Top 18 # Xem Nhiều Nhất Soở Văn Hóa Thể Thao Du Lịch Quảng Ninh / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Tuvanduhocsing.com

Sở Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Quảng Trị / 2023

Dự án Icon Central có gì nổi bật?

Nội dung chính:

Dự án Icon Central là dự án đất nền sổ đỏ có vị trí đắc địa tại phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Dự án đất nền Icon Central có nên mua

Đầu tư ngay dự án Icon Central tại Dĩ An tọa lạc tại phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, do Phú Hồng Thịnh chủ đầu tư, Danh Việt Group phát triển và Lộc Phát Group phân phối chính.

Nếu bạn đang phân vân có nên mua đất nền Icon Central hay không, thì sau đây là thông tin về những điểm nổi bật của dự án bạn cần biết:

Pháp lý đầy đủ Trong bối cảnh thị trường bất động sản đang chững lại, Icon Central là dự án đất nền hiếm hoi sở hữu đầy đủ các yếu tố pháp lý được cấp sổ riêng đỏ từng nền.

Hạ tầng hoàn thiện Thuộc trong quy hoạch hoàn chỉnh đô thị mới, dự án có điện âm toàn khu, đường nội bộ 12 – 14m trải nhựa, công viên cây xanh.

Tiện ích đa dạng So với các dự án khác, Icon Central thừa hưởng hạ tàng giao thông, kinh tế, xã hội, dịch vụ hoàn chỉnh từ giáo dục, y tế, giải trí đến nhu cầu mua sắm…

Vị trí đắc địa Bên cạnh pháp lý đầy đủ, tiện ích và hạ tầng hoàn thiện thì yếu tố vị trí của Icon Central được đánh giá rất tiềm năng để đầu tư sinh lợi trong tương lai gần.

Giá bán ưu đãi Icon Central có giá bán cực kỳ hấp dẫn trong đợt đầu tiên, cùng nhiều chính sách ưu đãi trực tiếp từ chủ đầu tư mà bạn không nên bỏ lỡ.

Thông tin cần biết về dự án Icon Central

Vị trí dự án Icon Central

Icon Central sở hữu vị trí độc tôn, mặt tiền đường phường Tân Đông Hiệp (Thị xã Dĩ An, Bình Dương) cách Quốc lộ 13 chưa đầy 1km. Từ dự án cư dân dễ dàng kết nối về trung tâm các đô thị một cách nhanh chóng:

Di chuyển về chúng tôi theo tuyến QL 1A – Phạm Văn Đồng chỉ 15 phút.

Kết nối đến trung tâm TP. Thủ Dầu Một và Thành Phố Mới Bình Dương qua Đại Lộ Bình Dương chỉ 10 phút.

Thông qua cao tốc Mỹ Phước – Tân Vạn, di chuyển đến TP. Biên Hòa trong 20 phút.

Sơ đồ phân lô Icon Central

Diện tích và phương thức thanh toán Icon Central

Dự án gồm 469 sản phẩm có diện tích từ 60 – 150 m² đang nhận đặt chỗ chọn vị trí ưu tiên.

Khách hàng khi mua đất nền Icon Central Bình Dương còn được hỗ trợ vay lên đến 70% giá trị nền đất từ BIDV, Vietcombank. Icon Central có vị trí dễ dàng kết nối và lại nằm trong khu dân cư được quy hoạch đồng bộ hoàn chỉnh rất thuận tiện cho việc an cư cũng như tiềm năng đầu tư sinh lời.

Liên hệ

Quý khách quan tâm vui lòng đăng ký thông tin vào mẫu bên dưới, chuyên viên sẽ liên hệ lại và hỗ trợ cho quý khách trong vòng 24h kể từ khi nhận được yêu cầu.

Bộ Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch / 2023

CỦA NGÀNH VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Kể từ khi thành lập đến nay, trải qua quá trình xây dựng và phát triển, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch không ngừng lớn mạnh, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước qua các thời kỳ lịch sử.

