Phát Triển Du Lịch Biển Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Những Nguyên Nhân Khiến Bạn Bị Xin Visa Du Lịch Úc?
  • Một Mình Ở Singapore
  • Tour Bà Nà Trong Ngày Chất Lượng Cao Tại Đà Nẵng
  • Du Lịch Một Mình Ở Singapore Trong 2022: Hướng Dẫn Thưởng Thức Những Điều Tuyệt Vời Nhất Ở Châu Á
  • Đặc Sản Đảo Bình Ba, Ăn Gì Khi Du Lịch Đảo Bình Ba?
  • Published on

    Phát triển du lịch biển.

    Cơ hội và thách thức cho Việt Nam

    Bãi biển đỏ tuyệt đẹp này nằm ở Bàn Cẩm, tỉnh Liêu Ninh, thuộc đông bắc Trung Quốc. Nơi đây cũng được coi là vùng đất ngập nước lớn nhất và tốt nhất bảo vệ những bãi đầm lầy hiếm có, quý giá của thế giới.

    1. 1. PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO VIỆT NAM NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 4 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS NGUYỄN TỐ UYÊN
    2. 2. CƠ HỘI NẰM Ở ĐÂU?
    3. 3. VỊ TRÍ ĐỊA LÍ  Bờ Tây của Biển Đông – biển lớn và thuộc loại quan trọng nhất của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.  Vùng biển rộng 1 triệu km  Biển Đông bao bọc toàn bộ sườn phía Đông và phía Nam Việt Nam  Nhiều đảo, quần đảo
    4. 4. QUÀ CỦA TẠO HÓA  Tài nguyên khoáng sản, dầu mỏ. (Mỏ Bạch Hổ ở Bà Rịa – Vũng Tàu).  Hang động, vũng vịnh trên đảo.  Nguồn hải sản phong phú  Nhiều bãi tắm, bờ biển đẹp
    5. 5. NHẬN BIẾT ĐƯỢC NHỮNG CƠ HỘI VÀ TIỀM NĂNG NHƯ VẬY, ĐẢNG TA CÓ ĐỊNH HƯỚNG GÌ?
    6. 6. CÁC KÌ ĐẠI HỘI TRƯỚC ĐÂY  “Coi trọng phát triển kinh doanh du lịch biển, tổ chức tốt việc cung ứng cho tàu biển nước ngoài và các dịch vụ khác” – (Đại hội đảng IV.)  “Khai thác sự hấp dẫn của thiên nhiên, oo di sản văn hoá phong phú và các lợi thế khác của đất nước, mở rộng hợp tác với nước ngoài để phát triển mạnh du lịch”. – (Đại hội đảng VII.)
    7. 7. CÁC KÌ ĐẠI HỘI TRƯỚC ĐÂY  Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng du lịch (theo hướng du lịch văn hóa, sinh thái môi trường)  Huy động các nguồn lực tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng ở những khu vực du lịch tập trung, ở các trung tâm lớn.  Nâng cao trình độ văn hóa và chất lượng dịch vụ phù hợp với các loại khách du lịch khác nhau. (Đại hội Đảng VIII)
    8. 8. CÁC KÌ ĐẠI HỘI TRƯỚC ĐÂY  Đưa ngành du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn. – (Đại hội Đảng IX)  “Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đa dạng hoá sản phẩm và các loại hình du lịch”. – (Đại hội Đảng X)
    9. 10. NHÌN VÀO THỰC TẾ HIỆN NAY
    10. 11. DU LỊCH BIỂN Nhiều điểm du lịch biển nổi tiếng đã được đầu tư phát triển như:  Vịnh Hạ Long, bãi biển Trà Cổ, Vân Đồn, Quan Lạn, Minh Châu (Quảng Ninh);  đảo Cát Bà (Hải Phòng);  bãi biển Sầm Sơn (Thanh Hóa);  bãi biển Cửa Lò (Nghệ An);  bãi biển Nhật Lệ (Quảng Bình);  vịnh Lăng Cô (Thừa Thiên-Huế);  Bãi biển Non Nước, Mỹ Khê (Đà Nẵng);  bãi biển Cửa Đại (Quảng Nam);  bãi Dài, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa);  bãi biển Mũi Né (Bình Thuận);  Vũng Tàu (Bà Rịa – Vũng Tàu);  đảo Phú Quốc, Hà Tiên (Kiên Giang)..
    11. 12. Biển Lăng Cô Huế
    12. 13. BÀ RỊA – VŨNG TÀU
    13. 14. XÁC ĐỊNH THÁCH THỨC
    14. 15. HẠN CHẾ  Trong một thời gian dài, tỷ trọng khách du lịch, thu nhập từ du lịch biển so với du lịch cả nước không có sự thay đổi đáng kể, mặc dù vùng ven biển là lãnh thổ có nhiều thuận lợi hơn những vùng lãnh thổ khác về tài nguyên du lịch.  Du lịch biển Việt Nam vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch, đặc biệt là du khách quốc tế.
    15. 16. NGUYÊN NHÂN  Công tác tuyên truyền và quảng bá về du lịch biển Việt Nam lâu nay chưa được quan tâm đúng mức.  Du lịch Việt Nam chưa tham gia các hội nghị, hội chợ chuyên về du lịch biển và du lịch tàu biển trên thế giới.  Không ít địa phương do nóng vội đã đưa ra các chiến lược phát triển thiếu tính bền vững.
    16. 17. NGUYÊN NHÂN  Tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên ngành du lịch còn thấp, trình độ chuyên môn chưa cao, khả năng giao tiếp kém.  Sự đầu tư của Nhà nước và sự huy động các nguồn vốn phục vụ cho du lịch chưa tương xứng với yêu cầu phát triển  Cơ chế quản lý nhà nước về du lịch chưa toàn diện, chưa chặt chẽ, chưa theo kịp với thực tế phát sinh.
    17. 18. BÀI HỌC CÁC QUỐC GIA ĐI TRƯỚC
    18. 20. THÁI LAN: CÁC BÃI BIỂN ĐẸP TẠI THÁI LAN Phuket Pattaya Nhảy dù
    19. 21. THÁI LAN: CHIẾN DỊCH QUẢNG BÁ VÀ XÚC TIẾN ĐA DẠNG  Ngành du lịch là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác.  Khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ du lịch cả về số lượng và chất lượng  Có những chính sách cụ thể với từng ngành  Thúc đẩy hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân  Khôi phục và giữ gìn các tài nguyên du lịch
    20. 22. TRUNG QUỐC
    21. 23. TRUNG QUỐC  Du lịch một ngành kinh tế trọng điểm, trụ cột cần ưu tiên đầu tư phát triển.  Trung Quốc phấn đấu đến năm 2022 sẽ trở thành một cường quốc về du lịch trên thế giới  Chủ đề du lịch được sắp xếp theo từng năm
    22. 24. NĂM CHỦ ĐỀ 1992 Năm Du lịch Trung Quốc (lần I) 1993 Năm Du lịch phong cảnh 1994 Năm Du lịch di tích văn vật cổ 1995 Năm Du lịch phong tục dân gian 1996 Năm Du lịch nghỉ dưỡng nghỉ mát 1997 Năm Du lịch Trung Quốc (lần II) 1998 Năm Du lịch thành phố – làng quê Hoa Hạ 1999 Năm Du lịch môi trường sinh thái 2000 Năm Du lịch Thế kỷ Thần Châu 2001 Năm Du lịch Thể dục sức khoẻ 2002 Năm Du lịch văn hóa nghệ thuật dân gian Trung Quốc 2003 Năm Du lịch vương quốc ẩm thực Trung Hoa 2004 Năm Du lịch đời sống dân dã Trung Quốc 2005 Năm Du lịch Trung Quốc (lần III) 2006 Nông thôn mới, du lịch mới, thể nghiệm mới, thời thượng mới
    23. 25. MALAYSIA : CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
    24. 26. MALAYSIA : CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
    25. 27. MALAYSIA : CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI  Thường xuyên nâng cấp trang thiết bị cho ngành du lịch  Duy trì phát triển văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.  Coi trọng công tác quảng bá sản phẩm du lịch trên cơ sở đa dạng sản phẩm – thỏa mãn khách hàng  Hiện nay Malaysia là quốc gia có nền kinh tế du lịch phát triển vào bậc nhất Đông Nam Á. Chỉ trong vài năm, với chính sách đầu tư hợp lý, ngành du lịch Malaysia đã vươn lên dẫn đầu khu vực.
    26. 28. GIẢI PHÁP CHO DU LỊCH BIỂN VIỆT NAM
    27. 29. PHẠM VI CẢ NƯỚC  Thẳng thắn nhận diện những hạn chế còn tồn tại.  Tập trung vào một số thị trường tiềm năng, đồng thời tìm thị trường mới.  Du lịch Việt Nam quyết tâm tăng cường bám biển, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững
    28. 30. HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU 1. Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng (năng lượng điện, nước sạch, vừa phát triển du lịch, vừa phục vụ nhu cầu của cư dân) 2. Hỗ trợ về giá, thuế cho các doanh nghiệp. Hỗ trợ liên kết phát triển du lịch với các ngành thủy sản, vận tải biển,… 3. Triển khai các dự án phát triển du lịch biển song song với việc bảo vệ môi trường
    29. 31. HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU 4. Tôn vinh văn hóa biển, ẩm thực biển 5. Triển khai tuyến du lịch vì chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc (Hoàng Sa, Trường Sa) 6. Đưa khu bảo tồn biển quốc gia vào danh sách khu bảo tồn thiên nhiên thế giới (UNESCO) 7. Có các chế tài nghiêm khắc xử lí việc khai thác quá mức cho phép hoặc gây ô nhiễm môi trường.
    30. 32. PHẠM VI ĐỊA PHƯƠNG CỤ THỂ  PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH  Sản phẩm du lịch gắn với khai thác giá trị văn hóa, tài nguyên nhân văn  Sản phẩm du lịch gắn với thể thao, giải trí, nghỉ dưỡng biển  Sản phẩm du lịch – tham quan, nghiên cứu về sinh thái
    31. 33. PHẠM VI ĐỊA PHƯƠNG CỤ THỂ  PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN DU LỊCH  Không gian du lịch sinh thái biển đảo  Không gian du lịch sinh thái ven biển  Không gian du lịch văn hóa – lịch sử  Không gian du lịch nghỉ dưỡng, thể thao, giải trí tổng hợp biển
    32. 34. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Móng Cái – Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn: Tập trung nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc, tiêu biểu là di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long, VQG Cát Bà; các bãi biển nổi tiếng như Trà Cổ, Quan Lạn, Cát Bà…
    33. 35. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Huế – Đà Nẵng – Hội An: Tập trung nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc của vùng du lịch Bắc Trung Bộ tiêu biểu là di sản văn hóa thế giới; hệ sinh thái đầm phá lớn nhất Việt Nam; các cảnh quan đặc sắn đèo Hải Vân, Ngũ Hành Sơn…
    34. 36. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Văn Phong – Nha Trang – Ninh Chữ – Phan Thiết: Tài nguyên du lịch đặc sắc tiêu biểu vịnh Văn Phong, Nha Trang, Cam Ranh với nhiều bãi biển đẹp như Đạ Lãnh, Nha Trang, Cam Ranh….; các hệ sinh thái biểu, hệ sinh thái cát ven biển; 2 khu du lịch tổng hợp vịnh Văn Phong – Đại Lãnh với Nha Trang và khu du lịch biển chuyên đề Phan Thiết – Mũi Né
    35. 37. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Long Hải – Vũng Tàu – Cần Giờ -Côn Đảo: Ngoài lợi thế về tiềm năng du lịch đặc sản mà tiêu biểu là cảnh quan, các giá trị đa dạng sinh học thì đây được xem là không gian du lịch cuối tuần đặc biệt quan trọng của thành phố HCM và phụ cận – thị trường du lịch lớn nhất Việt Nam.
    36. 38. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Rạch Giá – Hà Tiên – Phú Quốc: Có vị trí quan trọng đặc biệt đối với phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long với các giá trị đặc sắc về du lịch tiêu biểu là bãi biền Hòn Chông, Mũi Nai, Phú Quốc…; các hệ sinh thái rừng Tràm, rừng nhiệt đới trên đảo, san hô…; các cảnh quan hòn Phụ Tử, quần đảo Phú Quốc….
    37. 39. PHÁT TRIỂN ĐỒNG BỘ CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH  Đường bộ  Đường không  Đường sắt  Đường biển
    38. 40. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG TƯƠNG LAI NẰM Ở CHÍNH CÁC BẠN! Ý tưởng Quyết tâm Kiên trì, bền bỉ
    39. 41. CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Biển Việt Nam
  • 20 Món Đặc Sản Hà Nội Làm Quà Và Địa Chỉ Mua
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Tự Túc Đảo Quan Lạn (Phần 1)
  • Tour Cần Thơ 2 Ngày 1 Đêm
  • Nên Chơi Ở Đâu Và Ăn Gì Khi Đi Du Lịch Brussels, Bỉ ?
  • Phát Triển Kinh Tế Biển Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Biển, Đảo Việt Nam: Tiềm Năng Và Lợi Thế
  • Cho Thuê Du Thuyền Ở Bãi Biển Cửa Việt
  • Những Điểm Du Lịch Bãi Biển Nổi Tiếng Ở Việt Nam Bạn Nên Đến Một Lần
  • Danh Sách 10 Bãi Biển Đẹp Nhất Việt Nam Không Thể Bỏ Qua
  • Hướng Phát Triển Mới Cho Du Lịch Biển, Đảo Việt Nam
  • Cảng tàu khách du lịch quốc tế chuyên biệt Hạ Long tại Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh_Ảnh: TTXVN

