểm đến hấp dẫn với khách du lịch chữa bệnh.”

Tuy nhiên, vẫn luôn có chỗ cho sự phát triển. Với tiêu chí mang lại những trải nghiệm hàng đầu cho bệnh nhân, sự tăng trưởng của ngành du lịch y tế Malaysia sẽ thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng, sự mở rộng của những thành phố dịch vụ, đầu tư về nguồn nhân lực và các khóa đào tạo nâng cao về chăm sóc bệnh nhân, sự ra đời của các quy chuẩn chất lượng, và sự tăng cường tiếp thị tới các thị trường quốc tế về những lợi ích to lớn tại Malaysia.

Tạp chí International Living đã xếp hạng Malaysia là một trong bốn điểm du lịch chữa bệnh hàng đầu thế giới về chất lượng dịch vụ, khả năng tiếp cận dịch vụ, tiêu chuẩn của các lựa chọn phục hồi sức khỏe, và sự cạnh tranh về giá.

Nguồn: International Medical Travel Journal

¬ Ngành Việt Nam Học (Chuyên Ngành Văn Hóa Du Lịch)

Ngành Việt Nam học sẽ mang đến cho người học một bức tranh tổng thể về Việt Nam với những giá trị như sau:

Cung cấp cho người học hệ thống kiến thức sâu sắc và toàn diện về Việt Nam, giúp thấu hiểu các giá trị cốt lõi và bản sắc riêng của cá nhân, cộng đồng, đất nước. Từ đó, khiến mọi người có thái độ trân trọng và yêu quý Việt Nam hơn. Ở phương diện đối tượng của một ngành đào tạo, Việt Nam học là một trong những ngành có tính nhân văn cao cả.

Sự đặc sắc về cảnh quan của Việt Nam khiến cho đất nước này trở thành một điểm đến du lịch quyến rũ, có sức hút bậc nhất ở châu Á. Vì vậy, Việt Nam học còn là một hành trình vui chơi và khám phá qua quá trình học về hệ thống di tích danh thắng cùng những điểm đến du lịch nổi tiếng trên khắp mọi miền đất nước trong chương trình học.

Kết hợp với ngành Việt Nam học, phân môn Tiếng Việt cho người nước ngoài tại Khoa KHXH&NV – Duy Tân vừa là phương tiện, vừa là chìa khóa giúp bạn bè quốc tế có thể tiếp cận và thích ứng dễ dàng hơn khi đến Việt Nam. Nơi đây là địa chỉ học tập lí tưởng cho những ai có niềm say mê với Văn hóa Việt và mong muốn sinh sống – làm việc tại mảnh đất ” Nghìn năm văn hiến”.

Ngành Việt Nam học, chuyên ngành Văn hóa Du Lịch sẽ đào tạo trên cơ sở chọn lọc, tích hợp nhiều điểm ưu việt của cả 2 hệ thống kiến thức Văn hóa và Du lịch; trang bị cho người học hệ thống kiến thức cốt lõi của chuyên ngành Việt Nam học trong bối cảnh ngành du lịch đang có bước phát triển mạnh ở Việt Nam; chú trọng gia tăng hàm lượng các môn kỹ năng, trang bị cho sinh viên những kỹ năng nghề nghiệp cần thiết; chú trọng gia tăng hàm lượng giảng dạy thực tế. Những chuyến đi thực tế tìm hiểu kiến thức môn học trên thực địa là đặc thù nổi trội của chương trình đào tạo Việt Nam học.

Hơn nữa, Việt Nam học là ngành học có tính liên ngành, đậm nét hàn lâm văn hóa. Xây dựng chương trình theo hướng ứng dụng với chuyên ngành Văn hóa – Du lịch, sinh viên sẽ được cung cấp những kiến thức về văn hóa, lịch sử của nhiều nền văn hóa muôn màu muôn vẻ khi khám phá hệ thống kiến thức và những trải nghiệm thực tiễn về: Văn hóa ẩm thực, Văn hóa ứng xử, giao tiếp, trang phục, âm nhạc, kiến trúc v…v… cùng với kỹ năng thiết thực, sát với định hướng nghề nghiệp ở lĩnh vực Văn hóa và Du lịch sau khi ra trường.