Lịch sử phát triển của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch có thể chia thành các giai đoạn sau:

1. Giai đoạn trước và sau Cách mạng Tháng Tám

Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin:

Năm 1943, Đảng ta đã công bố “Đề cương văn hóa Việt Nam”, trong đó nêu rõ: Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị và văn hóa). Như vậy, ngay từ đầu, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thấy vai trò quan trọng của văn hóa, định hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam.

Tuyên cáo ngày 28/8/1945 của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong nội các quốc gia Bộ Thông tin, Tuyên truyền được thành lập (sau đó ngày 1/1/1946 đổi tên là Bộ Tuyên truyền và Cổ động) – tiền thân của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày nay. Từ đó, ngày 28/8 hàng năm đã trở thành Ngày Truyền thống của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Sau khi Quốc hội khóa 1 họp ngày 2-3-1946, thành lập Chính phủ Liên hiệp chính thức thì Bộ Tuyên truyền và Cổ động không còn tồn tại. Đến ngày 13-5-1945, Nha Tổng giám đốc thông tin, tuyên truyền mới được tổ chức dưới quyền chỉ huy và kiểm soát trực tiếp của Bộ Nội vụ, và đến ngày 27-11-1946 đổi thành Nha thông tin. Các cơ quan phụ thuộc có Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, thành lập ngày 7-9-1945.

Ngày 24-11-1946, Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất được triệu tập tại Hà Nội. Hồ Chủ tịch khai mạc Hội nghị, Người chỉ rõ: Văn hóa phải hướng dẫn quốc dân thực hiện Độc lập, Tự cường và Tự chủ. Đây cũng chính là kim chỉ nam xuyên suốt mọi hoạt động của Ngành Văn hóa và Thông tin.

Lĩnh vực Thể dục thể thao:

Sắc lệnh ngày 30/1/1946 là “Thực hành thể dục trong toàn quốc”. Phát động phong trào ” Khỏe vì nước” thu hút đông đảo quần chúng tham gia.

2. Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (19-12-1946 đến tháng 7/1954).

Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin:

Công tác thông tin, tuyên truyền lúc này chiếm vị trí hàng đầu trong năm bước công tác cách mạng với khẩu hiệu của Hồ Chủ tịch tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ II họp vào tháng 7-1948 và Hội nghị cán bộ văn hóa lần thứ I vào tháng 2-1949: “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”.

Ngày 10-7-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 38/SL sáp nhập Nha Thông tin thuộc Bộ Nội vụ vào Thủ tướng Phủ và Sắc lệnh số 83/SL hợp nhất Nha thông tin thuộc Thủ tướng Phủ và Vụ Văn học, nghệ thuật thuộc Bộ Giáo dục thành Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thuộc Thủ tướng Phủ do đồng chí Tố Hữu phụ trách.

Cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm diễn ra ác liệt. Song ở đâu có kháng chiến, ở đó có văn hóa kháng chiến. Những “Chiến sĩ trên mặt trận văn hóa” qua các thời kỳ cách mạng đã biết cách tổ chức công tác tuyên truyền thành một nghệ thuật, đồng thời lại biết cách đưa nghệ thuật vào công tác tuyên truyền. Đây là một thành tựu lớn của nền văn hóa – nghệ thuật – thông tin – tuyên truyền của Ngành chúng ta.

Lĩnh vực Thể dục thể thao:

Ngày 30 tháng Giêng năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 14 thiết lập Bộ Thanh niên một Nha thể dục Trung ương thuộc Bộ Thanh niên, tiền thân của ngành Thể dục thể thao ngày nay. Ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 38 thiết lập trong Bộ Quốc gia Giáo dục một Nha Thanh niên và Thể dục, gồm có một phòng Thanh niên Trung ương và một Phòng Thể dục Trung ương.