    Tiềm năng phát triển kinh tế biển Việt Nam

    Về phát triển giao thông đường biển

    Nước ta có lợi thế về giao thông đường biển, khi gần các tuyến đường hàng hải quốc tế và khu vực. Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển ngành hàng hải, công nghiệp tàu thủy và logistics. Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa cho phép vận chuyển nhanh chóng, thuận lợi hàng hóa nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc, cũng như đi đến các nước trong khu vực và thế giới. Bờ biển dài và khúc khuỷu, với 114 cửa sông, khoảng 52 vịnh nước sâu ven bờ miền Trung (vũng, vịnh, đầm phá chiếm 60% chiều dài đường bờ biển), có hơn 100 vị trí có thể xây dựng các cảng biển lớn. Vùng biển Việt Nam nằm tại khu vực có tốc độ phát triển kinh tế cao và là cầu nối giữa nhiều cường quốc kinh tế và chính trị trên thế giới. Với vị trí thuận tiện cho giao thông và các vũng, vịnh kín có độ sâu lớn, rất thuận lợi làm cảng biển; không gian rộng lớn ở ven biển và trên bờ biển thuận lợi để phát triển các khu kinh tế.

    Về khai thác và chế biến khoáng sản

    Vùng biển Việt Nam chứa khoảng 35 loại hình khoáng sản với trữ lượng khai thác khác nhau từ nhỏ đến lớn, thuộc các nhóm: nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý và bán quý, khoáng sản lỏng. Đặc biệt, tiềm năng dầu khí phân bố trong 6 bồn trầm tích và hoạt động khai thác dầu khí được duy trì tại 11 mỏ ở thềm lục địa phía Nam. Thời gian qua, ngành dầu khí luôn giữ vai trò quan trọng trong kinh tế biển nói riêng và nền kinh tế của đất nước nói chung. Ngoài ra, ven biển nước ta đã phát hiện được các sa khoáng, khoáng vật nặng của các nguyên tố hiếm quý, như: titan, ziacon, xeri. Một số mỏ cát vật liệu xây dựng dưới đáy biển ở Quảng Ninh và Hải Phòng với trữ lượng trên 100 tỷ tấn và một dãy cát thạch anh ngầm dưới đáy biển Quảng Ninh (gần 9 tỷ tấn). Bên cạnh đó, tiềm năng tài nguyên nước biển cũng rất lớn, với các dạng năng lượng biển, như: băng cháy, năng lượng thủy triều, năng lượng sóng, năng lượng hạt nhân nước nặng từ nước biển.

    Về khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản

    Nguồn lợi hải sản trong vùng biển nước ta có độ phong phú cao. Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn có nhiều đặc sản khác có giá trị kinh tế, như: tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Chỉ tính riêng cá biển, có hơn 2.000 loài khác nhau đã được phát hiện, trong đó khoảng 100 loài có giá trị kinh tế; có 15 bãi cá lớn, phân bố chủ yếu ở vùng ven bờ. Theo các số liệu thống kê, trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hằng năm khoảng 2,3 triệu tấn. Dọc ven biển có trên 37 nghìn héc-ta mặt nước các loại có khả năng nuôi trồng thủy sản nước mặn – lợ, nhất là nuôi các loại đặc sản xuất khẩu, như: tôm, cua, rong câu… Ngoài ra, còn có hơn 50 nghìn héc-ta các eo vịnh nông và đầm phá ven bờ, như vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, phá Tam Giang, vịnh Vân Phong,… là môi trường rất thuận lợi để phát triển nuôi cá và đặc sản biển.

    Về phát triển du lịch biển

    Đường bờ biển dài trên 3.260km và hàng nghìn hòn đảo ven bờ đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam phát triển du lịch biển. Theo thống kê, dọc bờ biển Việt Nam có khoảng 125 bãi biển đẹp, trong đó, một số bãi biển và vịnh được đánh giá là những bãi biển và vịnh đẹp hàng đầu thế giới, như bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng), Phú Quốc (Kiên Giang), Eo Gió (Bình Định), vịnh Nha Trang, vịnh Lăng Cô, vịnh Hạ Long. Sự phong phú, đa dạng về tài nguyên tự nhiên và văn hóa đặc trưng vùng biển, đảo đã tạo ra những tiềm năng to lớn và lợi thế so sánh cho du lịch biển Việt Nam. Vùng biển Việt Nam lại nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiều khu vực ấm quanh năm, rất thuận lợi cho du khách từ nhiều quốc gia, đặc biệt từ các quốc gia có mùa đông lạnh tới nghỉ dưỡng, tắm biển. Những năm gần đây, ngành du lịch biển, hải đảo Việt Nam đang trên đà phát triển, thu hút ngày càng nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.