Để hoàn thành chương trình học Việt Nam học (chuyên ngành Văn hóa Du lịch) sinh viên cần phải tích lũy 132 tín chỉ (chưa tính Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng và các buổi sinh hoạt ngoại khóa khác). Trong quá trình theo học, sinh viên sẽ được trang bị các kiến thức chuyên ngành thuộc lĩnh vực văn hóa như: Phong tục tập quán lễ hội Việt Nam, Văn hóa Làng và Du lịch bản làng, Tín ngưỡng các dân tộc Việt Nam, Di sản mỹ thuật thế giới và Việt Nam; và các môn thuộc lĩnh vực du lịch như: Ẩm thực Việt Nam – lý thuyết và thực hành, Nghiệp vụ nhà hàng, Nghiệp vu bàn, Tiếp thị du lịch, Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch …

Điểm nhấn của ngành Việt Nam học, chuyên ngành Văn hóa Du lịch là chương trình tài năng tạo cơ hội cho sinh viên nhiều cơ hội trau dồi kỹ năng giao tiếp và trình độ ngoại ngữ nâng cao. Đặc biệt các em sẽ có cơ hội giao lưu với các bạn sinh viên đến từ nhiều quốc gia khác nhau của khu vực Asean. Những hoạt động quảng bá văn hóa, điền dã, ngoại khóa sẽ giúp cho sinh viên có thêm nhiều trải nghiệm và tăng cường hiểu biết nhiều nền văn hóa hết sức đa dạng của đất nước Việt Nam xinh đẹp.

Ngoài ra, trong khung chương trình đào tạo ngành Việt Nam học còn có hệ thống những môn học đại cương, tạo nền nền tảng văn hóa, như: Tri thức triết học (trong các học phần Triết học và tư tưởng phương Đông, phương Tây); Văn hóa tranh luận và phản biện (trong học phần Hướng Nghiệp 2, Logic học); Văn hóa thực học và tinh thần học tập suốt đời (trong học phần Hướng nghiệp 1); Văn hóa ứng xử giữa con người với tự nhiên và xã hội (trong học phần Môi trường và con người, Xã hội học đại cương, Lịch sử văn minh thế giới; Văn hóa đạo đức và chính trị (trong học phần Đạo đức nghề nghiệp; Hướng nghiệp 2, Các thể chế chính trị); Tầm nhìn chiến lược, tự quản bản thân (trong Hướng nghiệp 2).

* Thời gian đào tạo: 4 năm (132 tín chỉ).

– Có khả năng giao tiếp, kết nối và kỹ năng thuyết phục thu hút mọi người.

– Có khả năng vận dụng hiểu biết về văn hóa, lịch sử… vào trong vấn đề nhìn nhận, đánh giá các di sản vật thể và phi vật thể; nhìn nhận những vẫn đề xã hội theo hướng tiếp cận có chiều sâu; phát hiện những giá trị tiềm ẩn của cá nhân, tổ chức

– Có khả năng nhận ra trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp, tuyên truyền quảng bá văn hóa dân tộc cho bạn bè quốc tế để tăng cường sự thấu hiểu hơn đối với Việt Nam.

– Có khả năng làm việc nhóm hiệu quả, thiết lập mục tiêu, kế hoạch và đáp ứng các nhiệm vụ.

– Có khả năng nghiên cứu điền dã, điều tra xã hội học để đưa ra những nhận định, phát hiện ở những lĩnh vực văn hóa, lịch sử….

– Có khả năng tiếp thu và áp dụng kiến thức mới khi cần thiết bằng cách sử dụng các chiến lược học tập phù hợp.

– Hướng dẫn viên du lịch

– Điều hành tour

– Thiết kế, tổ chức sự kiện

– Quản lý buồng, phòng, … trong các khu resort, khách sạn, nhà hàng

– Làm việc tại các, ban phòng phụ trách văn hóa các cơ quan, Hội Văn hóa Dân gian các khu vực, vùng miền

– Làm việc ở các tổ chức văn hóa ở các tổ chức quốc tế, các TC CP & phi chính phủ

* Tổ hợp môn xét tuyển

Tổ hợp môn xét tuyển theo Học Bạ và theo kết quả kỳ thi THPT quốc gia.