Lĩnh vực Du lịch:

Thành lập Công ty Du lịch Việt Nam (tiền thân của Tổng cục Du lịch) trực thuộc Bộ Ngoại thương (Nghị định số 26/CP ngày 9/7/1960). Ngày 16/3/1963 Bộ Ngoại thương ban hành Quyết định số 164- BNT-TCCB quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Công ty Du lịch Việt Nam.

3. Giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà (1954-1975)

Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin:

* Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954-1964)

Bộ Tuyên truyền được Hội đồng Chính phủ thành lập từ trung tuần tháng 8-1954 và được Quốc hội V thông qua ngày 20-5-1955 đổi tên là Bộ Văn hóa, do giáo sư Hoàng Minh Giám làm Bộ trưởng. Giai đoạn này, sự nghiệp văn hóa và thông tin được phát triển toàn diện theo định hướng rõ ràng để đi sâu vào chuyên ngành hoạt động, phát triển có bài bản về nội dung, về đào tạo cán bộ và phương thức hoạt động, tăng cường lực lượng văn hóa, thông tin để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tham gia chiến đấu ở miền Nam.

Có thể nói đây là thời kỳ phát triển cơ bản, toàn diện nhất, xây dựng cơ sở nền văn hóa mới khắp các tỉnh, thành phố miền Bắc.

* Miền Bắc chống chiến tranh phá hoại và chi viện miền Nam (1965-1975)

Giai đoạn này, báo chí đóng vai trò hết sức quan trọng động viên toàn quân, toàn dân chiến đấu chống quân xâm lược. Đặc biệt trong thời kỳ này có hai hoạt động văn hóa, văn nghệ nổi bật đó là phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” và “Đọc sách có hướng dẫn” đã góp phần giáo dục lòng căm thù sâu sắc của nhân dân đối với bọn xâm lược và bè lũ tay sai, cổ vũ tinh thần yêu nước, giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Công tác thông tin trở thành “mũi nhọn” với việc thành lập Tổng cục Thông tin (Quyết định số 165-NQ/TVQH ngày 11-10-1965). Chỉ thị về công tác thông tin trong quần chúng của Ban Bí thư Trung ương Đảng số 118/CT-TW ngày 25-12-1965 đề ra cho công tác thông tin nhiệm vụ nặng nề: “Phải cổ động thường xuyên bằng các hình thức tuyên truyền nhẹ nhàng, có tính chất quần chúng rộng rãi” để “Nhà nhà đều biết, người người đều nghe”.

* Miền Nam chống Mỹ, ngụy (1954-1975)

Ở miền Nam, sau khi chuyển quân, tập kết, ngành Văn hóa, Thông tin thực tế không còn tồn tại. Mọi hoạt động phải chuyển vào bí mật, lấy tuyên truyền miệng là phương thức hoạt động chính. Sau khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam chính thức ra đời ngày 20-12-1960 tại tỉnh Tây Ninh, Ngành Thông tin Văn hóa ở miền Nam nhanh chóng được khôi phục. Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập ngày 6-6-1969, đồng chí Lưu Hữu Phước làm Bộ trưởng Bộ Thông tin – Văn hóa. Trải qua bao hy sinh, gian khổ, đất nước đã giành được tự do, độc lập: Đại thắng mùa xuân 1975 đi vào lịch sử như một thiên anh hùng ca bất diệt; người người nồng nhiệt xuống đường với rừng cờ, biểu ngữ, ảnh Bác Hồ, cất cao tiếng hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”.

Giai đoạn củng cố hậu phương lớn, chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và tất cả cho tiền tuyến lớn miền Nam, tiến lên “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” là giai đoạn sôi động nhất của ngành Văn hóa và thông tin trong cả nước.

Lĩnh vực Thể dục thể thao:

Ban Thể dục thể thao Trung ương được thành lập năm 1957, đến năm 1960 đổi thành Ủy ban Thể dục thể thao. Lĩnh vực Du lịch:

Chuyển giao Công ty Du lịch Việt Nam sang Phủ Thủ tướng quản lý (Nghị định 145 CP ngày 18/8/1969 của Hội đồng Chính phủ).