    Những thách thức trong phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện nay

    Một là, nhận thức chung về phát triển bền vững đất nước dựa vào tiềm năng biển, đảo còn chưa sâu sắc, chưa đầy đủ. Cùng với đó, nhận thức về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển của các cấp, các ngành, các địa phương ven biển và người dân chưa đầy đủ, quy mô kinh tế còn nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu các ngành nghề trong các lĩnh vực kinh tế biển chưa hợp lý, chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện để vươn ra vùng biển quốc tế. Mặt khác, việc đầu tư xây dựng các khu kinh tế ven biển còn tràn lan, thiếu trọng tâm, trọng điểm. Vẫn còn nặng tư duy khai thác tự phát, chưa thực sự coi biển là ngôi nhà chung, do vậy sống nhờ biển hơn là dựa vào biển mà giàu lên, khai thác chưa thực sự gắn liền với bảo tồn, phát triển.

    Hai là, kết cấu hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu, manh mún, thiết bị chưa đồng bộ, nên hiệu quả sử dụng thấp, kém bền vững. Các cảng biển, các khu kinh tế, sân bay ven biển còn nhỏ bé, chưa hình thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn… Hiện nay, hầu như tỉnh nào ở ven biển cũng quy hoạch cảng biển, nhưng không đủ kinh phí xây dựng, nên nhiều công trình dang dở; một số địa phương xây dựng cảng nhưng không thể khai thác, sử dụng, vì tính toán không hợp lý, gây lãng phí, kém hiệu quả.

    Ba là, các phương tiện, thiết bị nghiên cứu khoa học biển và hệ thống các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển chưa được đầu tư xứng đáng; các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo biển, thiên tai biển, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn,… ở ven biển còn nhỏ bé, trang bị thô sơ. Các phương thức quản lý biển mới, tiên tiến còn chậm được nghiên cứu áp dụng, như: quản lý tổng hợp dải ven biển, quản lý không gian biển, quy hoạch sử dụng biển chưa chú ý nghiên cứu ứng dụng công nghệ biển tiên tiến trong khai thác tài nguyên biển.

    Bốn là, tình hình khai thác, sử dụng biển và hải đảo chưa đạt hiệu quả cao, thiếu bền vững do khai thác tự phát, không tuân thủ quy hoạch biển đảo. Phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn theo hình thức sản xuất và đầu tư nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu, chủ yếu là ưu tiên khai thác tài nguyên biển ở dạng vật chất, không tái tạo; chú trọng nhiều đến sản lượng, số lượng, ít chú ý đến chất lượng và lợi ích lâu dài của các dạng tài nguyên. Ngoài ra, công tác quản lý, giám sát việc khai thác nguồn lợi biển còn nhiều yếu kém. Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào tiến trình quản lý còn rất thụ động, chưa làm rõ vấn đề sở hữu, sử dụng đất ven biển và mặt nước biển cho người dân vùng ven biển.

    Sáu là, môi trường biển bị ô nhiễm và biến đổi theo chiều hướng xấu. Ngày càng có nhiều chất thải chưa qua xử lý từ các lưu vực sông và vùng ven biển được đổ ra biển, một số khu vực ven bờ bị ô nhiễm, hiện tượng thủy triều đỏ xuất hiện ngày càng nhiều với quy mô rộng. Ngoài ra, Việt Nam cũng đang chịu tác động nặng nề của tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển dâng, trước hết là vùng ven biển và các đảo nhỏ. Đặc biệt, việc Trung Quốc mở rộng, tôn tạo trái phép các bãi rạn san hô ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam thành đảo nhân tạo…, khiến cho môi trường rạn san hô ở đây bị phá hủy vĩnh viễn, nguồn lợi thủy sản suy thoái đến mức khó có thể phục hồi và nghề cá khu vực có nguy cơ đổ vỡ.

    Một số giải pháp phát triển kinh tế biển Việt Nam theo hướng bền vững

    Trước hết, cần xây dựng một quy hoạch sử dụng biển cho toàn quốc mang tính tổng hợp với phương thức tiếp cận sinh thái. Đồng thời, xây dựng và triển khai thực hiện nền kinh tế biển xanh bằng việc bảo đảm tối ưu hóa các lợi ích. Tăng cường tính liên ngành trong phát triển và quản lý kinh tế biển vì lợi ích chung và lâu dài qua các công cụ chính sách, quy hoạch lồng ghép. Phối hợp thành lập và quản lý các khu bảo tồn ven biển và hải đảo để bảo toàn chức năng sinh thái của vùng biển và nguồn vốn tự nhiên biển cho phát triển biển bền vững.

    Thứ hai, nâng cao nhận thức về kinh tế biển bền vững, giảm thiểu các hành vi gây hại đối với môi trường và tài nguyên biển, cũng như cách ứng xử, đối phó với thiên tai, kiểm soát tốt nguồn thải, làm sạch bãi biển, bảo tồn hệ sinh thái biển nhằm tạo ra môi trường sống phù hợp, đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại và tương lai. Cùng với đó, tạo sinh kế, phúc lợi cho người dân từ biển; khuyến khích, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tham gia phát triển các ngành kinh tế biển như du lịch sinh thái, thám hiểm – khoa học, du lịch cộng đồng, gắn với nâng cao trách nhiệm của mọi tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và mỗi người dân trong phát triển bền vững biển Việt Nam.

    Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao. Bên cạnh việc chú trọng đầu tư phát triển đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia chất lượng cao, cần ưu tiên đầu tư cho công tác đào tạo, đào tạo lại nghề cho người dân, bảo đảm nhu cầu lao động của các ngành kinh tế biển. Đồng thời, phát triển khoa học và công nghệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tận dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tăng cường điều tra cơ bản biển, đẩy mạnh nghiên cứu, xác lập luận cứ khoa học cho việc hoạch định, hoàn thiện chính sách, pháp luật; ưu tiên đầu tư đánh giá tiềm năng và lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, hệ sinh thái và các ngành, lĩnh vực kinh tế, như: hàng hải, chế biến hải sản, nuôi trồng thủy, hải sản, năng lượng tái tạo, thông tin và công nghệ số biển, nano biển, sinh dược học biển,…

    Thứ tư, tôn trọng các yếu tố đặc thù, các giá trị cốt lõi trong vùng và từng địa phương, bảo đảm tốt liên kết vùng trong phát triển “chuỗi” khu kinh tế biển đảo, chuỗi đô thị ven biển và chuỗi đô thị đảo. Mỗi địa phương cần tìm ra nét đặc thù, tạo lợi thế cạnh tranh riêng biệt để khai thác, phát triển tiềm năng du lịch từ biển hoặc liên kết giữa các địa phương để tạo thành chuỗi du lịch biển nhằm khai thác lợi thế chung. Tăng cường đầu tư vào giá trị tự nhiên, bảo tồn và phát triển giá trị đa dạng sinh học thông qua mở rộng diện tích và lập mới các khu vực bảo tồn biển; phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên, nhất là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển.

    Thứ năm, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai từ biển, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, ngập lụt, xâm nhập mặn do triều cường, nước biển dâng cho các vùng duyên hải. Đồng thời, phải tiến hành cơ cấu lại các ngành kinh tế biển và ven biển dựa trên hệ sinh thái và phù hợp với lợi thế, tiềm năng tự nhiên. Trong đó, cần ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực như du lịch biển, đảo, năng lượng tái tạo (năng lượng gió, năng lượng dòng chảy thủy triều và năng lượng sóng biển), từng bước đầu tư phát triển công nghệ sinh học biển, dược liệu biển, bên cạnh việc thúc đẩy các ngành kinh tế biển truyền thống, như kinh tế hàng hải, khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản, nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản, hạ tầng nghề cá, công nghiệp đóng tàu,…

    Thứ sáu, chú trọng tính tổng thể, toàn diện; phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện tự_ nhiên, vị trí địa lý, bảo đảm tính kết nối giữa các địa phương ven biển với nhau, cũng như với các địa phương trong nội địa, qua đó tăng cường sự gắn kết, tạo thành chuỗi kết nối khép kín, nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa, sức cạnh tranh cho các ngành, địa phương và các vùng trong cả nước. Mặt khác, cần đẩy mạnh công tác quản lý biển theo cách tiếp cận tổng hợp nhằm giảm thiểu tác động từ hoạt động của các ngành kinh tế khác đến môi trường và tài nguyên biển./.

    Theo THS. HOÀNG VĂN KHẢI/Tạp chí Cộng sản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Địa Điểm Du Lịch Tâm Linh Nổi Tiếng Ở Miền Bắc
  • Những Địa Điểm Du Lịch Mùa Đông Ở Miền Bắc Hot Nhất 2022
  • Bảng Giá Phòng New Resort Đồng Châu Thái Bình 3 Sao
  • Vé Máy Bay Đường Nguyễn Thái Bình Quận 1
  • Tour Bình Ba 2 Ngày 2 Đêm
  • Việt Nam Phát Triển Du Lịch Tàu Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Khai Thác Thị Trường Du Lịch Tàu Biển
  • Thu Hút Khách Du Lịch Tàu Biển Vào Việt Nam
  • Tìm Hiểu 7 Tàu Du Lịch Trên Sông Sài Gòn Và Sông Mê Kông
  • Du Lịch Tây An Trung Quốc
  • Chuyến Du Lịch Tây Bắc Trong 5 Ngày Của Dân Văn Phòng Mê Phượt
  • Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

    Hoàng Tuấn Anh phát biểu khai mạc Hội nghị

    Tiềm năng và thực trạng du lịch tàu biển

    Việt Nam là quốc gia có lãnh thổ giáp biển lớn ở khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 27/156 quốc gia có đường bờ biển dài trên toàn thế giới với hơn 3260km và hệ thống cảng biển đủ tiêu chuẩn đón các tàu khách quốc tế cỡ lớn như cảng Hòn Gai, Hải Phòng, Chân Mây, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Sài Gòn, Côn Đảo, Phú Quốc cùng hàng trăm bãi biển, vịnh biển đẹp trải dọc từ Bắc chí Nam như vịnh Hạ Long, Trà Cổ, Cửa Lò, Thiên Cầm, Lăng Cô, Mỹ Khê, Nha Trang, Mũi Né, Vũng Tàu… Ngoài ra, nước ta còn có hàng nghìn hòn đảo trong đó có nhiều hòn đảo nổi tiếng Cát Bà, cù lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc. Khoảng cách đến các điểm tham quan du lịch chính của Việt Nam đều tương đối gần các cảng biển. Vì vậy, du khách có thể dễ dàng tiếp cận các điểm tham quan và các di sản thế giới như vịnh Hạ Long, cố đô Huế, di tích Mỹ Sơn, phố cổ Hội An… So với các quốc gia trong cùng khu vực, Việt Nam nằm trên tuyến đường giữa hai trung tâm du lịch tàu biển Singapore và Hồng Kông nên có nhiều lợi thế để phát triển du lịch tàu biển. Tuy có nhiều thuận lợi, nhưng trong những năm qua, lượng khách du lịch tàu biển mới chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam: 9% năm 2004, 5,8% năm 2005, 6,3% năm 2006 và 5,43% trong 11 tháng năm 2007.

    Những định hướng và giải pháp phát triển du lịch tàu biển

    Chính phủ và các Bộ, Ngành đã có nhiều chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút khách tàu biển vào Việt Nam như việc cải cách thủ tục hành chính tại cảng biển; giảm cảng phí cho các tàu vào Việt Nam định tuyến hoặc nhiều lần; mở cửa đảo Phú Quốc và Côn Đảo cho khách nước ngoài vào tham quan du lịch; miễn visa cho khách du lịch đến đảo Phú Quốc trong vòng 15 ngày; giảm lệ phí visa còn 5USD/khách tàu biển; đầu tư, nâng cấp, hiện đại hoá một số cảng biển quan trọng… Theo đánh giá của Vụ trưởng Vụ Lữ hành Tổng cục Du lịch Vũ Thế Bình, năm 2007 hứa hẹn sự thành công đối với du lịch tàu biển với tốc độ tăng trưởng 11 tháng đạt 27,9%, tương đương 207.162 lượt khách. Trong tháng 12/2007, các doanh nghiệp đón khách tàu biển của Việt Nam sẽ liên tục đón nhiều tàu du lịch đến Việt Nam, trong đó Saigontourist ký tiếp được hợp đồng với hãng tàu biển Star Cruise sau 2 năm không đưa khách đến Việt Nam. Riêng đối với thị trường khách du lịch tàu biển Trung Quốc ước đạt 100.000 lượt khách, chiếm 44% tổng lượng khách du lịch tàu biển tới Việt Nam trong năm 2007. Kể từ năm 2006 đã có các chuyến tàu từ Bắc Hải, Hải Nam tới Hạ Long và sắp tới sẽ có thêm các tuyến du lịch đường biển từ Trung Quốc tới các tỉnh miền Trung nước ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Lạng Sơn Tân Thanh 1 Ngày
  • Tour Hà Nội Tân Thanh Lạng Sơn
  • Mua Sắm ” Thả Ga” Ở Chợ Tân Thanh Lạng Sơn
  • Du Lịch Lạng Sơn Tân Thanh 2 Ngày 1 Đêm
  • Vườn Quốc Gia Xuân Sơn
  • Phát Triển Du Lịch Biển, Đảo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Việt Nam
  • Du Lịch Biển Đảo Quảng Ninh: Cơ Hội Và Thách Thức
  • Bình Định Phát Triển Đa Dạng Loại Hình Du Lịch
  • Liên Kết Phát Triển Du Lịch Bình Định
  • Tiềm Năng Du Lịch Vùng Đất Cà Mau
  • Sở dĩ du lịch biển, đảo của chúng ta chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và chưa mang lại hiệu quả cao là vì khâu quy hoạch, đầu tư, chuẩn bị các nguồn lực cần thiết cho việc phát triển du lịch còn nhiều hạn chế, yếu kém. Trong đó có 3 hạn chế lớn nhất, đó là: cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và thiếu tư duy chiến lược phát triển du lịch biển, đảo hợp lý.

    Nhiều năm trước đây, bãi biển Trà Cổ thuộc TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh có chiều dài gần 20km, được đánh giá là một trong những bãi biển đẹp nhất ở Việt Nam. Thế nhưng cho đến nay, vẻ đẹp và sự quyến rũ ấy đã bị biến dạng hoàn toàn. Khắp nơi trên bãi biển Trà Cổ tràn ngập vỏ cua, vỏ ghẹ, vỏ sò, vỏ ốc và các loại rác, túi nilon. Người dân kê bàn, dựng ô và bày bán hàng hóa vô tội vạ ở mọi nơi. Bãi biển Trà Cổ bề bộn như là một cái chợ quê lúc tan tầm. Đây là hậu quả của sự thiếu quản lý của chính quyền và cách làm du lịch, dịch vụ manh mún, lộn xộn, không có quy hoạch, hướng dẫn, mạnh ai nấy tiến của người dân nơi đây.

    Trong chiến lược phát triển du lịch tổng thể tỉnh Thái Bình giai đoạn 2001 – 2010 và định hướng đến 2022, khu vực bãi biển Đồng Châu đã được xác định xây dựng trở thành khu du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần, trung tâm du lịch, dịch vụ thể thao biển, nghỉ dưỡng chữa bệnh của Tỉnh. Mục đích đã được xác định rõ ràng như vậy, nhưng do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm và đặc biệt là thiếu sự quản lý, bảo vệ nên đến nay, môi trường, bộ dạng của khu du lịch Đồng Châu (xã Đông Minh, huyện Tiền Hải) đã bị xâm hại, phá vỡ nghiêm trọng. Trong đó, nguy hại nhất là tình trạng người dân đua nhau ra đào hố, hút cát làm bãi nuôi ngao, dựng nhà. Mặt bãi biển Đồng Châu bỗng chốc trở nên loang lổ, tan hoang. Bãi biển Đồng Châu giống như một công trường đang xây dựng dở dang.

    Cách bãi biển Đồng Châu không xa là khu du lịch Cát Bà thuộc TP. Hải Phòng. Nơi đây được xác định là một trong những trung tâm du lịch biển, đảo lớn của Việt Nam. Những năm gần đây, TP. Hải Phòng và nhiều thành phần kinh tế khác đã liên tục đầu tư cho Cát Bà về cơ sở hạ tầng. Thế nhưng, cứ đến mùa du lịch biển là ở đây xảy ra tình trạng thiếu nước ngọt và “cháy” phòng nghỉ. Hầu hết những người làm du lịch ở Cát Bà đều chưa được đào tạo. Các cơ sở lưu trú ở đây chủ yếu là do nhà dân cơi nới rồi tự gắn biển khách sạn và “phong sao” cho mình. Giao thông kết nối giữa đất liền và khu du lịch đảo Cát Bà thực sự còn nhiều hạn chế. Chính vì điều này mà du lịch Cát Bà vẫn ì ạch không sao bứt phá lên được.

    Về thăm Hải Phòng, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn Tuấn thẳng thắn cho rằng: Du lịch Hải Phòng chưa phát triển cùng tốc độ với sự phát triển kinh tế – xã hội Thành phố. Hạ tầng du lịch chưa được đầu tư tương xứng, nhất là hai trọng điểm du lịch biển, đảo Đồ Sơn và Cát Bà. Du lịch Hải Phòng vẫn mang nặng tính thời vụ khi tập trung “khai thác” vài tháng mùa hè nên khó tránh khỏi kiểu làm du lịch chụp giật. Điều đó kéo theo việc đầu tư cho du lịch cũng ít được quan tâm, nếu có cũng manh mún, mạnh ai nấy làm và chưa có hướng đi đột phá để tạo ra sản phẩm du lịch chất lượng cao. Cái vòng luẩn quẩn vẫn chưa có lối thoát.