4. Giai đoạn sau Đại thắng mùa xuân 1975

Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin:

Tháng 6-1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập, Chính phủ tổ chức Bộ Văn hóa do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu làm Bộ trưởng.

Năm 1977, Ủy ban phát thanh và truyền hình Việt Nam ra đời. Xưởng phim truyền hình thuộc Tổng cục thông tin đã chuyển từ trước, nay chuyển tiếp phần truyền thanh các tỉnh sang Ủy ban phát thanh và truyền hình. Tổng cục thông tin hợp nhất với Bộ Văn hóa thành Bộ Văn hóa và Thông tin theo Nghị quyết số 99/NQ/QHK6 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, và đến ngày 4-7-1981 đổi lại là Bộ Văn hóa theo Nghị quyết kỳ họp thứ I Quốc hội khóa VII.

Có thể nói thời kỳ 1975-1985, ngành Văn hóa thông tin chuyển từ chiến tranh sang hòa bình, tuy mấy năm đầu có lúng túng, bị động, khó khăn, nhưng đã vượt qua thử thách và phát triển toàn diện với một chất lượng mới trên phạm vi cả nước.

Lĩnh vực Thể dục thể thao:

Phát triển các phong trào thể dục thể thao quần chúng, đặc biệt đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”.

Lĩnh vực Du lịch:

Thành lập Tổng cục Du lịch trực thuộc Hội đồng Chính phủ (Quyết nghị 262NQ/QHK6 ngày 27/6/1978 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ngày 23/1/1979, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 32/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.

5. Giai đoạn đổi mới (1986 – 2006)

Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin:

Trước yêu cầu đổi mới, Bộ Thông tin được lập lại trên cơ sở giải thể Ủy ban phát thanh và truyền hình và tách các bộ phận quản lý xuất bản, báo chí, thông tin, cổ động, triển lãm của Bộ Văn hóa theo Quyết định số 34 của Bộ Chính trị và Thông cáo ngày 16-2-1986 của Hội đồng Nhà nước để thống nhất quản lý các phương tiện thông tin đại chúng. Đồng chí Trần Hoàn làm Bộ trưởng Bộ Thông tin. Đồng chí Trần Văn Phác làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa.

Ba năm sau (1987-1990), một tổ chức mới được hình thành, hợp nhất 04 cơ quan: Bộ Văn hóa, Bộ Thông tin, Tổng cục Thể dục thể thao, Tổng cục Du lịch thành Bộ Văn hóa – Thông tin – Thể thao và Du lịch theo Quyết định số 244 NQ/HĐNN8 ngày 31/3/1990 do đồng chí Trần Hoàn làm Bộ trưởng.

Vừa hợp lại xong đã thấy không hợp lý nên mỗi năm lại tách dần một bộ phận: Du lịch sáp nhập vào Bộ Thương mại và Du lịch (Nghị quyết Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 8 ngày 12/8/1991). Ngày 26/10/1992, thành lập Tổng cục Du lịch là cơ quan thuộc Chính phủ (Nghị định số 05-CP). Sau khi tách Du lịch, lại đến Thể dục thể thao, Phát thanh truyền hình thành các ngành trực thuộc Chính phủ.

Năm 1993, Bộ Văn hóa – Thông tin trở lại như trước đây, với chức năng, nhiệm vụ như Nghị định số 81-CP ngày 8/4/1994 của Chính phủ quy định. Việc liên tục tách ra nhập vào như trên đã ảnh hưởng về nhiều mặt hoạt động của Ngành. Rất may là thấy trước vấn đề này, nên với phương châm chỉ đạo “Giữ nguyên trạng, bộ phận nào làm việc nấy, không xáo trộn cả người và kinh phí” nên mọi công việc được tiến hành bình thường. Trong hai năm 1994 – 1995, ngành Văn hóa – Thông tin đã tập trung mọi cố gắng phục vụ các ngày lễ lớn của dân tộc. Đây là sự khôi phục và phát triển các hoạt động văn hóa, thông tin chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp của toàn xã hội theo phương hướng đúng đắn mà Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 của Đảng đã đề ra.