    Thực ra không riêng gì du lịch biển, đảo của Hải Phòng đang ở trong vòng luẩn quẩn, lãng phí tiềm năng mà rất nhiều các địa phương khác có lợi thế về du lịch biển, đảo cũng đang ở trong tình trạng như vậy. Chính vì điều này mà tại hội thảo quốc gia về phát triển du lịch Việt Nam nhân kỷ niệm 50 năm thành lập ngành Du lịch Việt Nam diễn ra tại Hà Nội, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Khoan đã phải thốt lên rằng: ông cảm thấy buồn và tiếc lắm khi các bãi biển của Việt Nam, từ Trà Cổ, Đồ Sơn đến Cửa Lò đều đang đánh mất dần vẻ đẹp vốn có.

    Ông Bally – một chuyên gia du lịch Pháp đã nhiều lần đến Việt Nam cho rằng: Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng du lịch biển, đảo đa dạng vào loại bậc nhất trên thế giới. Thế nhưng Việt Nam chưa khai thác được lợi thế này một cách bài bản và đang để tiềm năng, lợi thế biển, đảo bị tàn phá từng ngày do sự thiếu ý thức bảo vệ môi trường, cảnh quan của người dân. Theo ông, đã đến lúc Việt Nam cần làm ngay một quy hoạch tổng thể có tầm nhìn dài hạn cho khu vực biển, đảo Việt Nam, trong đó những bãi biển đẹp, hòn đảo có tiềm năng du lịch phải được khoanh vùng bảo vệ. Hiện giờ, Việt Nam còn hạn chế về vốn, kinh nghiệm thì nên đầu tư tập trung cho từng điểm du lịch biển, đảo một. Làm đến đâu chắc đến đó, tránh tuyệt đối sự dàn trải, manh mún. Những bờ biển, hòn đảo đẹp có tiềm năng du lịch nhưng chưa có điều kiện đầu tư phát triển thì phải có kế hoạch giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối, tránh sự tàn phá về môi trường và cảnh quan.

    Biển đẹp, đảo xanh chờ ngày đánh thức

    Theo thống kê, hàng năm, các khu du lịch biển, đảo của nước ta thu hút khoảng 70% số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, trên 50% số lượt khách du lịch nội địa, đóng góp khoảng 70% tổng thu nhập từ du lịch của cả nước.

    Mặc dù đã có bước phát triển mạnh mẽ nhưng cho đến nay, du lịch biển, đảo Việt Nam vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch. Bên cạnh đó, du lịch biển Việt Nam chưa thu hút được nhiều du khách quốc tế đi bằng đường biển. Việt Nam chưa được xem là điểm đến hấp dẫn trong hành trình du lịch tàu biển khu vực và quốc tế. Điều này chứng tỏ du lịch biển Việt Nam chưa hình thành những sản phẩm du lịch biển đặc sắc, có sức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế.

    Hiện nay, cả nước chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt trình độ quốc tế; tình trạng trùng lặp về sản phẩm du lịch ảnh hưởng đến mức độ hấp dẫn và thu nhập du lịch. Ngoài ra, việc đầu tư khai thác hệ thống các đảo, trước hết là đầu tư phát triển du lịch cho các đảo ven bờ còn nhiều hạn chế. Việc khai thác tài nguyên du lịch ở vùng ven biển còn thiếu bền vững do tình trạng chồng chéo trong quản lý. Biểu hiện cụ thể nhất là việc khai thác rừng ngập mặn, vật liệu xây dựng (cát biển, núi đá…), nước ngầm, thủy sản… làm suy giảm tài nguyên vùng ven biển, ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch bền vững…

    Trong chiến lược biển Việt Nam xác định: phấn đấu đến năm 2022, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP cả nước, trong đó du lịch biển và kinh tế đảo đóng góp khoảng 14 – 15% GDP của nền kinh tế biển quốc gia; đồng thời là một trong 5 đột phá về kinh tế biển, ven biển.

    Để đạt được mục tiêu đề ra, đã đến lúc du lịch biển, đảo của Việt Nam cần được quan tâm đầu tư, phát triển hợp lý và chuyên nghiệp. Theo các chuyên gia về kinh tế biển, cần có những giải pháp đồng bộ như vấn đề quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển du lịch biển, đảo. Phải tăng cường đầu tư phát triển các loại hình du lịch biển gắn với bảo vệ môi trường biển, đảo; đồng thời củng cố và mở rộng thị trường khách du lịch tàu biển. Để du lịch biển, đảo phát triển chuyên nghiệp, hiệu quả cần tiến hành xây dựng hoàn thiện chương trình đào tạo toàn diện nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch biển. Phát triển du lịch biển, đảo dứt khoát phải coi trọng sự tham gia của cộng đồng cư dân.

    Cùng với đó, để du lịch biển, đảo Việt Nam phát triển bền vững phải nhanh chóng xây dựng các tiêu chí về du lịch biển, đảo phân theo vùng, như: du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh, du lịch thể thao giải trí biển, du lịch biển, đảo dã ngoại, du lịch biển bình dân, du lịch biển phức hợp… Trên cơ sở những tiêu chí đó, các địa phương muốn khai thác du lịch biển, đảo sẽ quy hoạch, khai thác đảm bảo phát triển bền vững; các cơ quan quản lý nhà nước căn cứ vào những tiêu chí đó để đánh giá, xếp hạng… cho từng vùng du lịch biển, từng khu du lịch cũng dễ dàng hơn. Mặt khác, sự phân vùng này sẽ giảm thiểu sự thiếu đồng bộ trong đầu tư phát triển du lịch biển, đảo tạo nên sự đa dạng trong các sản phẩm du lịch biển, góp phần thu hút, kéo dài thời gian lưu trú du khách và tăng thu nhập từ du lịch cho các địa phương…

    Ths. Nguyễn Thị Tình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Bền Vững: Thực Trạng, Khung Lý Thuyết Và Gợi Ý Hướng Phát Triển Cho Tỉnh Đồng Nai
  • Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững Tại Việt Nam
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Cù Lao Chàm
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Là Gì?
  • Giải Pháp Cho Bài Toán Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Khánh Hòa
  • Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Biển Đảo Quảng Ninh: Cơ Hội Và Thách Thức
  • Bình Định Phát Triển Đa Dạng Loại Hình Du Lịch
  • Liên Kết Phát Triển Du Lịch Bình Định
  • Tiềm Năng Du Lịch Vùng Đất Cà Mau
  • “cởi Trói” Du Lịch Cà Mau
  • Phát triển du lịch biển đảo Việt Nam

    Cập nhật ngày: 22/10/2007

    Nguồn:Tạp chí DLVN tháng 9/2007

    Để quản lý và khai thác hiệu quả tiềm năng và thế mạnh biển, đảo Việt Nam trong việc phát triển du lịch, Tổng cục Du lịch đã phối hợp với UBND tỉnh Bình Thuận tổ chức Hội thảo: “Quản lý và phát triển du lịch biển, đảo Việt Nam”. Hội thảo đã thu hút nhiều chuyên gia nghiên cứu về kinh tế biển và đại diện nhiều địa phương có thế mạnh về biển, các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn tham dự…

    TIỀM NĂNG DU LỊCH BIỂN VIỆT NAM

    Việt Nam có tiềm năng to lớn về phát triển du lịch biển, với trên 3000km bờ biển, hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ, hàng loạt những bãi tắm cát trắng, nước trong xanh trải dài trên ven biển Việt Nam đã tạo những điều kiện thuận lợi cho du lịch biển Việt Nam phát triển. Những bãi biển, vịnh biển của Việt Nam được du khách cả thế giới biết đến như vịnh Hạ Long (2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới và đang nằm trong danh sách đề cử kỳ quan thiên nhiên thế giới), vịnh Nha Trang – một trong những vịnh đẹp nhất hành tinh, bãi biển Đà Nẵng được Tạp chí Forber bầu chọn là một trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh… cũng đã nói lên sức hút của biển Việt Nam đối với du khách trong và ngoài nước.

    Bên cạnh những giá trị tự nhiên, các yếu tố nhân văn giàu bản sắc văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc: Kinh, Hoa, Khơ Me, Chăm… vùng ven biển cũng có ý nghĩa to lớn đối với phát triển du lịch biển. Nhiều địa bàn ven biển và hải đảo như Hải Phòng – Quảng Ninh, Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam… hội tụ đủ những giá trị tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn có giá trị tạo nên sức hấp dẫn lớn về du lịch…

    VỊ TRÍ CỦA DU LỊCH BIỂN TRONG CHIẾN LƯỢC BIỂN VIỆT NAM

    Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH Trung ương Đảng khóa X đã thông qua về Chiến lược biển Việt Nam – Một Chiến lược tổng thể về biển, bao gồm cả kinh tế, xã hội, ngoại giao, khoa học và công nghệ, môi trường, an ninh quốc phòng biển và ven biển. Với mục tiêu, phấn đấu đến năm 2022, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP cả nước. Chiến lược đã xác định du lịch biển và kinh tế đảo là một trong 5 đột phá về kinh tế biển, ven biển, bao gồm: khai thác, chế biến dầu, khí; kinh tế hàng hải; khai thác chế biến hải sản; du lịch và kinh tế đảo; các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với các khu đô thị ven biển.

    THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN VIỆT NAM

    Về kinh tế biển và vùng ven biển, theo những tính toán của cơ quan chức năng, năm 2000, GDP của nền kinh tế biển và vùng ven biển đóng góp 39% GDP của cả nước; năm 2005 bằng 38% GDP của cả nước (trong đó kinh tế biển là 13% và kinh tế ven biển là 25%). Trong các ngành kinh tế biển như khai thác dầu khí, hải sản, hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển), đóng góp của du lịch biển chiếm khoảng 17 – 20%.

    Thực trạng phát triển du lịch biển trong những năm gần đây cho thấy, vùng biển hàng năm thu hút khoảng 70% số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, trên 50% số lượt khách du lịch nội địa, khoảng 70% tổng thu nhập từ du lịch của cả nước. Dọc ven biển Việt Nam đã có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc phát triển du lịch, trên 30 bãi biển đã được đầu tư và khai thác. Hệ thống cơ sở lưu trú vùng ven biển không ngừng tăng lên, đặc biệt số lượng những cơ sở lưu trú từ 3 sao trở lên phần lớn tập trung ở các địa phương ven biển. Tính đến năm 2005, vùng ven biển có gần 1.400 cơ sở lưu trú với trên 45.000 buồng.

    Theo thống kê đội ngũ lao động du lịch vùng ven biển hiện chiếm khoảng 65% tổng số lao động trực tiếp của cả nước, tập trung nhiều nhất ở TP. Hồ Chí Minh – Bà Rịa – Vũng Tàu (trên 60%); Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng (8,5%); Hải Phòng, Quảng Ninh (8,1%); trong đó tỷ lệ lao động được đào tạo nghiệp vụ ở các trường du lịch hay các khóa đào tạo tại chỗ đạt 75%, tỷ lệ đạt trình độ đại học và trên đại học chiếm khoảng 7,5%. Bên cạnh đó, sự phát triển của du lịch biển còn tạo việc làm gián tiếp cho 60 vạn lao động là các dân cư ven biển.

    Một trong những nhân tố đóng góp vào sự phát triển du lịch biển trong những năm qua là công tác tuyên truyền quảng bá. Hàng năm, nhiều tỉnh, thành phố đã tổ chức lễ hội khai trương mùa du lịch biển. Đồng thời, các địa phương đã tích cực tham gia xúc tiến du lịch tại các hội chợ du lịch quốc tế thông qua các ấn phẩm, vật phẩm như đĩa VCD, CD Rom, mạng internet quảng bá các sản phẩm dịch vụ và tiếp thị điểm đến.

    Từ phân tích thực trạng phát triển du lịch biển, PGS. TS Phạm Trung Lương cho rằng: du lịch biển Việt Nam vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch. Bên cạnh đó, du lịch biển Việt Nam chưa thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế đi bằng đường biển. Nói một cách khác, Việt Nam chưa được xem là điểm đến hấp dẫn trong hành trình du lịch tàu biển khu vực và quốc tế, chứng tỏ du lịch biển Việt Nam chưa hình thành những sản phẩm du lịch biển đặc sắc, có sức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế. Cho đến nay, cả nước chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt trình độ quốc tế; tình trạng trùng lặp về sản phẩm du lịch ảnh hướng đến mức độ hấp dẫn và thu nhập du lịch. Ngoài ra, việc đầu tư khai thác hệ thống các đảo, trước hết là đầu tư phát triển du lịch cho các đảo ven bờ còn nhiều hạn chế. Việc khai thác tài nguyên du lịch ở vùng ven biển còn thiếu bền vững do tình trạng chồng chéo trong quản lý. Biểu hiện cụ thể nhất là việc khai thác rừng ngập mặn, khai thác vật liệu xây dựng (cát biển, núi đá…), nước ngầm, thủy sản… làm suy giảm tài nguyên vùng ven biển, ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch bền vững…

    Về thực trạng du lịch biển Phan Thiết, Giám đốc Sở Du lịch Bình Thuận Ngô Minh Chính thừa nhận: cho đến thời điểm này, Phan Thiết – Bình Thuận vẫn chưa có một khu resort hay khách sạn nào đạt tiêu chuẩn 5 sao; đội ngũ nhân sự đã qua đào tạo chính quy chỉ đạt khoảng 30%, còn 70% chưa qua đào tạo; các dịch vụ chủ yếu về du lịch biển được xem là thế mạnh còn thiếu và yếu, chủ yếu vẫn là nghỉ ngơi, tắm biển; còn thiếu những dịch vụ vui chơi giải trí, mua sắm, chữa bệnh.. gắn liền với biển nên số ngày khách lưu trú tại Phan Thiết – Bình Thuận ngắn, trung bình 3 ngày, 2đêm/khách, do đó, doanh thu từ khách du lịch vẫn còn thấp.

    GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN VIỆT NAM

    Nhằm phấn đấu đến năm 2022, kinh tế biển và ven biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP của cả nước như mục tiêu Chiến lược biển đề ra, theo đó du lịch biển là khâu đột phá thứ 4 sẽ có mức đóng góp khoảng 14 – 15% GDP của nền kinh tế biển quốc gia. Để đảm bảo được vị trí và vai trò đó, theo các chuyên gia về kinh tế biển cần có những giải pháp đồng bộ như vấn đề quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển du lịch biển; đầu tư phát triển các loại hình du lịch biển; vấn đề môi trường biển; củng cố và mở rộng thị trường khách du lịch tàu biển; xây dựng một chương trình đào tạo toàn diện và các kế hoạch đào tạo mới, đào tạo lại nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch biển; vấn đề cạnh tranh trong phát triển du lịch; sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển du lịch; vấn đề quản lý tông hợp sự phát triển của các ngành kinh tế biển…

    Để phát triển du lịch biển Việt Nam bền vững, có nhiều vùng biển tầm cỡ quốc tế, theo nhiều ý kiến: Tổng cục Du lịch cần xây dựng các tiêu chí về du lịch biển phân theo vùng: du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh, du lịch thể thao giải trí biển; du lịch biển dã ngoại; du lịch biển bình dân; du lịch biển phức hợp… Các địa phương muốn khai thác du lịch biển sẽ dựa vào những tiêu chí ấy để quy hoạch, khai thác đảm bảo phát triển bền vững; các cơ quan quản lý nhà nước căn cứ vào những tiêu chí đó để đánh giá, xếp hạng… cho từng vùng du lịch biển, từng khu du lịch cũng dễ dàng hơn. Mặt khác, sự phân vùng này sẽ giảm thiểu sự thiếu đồng bộ trong đầu tư phát triển du lịch biển, tạo nên sự đa dạng trong các sản phẩm du lịch biển, góp phần thu hút và kéo dài thời gian lưu trú du khách và tăng thu nhập từ du lịch cho các địa phương…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Biển, Đảo Việt Nam
  • Du Lịch Bền Vững: Thực Trạng, Khung Lý Thuyết Và Gợi Ý Hướng Phát Triển Cho Tỉnh Đồng Nai
  • Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững Tại Việt Nam
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Cù Lao Chàm
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Là Gì?
  • Sự Phát Triển Ngành Du Lịch Biển Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 5 Điểm Du Lịch Biển Việt Nam Được Yêu Thích Nhất
  • Giới Thiệu Vùng Đất Mũi Cà Mau
  • Top 5 Địa Điểm Du Lịch Cao Bằng Đẹp Đến Ngỡ Ngàng
  • Cát Bà, Đảo Cát Bà
  • Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Đồng Tháp
  • Mùa hè sắp đến và những bãi biển là lựa chọn hàng đầu của nhiều khách du lịch.Các đang tận dụng các tour du lịch ngắn ngày thu hút thêm lượng khách đông đảo trở thành một chiến lược phát triển của ngành du lịch nhằm tận dụng các cảnh quan và sinh thái vùng ven biển để phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho người dân.

    Được thiên nhiên ban tặng trên 3.600km đường bờ biển, Việt Nam đang có nhiều lợi thế để phát triển du lịch tàu biển. Với lượng khách đến tăng nhiều trong những năm qua, du lịch vùng ven biển đang có sự tăng trưởng mạnh mẽ về doanh thu.

    Dọc bờ biển Việt Nam đã có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc phát triển du lịch, trên 30 bãi biển đã được đầu tư và khai thác. Trong đó, các khu vực biển có tiềm năng lớn đã đầu tư phát triển là vịnh Hạ Long – Hải Phòng – Cát Bà; Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam; Vân Phong – Đại Lãnh – Nha Trang; Vũng Tàu – Long Hải – Côn Đảo; Hà Tiên – Phú Quốc; Phan Thiết – Mũi Né.

    Hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ, hàng loạt những bãi tắm cát trắng, nước trong xanh trải dài ven biển là những điều kiện thuận lợi cho du lịch biển Việt Nam phát triển. Những bãi biển, vịnh biển Việt Nam được du khách cả thế giới biết đến như vịnh Hạ Long, vịnh Nha Trang hay bãi biển Đà Nẵng được Tạp chí Forbes bầu chọn là một trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh… đều nói lên vẻ đẹp của biển Việt Nam đối với du khách trong và ngoài nước.