Năm 1998, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” được ban hành, mở ra một thời kỳ mới cho sự nghiệp văn hóa Việt Nam. Bám sát 5 quan điểm chỉ đạo cơ bản, 10 nhiệm vụ cụ thể và 4 giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ mới, toàn Ngành đã phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn, tiếp tục khẳng định những thành tựu trong quá trình đổi mới.

Năm 2000, năm bản lề chuyển giao thiên niên kỷ đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc của ngành Văn hóa – Thông tin. Nhiều hoạt động văn hóa – thông tin kỷ niệm các ngày lễ lớn của Đảng và dân tộc được tổ chức; bộ mặt văn hóa nước nhà khởi sắc, chuyển biến đồng đều, tích cực theo hướng mà Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đề ra.

Từ năm 2006, ngành Văn hóa – Thông tin chủ động triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (khóa VIII), Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo đảm “sự gắn kết giữ nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội” (Văn kiện Đại hội Đảng X).

Lĩnh vực Thể dục thể thao:

Năm 2000, thể thao tiếp tục con đường hội nhập quốc tế và chinh phục các đỉnh cao thành tích mới, tham dự Olimpic mùa hè lần thứ 27 tại Sydney. Năm 2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 57/2002/QĐ-TTg ngày 26/4/2002 phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Thể dục thể thao đến năm 2010. Lĩnh vực Du lịch:

Ngày 15/8/1987, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 120-HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.

Nghị quyết Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 8 ngày 12/8/1991 sáp nhập Tổng cục Du lịch vào Bộ Thương mại và Du lịch.

Ngày 26/10/1992, Chính phủ ra Nghị định số 05-CP thành lập Tổng cục Du lịch là cơ quan thuộc Chính phủ.

6. Giai đoạn năm 2007 đến nay.

Ngày 31 tháng 7 năm 2007 lại đánh dấu một bước ngoặt lớn của Ngành: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được thành lập, thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực (Nghị quyết số: 01/2007/QH12) trên cơ sở sáp nhập Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thể dục thể thao; tiếp nhận phần quản lý nhà nước về gia đình từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em.

Từ năm 2009 đến nay, toàn Ngành tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn và các hoạt động của Chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Hà Nội; hoàn thành việc xây dựng các đề án lớn triển khai thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về “tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới”; đẩy mạnh thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020; Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020; Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; Quy hoạch phát triển thể dục thể thao đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; triển khai thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình v.v… Năm 2014, với tinh thần “Trách nhiệm, kỷ cương, tiết kiệm, hiệu quả”, phương hướng chung của toàn Ngành là tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa, thể dục thể thao và du lịch theo các mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định tại các văn kiện của Đảng, tích cực góp phần cùng Chính phủ và cả nước hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước đã được Quốc hội thông qua.

Với những thành tựu to lớn đã đạt được trong gần 70 năm qua kể từ ngày thành lập, Ngành đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận và trao tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh cao quý.

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế – văn hóa – xã hội của đất nước. Nhiều công việc đang đặt ra, đòi hỏi sự quyết tâm của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”./.

Quyết Định Sở Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch / 2023

T2, 05/27/2019 – 14:49 – ttvanhoa

UBND TỈNH LẠNG SƠN

SỞ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 142 /QĐ-SVHTTDL

Lạng Sơn, ngày 17 tháng 5 năm 2019

Về việc thành lập Ban tổ chức, Tiểu ban giúp việc Lễ trao tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lạng Sơn lần thứ hai và Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Lạng Sơn

GIÁM ĐỐC SỞ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH LẠNG SƠN

Căn cứ Quyết định số 21/2016/QĐ-UBND ngày 06/5/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn;

Căn cứ Kế hoạch số 46/KH-SVHTTDL ngày 06/5/2019 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về tổ chức Lễ trao tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lạng Sơn lần thứ hai và Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Lạng Sơn (10/6/1989-10/6/2019);

Xét đề nghị của Trưởng phòng Quản lý Văn hóa và Giám đốc Trung tâm Văn hoá tỉnh,

Điều 1. Thành lập Ban tổ chức và các Tiểu ban phục vụ Lễ trao tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lạng Sơn lần thứ hai và Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Lạng Sơn gồm các ông, bà có tên sau:

Ông Phan Văn Hòa, Phó Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch;

1. Ông Hà Ngọc Minh, Giám đốc Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật tỉnh, Phó Trưởng ban thường trực;

2. Bà Hà Thị Lư, Phó Trưởng phòng phụ trách phòng Quản lý Văn hóa;

1. Bà Hoàng Thị Vân, Phó Trưởng phòng Quản lý Văn hoá;

2. Bà Nguyễn Thị Thắm, Phó Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hoá;

3. Ông Phương Ngọc Thuyên, Chánh Văn phòng Sở;

4. Ông Dương Văn Biên, Trưởng phòng Kế hoạch – Tài chính;

5. Bà Hoàng Thanh Mai, Trưởng phòng Tổ chức – Pháp chế;

Ban tổ chức có nhiệm vụ chỉ đạo, triển khai tổ chức Lễ vinh danh và các hoạt động kỷ niệm theo Kế hoạch của Sở đã ban hành, đảm bảo chu đáo, thiết thực, hiệu quả.

I. Tiểu ban Nội dung – Tuyên truyền

Ông Hà Ngọc Minh, Giám đốc Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật tỉnh;

– Bà Nguyễn Thị Thắm, Phó Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hoá;

– Bà Hà Thị Lư, Phó Trưởng phòng phụ trách phòng Quản lý Văn hóa;

– Bà Hoàng Thị Vân, Phó Trưởng phòng Quản lý Văn hoá;

– Ông Đinh Quang Trung, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật tỉnh;

– Ông Phùng Văn Muộn, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật tỉnh;

– Bà Lê Minh Hường, Trưởng phòng Tổ chức nghệ thuật biểu diễn;

– Bà Lý Thị Thúy Lan, Trưởng phòng Tuyên truyền cổ động triển lãm;

– Bà Triệu Thị Hiệu, Phó Trưởng phòng Tổ chức nghệ thuật biểu diễn;

II. Tiểu ban Lễ tân – Hậu cần

Ông Phương Ngọc Thuyên, Chánh Văn phòng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

Bà Hoàng Thị Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật tỉnh;

– Bà Liễu Thu Hồng, Phó trưởng phòng Kế hoạch – Tài chính;

– Ông Ninh Văn Xa, Phó Chánh Văn phòng phòng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

– Ông Phạm Viết Vọng, Trưởng phòng Hành chính Tổ chức;

– Ông Nguyễn Xuân Trường, Phó Trưởng phòng Hành chính Tổ chức;

III. Nhiệm vụ của các tiểu ban

1. Tiểu ban Nội dung – Tuyên truyền

Xây dựng kịch bản chương trình Lễ trao tặng và kỷ niệm; Báo cáo quá trình xây dựng Hồ sơ “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” và ôn lại truyền thống quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm Văn hóa thông tin; Dự thảo bài phát biểu của Lãnh đạo UBND tỉnh và các văn bản triển khai thực hiện.