    Hiện nay các tour nghỉ biển thực chất là các tour nghỉ dưỡng để lấy lại sức khỏe, tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi, tính chất thăm quan danh thắng + tìm hiểu văn hóa là không nhiều. Do vậy để 1 tour biển thành công thì trước đây “điều kiện vật chất” luôn được coi trọng hàng đầu, cụ thể chất lượng xe ôtô thật tốt, các bữa ăn với thực đơn phong phú, đảm bảo, khách sạn trung tâm, tiện nghi, gần biển…

    Những năm gần đây “yếu tố tinh thần” của tour đã được chú ý và quan tâm hơn rất nhiều, đó là kiến thức hướng dẫn viên, khả năng hoạt náo hòa đồng của tour leader, các chương trình trò chơi (teambuilding) được tổ chức trên biển, các buổi tiệc (gala dinner) với tinh thần đồng đội, sẻ chia, các đêm đốt lửa trại ngoài biển lãng mạn, khó quên…

    VÌ SAO KHÁCH HÀNG LỰA CHỌN DU LỊCH KHÁT VỌNG VIỆT?

    “Là người đam mê du lịch, với Tôi du lịch là cuộc sống, sứ mệnh của chúng Tôi là thiết kế và tổ chức những Tour du lịch có giá trị cao cho mọi khách hàng, giúp khách hàng có được những chuyến đi thực sự ý nghĩa, vui vẻ và bình an, giúp gắn kết tất cả các thành viên để mọi người hiểu nhau hơn và làm việc hiệu quả hơn”

    Nguyễn Thanh Minh – CEO công ty du lịch Khát Vọng Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Địa Điểm Du Lịch Bến Tre Thú Vị Nhất Định Phải Đến
  • 64 Địa Điểm Du Lịch Cực ” Hot ” Ở Việt Nam
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tự Túc Tràng An Chi Tiết Từ A
  • Giấy Phép Kinh Doanh Du Lịch
  • Điều Kiện, Thủ Tục Xin Giấy Phép Kinh Doanh Lữ Hành Quốc Tế Năm 2022
  • Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Bền Vững: Thực Trạng, Khung Lý Thuyết Và Gợi Ý Hướng Phát Triển Cho Tỉnh Đồng Nai
  • Phát Triển Du Lịch Biển, Đảo Việt Nam
  • Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Việt Nam
  • Du Lịch Biển Đảo Quảng Ninh: Cơ Hội Và Thách Thức
  • Bình Định Phát Triển Đa Dạng Loại Hình Du Lịch
  • Tham gia hội thảo gồm hơn 100 đại biểu là đại diện Bộ Văn hóa – Thông tin, Tổng cục Du lịch, Viện Kinh tế Quy hoạch Thủy sản, UBND tỉnh Khánh Hòa, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế, các công ty du lịch, các chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực này.

    Rừng ngập mặn Cần Giờ

    Ảnh: Văn Phương

    Thiên nhiên đã ưu đãi cho Việt Nam một nguồn tài nguyên biển giàu tiềm năng với nhiều bãi biển đẹp, nhiều vịnh, đảo và dải san hô trù phú. Vì thế, du lịch biển luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Những năm gần đây, Việt Nam được rất nhiều du khách quốc tế lựa chọn là điểm đến tham quan, nghỉ dưỡng. Trong tổng số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam thì du khách đến các bãi biển chiếm phần đáng kể. Đó là lý do khiến du lịch biển chiếm 70% doanh thu toàn Ngành. Nhiều dự án, công trình phục vụ du lịch dọc các bờ biển không ngừng được nâng cấp và xây mới. Du lịch biển đã giải quyết việc làm và nâng cao mức sống cho nhiều lao động tại các địa phương.

    Tuy nhiên, cho đến nay, việc khai thác du lịch biển vẫn chưa được thực hiện một cách đúng hướng và đúng mức. Thay vì tận dụng lợi thế tự nhiên trong quá trình đầu tư du lịch, chúng ta đã lặp lại sai lầm tại châu âu nhiều năm trước, đó là đầu tư du lịch bằng công nghệ dưới các hình thức, casino, bar… Hậu quả là các giá trị tự nhiên đang ngày càng bị suy giảm, riêng biển Việt Nam đang bị đục hóa và ô nhiễm, các rạn san hô bị gãy nát, sinh vật biển chết nhiều, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học. Theo kết quả nghiên cứu khảo sát của các nhà khoa học, 80% tài sản vô giá của biển Việt Nam như hệ sinh thái thảm cỏ biển, rạn san hô… đang nằm trong tình trạng rủi ro và 50% trong số đó được cảnh báo là rủi ro cao, khó khắc phục. Dưới sức ép của các hoạt động du lịch, Việt Nam đang dần đánh mất hệ sinh thái ngập mặn đặc trưng hiếm có trên thế giới, làm ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái biển. Hiện cả nước chỉ còn khoảng 155.290ha diện tích rừng ngập mặn, giảm 100.000ha so với trước năm 1990…

    Ngành Du lịch đặt mục tiêu đến năm 2010 du khách đến Việt Nam sẽ tăng lên 7 – 7,5 triệu lượt khách. Như vậy, ngành Du lịch phải tăng cường công tác bảo tồn, phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững; không ngừng nâng cao nhận thức cho cộng đồng; đặc biệt, cần xác định đối tượng khách du lịch chất lượng để vừa bảo vệ môi trường vừa đảm bảo nguồn thu – đó là những người biết trân trọng các giá trị văn hóa và thiên nhiên, sẵn sàng chi tiền để thưởng thức giá trị đích thực của thiên nhiên…

    PT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Cù Lao Chàm
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Là Gì?
  • Giải Pháp Cho Bài Toán Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Khánh Hòa
  • Nguyễn Thị Hải Lê. Văn Hóa Sinh Thái Biển Trong Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Nha Trang
  • Phát Triển Bền Vững Du Lịch Biển Nha Trang
  • Tìm Hướng Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Cà Mau: Nhiều Tiềm Năng Để Phát Triển Du Lịch
  • Du Lịch Cần Thơ Phát Triển
  • Dấu Ấn Phát Triển Du Lịch Cao Bằng
  • Để Du Lịch Ẩm Thực Cao Bằng Phát Triển
  • Cao Bằng: Khai Thác Văn Hóa Truyền Thống Để Phát Triển Du Lịch
  • Chương trình đã thu hút sự tham gia của hơn 100 khách mời là lãnh đạo Tổng Cục trưởng Tổng Cục Du lịch Việt Nam, lãnh đạo các vụ Thị trường du lịch, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố, đại diện 12 huyện đảo trên cả nước cùng các doanh nghiệp lưu trú, lữ hành…

    Ông Nguyễn Trùng Khánh, Tổng Cục trưởng Tổng Cục Du lịch Việt Nam, cho biết, chương trình kích cầu du lịch Việt Nam đã được phát động từ sớm ngay khi đại dịch COVID-19 được kiểm soát tại Việt Nam với nhiều loại hình du lịch được kích cầu như: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch biển đảo, du lịch tâm linh… Hiện nay, Việt Nam có hệ thống biển đảo khá phong phú, đa dạng, rất thích hợp cho phát triển du lịch biển đảo. Tuy nhiên, loại hình này cũng đang phát triển khó khăn do chưa được đẩy mạnh quảng bá, giới thiệu. Hiện nay, du lịch biển đảo cũng đang thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước do biển đảo Việt Nam có cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ, đa dạng và rất đẹp.

    “Sắp tới, muốn phát triển du lịch biển đảo , chúng ta cần khắc phục những khó khăn về môi trường và sức chứa lẫn sự an toàn trong du lịch. Vừa qua, có không ít du khách đi các huyện đảo Phú Quốc, Côn Đảo… bày tỏ sự không hài lòng về vấn đề rác thải, vệ sinh môi trường; vẫn còn tình trạng du khách, người dân xả rác ra môi trường… Vì vậy, để phát triển du lịch biển đảo tại 12 huyện đảo trên cả nước cần sớm khắc phục việc thu gom rác thải, tăng cường các giải pháp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của du khách và người dân, thu hút đầu tư xây dựng các nhà máy thu gom rác tại các đảo… Đối với vấn đề sức chứa vào dịp cao điểm, các huyện đảo cần xây dựng những khu nghỉ dưỡng, khách sạn đạt tiêu chuẩn để du khách có nhiều lựa chọn, không bị chặt chém khi đi du lịch vào mùa cao điểm…”, ông Nguyễn Trùng Khách cho biết thêm.

    Theo ông Lê Thế Chữ, Tổng biên tập của Báo Tuổi Trẻ, hiện dịch bệnh COVID-19 đã cơ bản được kiểm soát trên cả nước, vì vậy đơn vị đã phát động chương trình kích cầu du lịch biển đảo để kích cầu người dân đi du lịch nội địa nhiều hơn. Ngoài ra, để kích cầu du lịch Việt Nam, đơn vị cũng cho ra mắt cuồn sách cẩm nang du lịch có tên “12 Huyện đảo Việt Nam – Chuỗi ngọc trên biển Đông” để cung cấp thêm thông tin bổ ích, đặc sắc cho du khách khi lựa chọn các tour du lịch biển đảo.

    Dịp này, Ban tổ chức cũng đã giới thiệu và cho ra mắt cuốn sách ảnh được viết bằng song ngữ, tiếng Việt và tiếng Anh để chia sẻ, tôn vinh những hình ảnh đặc sắc, tuyệt đẹp của 12 huyện đảo đến người dân cả nước và du khách quốc tế như: Bạch Long Vĩ và Cát Hải thuộc Hải Phòng; Cô Tô và Vân Đồn (Quảng Ninh); Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), Hoàng Sa (Đà Nẵng), Trường Sa (Khánh Hòa); Côn Đảo (Bà Rịa Vũng Tàu), Kiên Hải và Phú Quốc của tỉnh Kiên Giang. Ngoài ra, tại sự kiện, Ban tổ chức cũng trao giải cho các tác giả đạt giải cuộc thi “Quê hương tôi”. Cuộc thi nằm trong chuỗi sự kiện của Diễn đàn du lịch: Ấn tượng Việt Nam 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Gắn Với Núi, Sông, Rừng, Biển…
  • Phát Triển Du Lịch Biển Đà Nẵng
  • Ifc Hỗ Trợ Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Việt Nam Và Lào
  • Bảo Tồn Và Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Cù Lao Chàm
  • Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Và Đề Xuất Giải Pháp Du Lịch Sinh Thái Bền Vững Tại Xã Đảo Cù Lao Chàm
  • Phát Triển Loại Hình Du Lịch Biển Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Kiện Để Xin Visa Du Lịch Bỉ Thành Công Mà Bạn Nên Biết
  • Du Lịch Miền Quê Việt Nam
  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Du Lịch Bhutan
  • Bật Mí Kinh Nghiệm Du Lịch Hàn Quốc Mùa Xuân Hữu Ích Nhất Cho Bạn
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Hàn Quốc Mùa Xuân
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Bụi An Giang
  • Đi Du Lịch Hồng Kông Cần Chuẩn Bị Những Gì
  • Cẩm Nang Du Lịch Brunei Từ A Đến Z
  • Đón Khách Tại Bến Tàu Du Lịch Mỹ Tho Tiền Giang
  • Ngành Hướng Dẫn Viên Du Lịch Là Gì? Học Những Gì ?
  • Quy Hoạch Và Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phải Tôn Trọng Quy Hoạch Du Lịch Biển
  • Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Tỉnh Bình Định
  • Bình Định: Quy Hoạch Khu Du Lịch Núi Xuân Vân Bảo Vệ Di Sản Văn Hóa Và Cảnh Quan Thiên Nhiên
  • Bản Đồ Quy Hoạch Thành Phố Đà Nẵng Năm 2022
  • Đà Nẵng: Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Theo Hướng Biển
  • ThienNhien.Net – Với 3.260 km bờ biển, đứng thứ 27 trong 156 quốc gia có biển trên thế giới; có vùng biển rộng gần 1 triệu km2 và khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ…, Việt Nam có quá nhiều lợi thế để phát triển du lịch biển, đảo. Thậm chí, so với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam không thua kém nước nào về tài nguyên biển và điều kiện tự nhiên phát triển du lịch biển đảo.

    Trung bình, 100 km 2 đất liền Việt Nam có 1 km bờ biển, một tỉ lệ cao so với trung bình 600 km 2 đất liền- 1 km bờ biển của thế giới. Trong số hàng nghìn hòn đảo của Việt Nam có 3 đảo diện tích lớn hơn 100 km 2, 23 đảo có diện tích lớn hơn 10 km 2, 82 đảo có diện tích hơn 1 km 2 và khoảng 1.400 đảo chưa có tên.

    Vùng biển và ven biển Việt Nam có vị trí địa chính trị, địa kinh tế là “mặt tiền” quan trọng của đất nước để thông ra Thái Bình Dương và mở cửa mạnh mẽ ra nước ngoài. Dọc bờ biển hiện đã xác định được 125 bãi biển đẹp có điều kiện thuận lợi cho tắm biển, vui chơi, nghỉ dưỡng, có quy mô và tầm cỡ quốc tế. Các bãi biển của Việt Nam bằng phẳng, nguyên sơ, tràn ngập nắng, cát, nước trong, sóng gió vừa phải, không có các ổ xoáy và cá dữ. Sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên với cảnh quan văn hóa, xã hội của vùng biển, ven biển và các hải đảo cùng điều kiện thuận lợi về địa lý, địa hình tạo lợi thế phải triển du lịch biển đảo hơn hẳn các loại hình khác trên đất liền.

    Không thể phủ nhận, du lịch biển Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước. Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 đã xác định 7 khu vực ưu tiên phát triển du lịch biển đảo, trong đó có 5 khu thuộc ven biển: Hạ Long- Cát Bà- Đồ Sơn; Lăng Cô- Cảnh Dương- Non Nước; Đại Lãnh- Văn Phong- Nha Trang; Long Hải- Vũng Tàu- Côn Đảo; Rạch Giá- Phú Quốc.

    Ở các khu vực ven biển đang tập trung khoảng 70% các khu điểm, du lịch trong cả nước, trong đó có nhiều khu du lịch biển cao cấp, nổi tiểng trong và ngoài nước: Tuần Châu (Hạ Long), Vạn Chài (Thanh Hóa), Sun Spa resort Quảng Bình, Lang Co beach (Huế), Furama (Đà Nẵng), The Nam Hai resort, Palm Garden resort (Quảng Nam), Vinpearl Nha Trang, Mũi Né (Bình Thuận), Long Hải, Sài Gòn – Côn Đảo resort (Vũng Tàu), Sài Gòn – Phú Quốc resort (Kiên Giang)… Hằng năm, du lịch biển đảo thu hút lượng khách quốc tế đến Việt Nam lớn nhất (khoảng 70%) và trên 50% lượng khách du lịch nội địa; thu hút 65% lượng lao động toàn ngành, 50% lượng buồng phòng khách sạn, trong đó, 80% đạt tiêu chuẩn từ 3-5 sao. Thu nhập từ hoạt động du lịch biển chiếm tỉ trọng cao trong thu nhập du lịch cả nước, khoảng 60%. Chiếm 3 trên 4 khu du lịch quốc gia, 12 trên tổng số 30 khu du lịch chuyên đề và 10 trên 11 khu đô thị du lịch trên cả nước.

    “Mặc dù có nhiều tiềm năng du lịch biển đặc sắc, với nhiều đảo ven bờ nhưng biển đảo Việt Nam vẫn chưa được khai thác du lịch tương xứng, chưa xác định được cho mình một vị trí không thể thay thế, một hình ảnh riêng về phát triển du lịch biển đảo trên bản đồ du lịch biển đảo các nước trong khu vực và trên thế giới”- ông Phạm Trương Hoàng- Trường ĐH Kinh tế quốc dân nói.

    Do điều kiện tự nhiên, hiện nay, từ khu vực Thừa Thiên – Huế trở ra Bắc, các khu du lịch biển đảo chủ yếu đón khách nội địa (ngoại trừ Hạ Long và Huế vẫn đông khách quốc tế) và kinh doanh theo mùa vụ (chủ yếu trong những tháng hè). Những hạn chế này vẫn chưa được khắc phục dù những nhà làm du lịch chuyên nghiệp Việt Nam đã nhiều lần đi nước ngoài học tập, chính quyền các địa phương cũng đã quyết tâm cao.

    Việc tự phát “băm nát” bờ biển, tận diệt tài nguyên, ồ ạt xây dựng và kinh doanh resort, khách sạn ở ven biển đã được cảnh báo nhiều lần nhưng tình trạng này vẫn đang diễn ra. Điển hình nhất là phát triển vô tội vạ các resort ở Bình Thuận và các tỉnh miền Trung. Gần đây nhất là việc resort mọc lên như nấm ở đảo Phú Quốc… Muốn phát triển đúng hướng và bài bản, bền vững và lâu dài thì cũng chưa được vì đến bây giờ, cả quy hoạch tổng thể lẫn quy hoạch chi tiết để phát triển du lịch biển đảo của Việt Nam đều… chưa có.

    Nếu không nhanh chóng xây dựng quy hoạch phát triển biển đảo Việt Nam thì e rằng sẽ mất dần đi những bãi biển đẹp. Những vẻ đẹp này có được từ sự kiến tạo của thiên nhiên trong hàng vạn, hàng triệu năm nhưng phá thì rất nhanh, biến mất cũng chỉ trong tích tắc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Viên Chức Đi Du Lịch Nước Ngoài 2022
  • Dịch Vụ Thuê Xe Du Lịch Tại Quảng Nam
  • Top 7 Điểm Du Lịch Biển Đảo Ở Quảng Nam
  • Quảng Bá Du Lịch Việt Nam Trên Bbc World
  • Báo Giá Quảng Cáo Trên Dulichvietnam.com.vn
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100