Chuẩn bị chương trình văn nghệ chào mừng phục vụ Lễ trao tặng và kỷ niệm (25 – 30 phút);

Tổ chức công tác tuyên truyền, xây dựng 01 phóng sự hoặc video clip giới thiệu về những thành tích đã đạt được của các nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú được vinh danh và quá trình xây dựng và phát triển của Trung tâm Văn hóa tỉnh phát tại buổi lễ trao tặng và kỷ niệm;

Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các hoạt động: trưng bày, triển lãm hình ảnh hoạt động của các nghệ nhân và hoạt động của Trung tâm Văn hóa tỉnh “Quá trình xây dựng và phát triển”; Tọa đàm về “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở”; Chương trình giao lưu dân ca, dân vũ;

Xây dựng hồ sơ đề nghị khen thưởng nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Trung tâm Văn hóa tỉnh; Liên hệ, hỗ trợ Nghệ nhân chuẩn bị bài phát biểu trong Lễ Trao tặng;

Công bố Quyết định phong tặng, Quyết định khen thưởng của UBND tỉnh, của Sở trong chương trình buổi lễ.

Thực hiện trang trí, khánh tiết toàn bộ khuôn viên Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh.Lắp đặt âm thanh, ánh sáng sân khấu ngoài trời và Hội trường tầng 3.

Lập danh sách khách mời, viết giấy mời và chuẩn bị quà tặng cho đại biểu; Chuẩn bị tiệc chiêu đãi. Phân công lực lượng đón tiếp, bố trí nơi ăn, nghỉ của đại biểu, thực hiện đưa đón các nghệ nhân.

Thực hiện công tác lễ tân trong Lễ trao tặng và kỷ niệm.

Tham mưu cân đối kinh phí tổ chức triển khai các hoạt động theo Kế hoạch số 46/KH-SVHTTDL ngày 06/5/2019.

Điều 2. Ban tổ chức và các Tiểu ban giúp việc tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

Điều 3. Chánh Văn phòng Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Trưởng các phòng: Quản lý Văn hóa, Quản lý Di sản văn hóa; Kế hoạch Tài chính; Tổ chức Pháp chế – Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Giám đốc Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật tỉnh và các ông, bà có tên tại Điều 1 chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Tìm Hiểu Về Bộ Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch / 2023

1. Những thông tin cơ bản về Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch

Địa chỉ : số 51 Ngô Quyền, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Tên giao dịch: Minisstry of Culture, Sport and Tourism

Cơ quan đại diện tại Hồ Chí Minh: số 170 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

Cơ quan đại điện tại Đà Nẵng: Số 01 An Nhơn 7, An Hải Bắc, Quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng

Liên hệ: +8424 39438 231

Mail: banbientap@bvhttdl.gov.vn, bovanhoathethaodulich@chinhphu.vn

Website: https://bvhttdl.gov.vn/

Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch chính thức được thành lập vào 31/07/2007 vào Quốc hội khóa 12 trên cơ sở sát nhập Ủy ban Thể dục thể thao và Tổng cục Du lịch cùng với mảng văn hóa của Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam.

2. Cấu trúc Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch

2.1 Quá trình hình thành và phát triển

Trước khi trở thành Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, cơ quan tổ chức có thền thân với từng Bộ phận của từng mảng riêng biệt. Cụ thể:

Trước Cách mạng tháng 8 Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin

Bộ Thông tin, Tuyên truyền được thành lập ngày 28/08/1945 bởi Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau đó được đổi tên là Bộ Tuyên truyền và Cổ động vào ngày 01/01/1946. Cũng từ đây ngày 28/08 hàng năm đã trở thành Ngày Truyền thống của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Lĩnh vực Thể dục thể thao

Sắc lệnh ngày 30/1/1946 là “Thực hành thể dục trong toàn quốc”. Phát động phong trào “Khỏe vì nước” thu hút đông đảo quần chúng tham gia.

Kháng chiến chống thực dân Pháp Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin

Công tác thông tin vào thời gian này chiếm vị trí quan trọng hàng đầu. Ngày 10/07/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 38/SL sáp nhập Nha Thông tin tin thuộc Bộ Nội vụ vào Thủ tướng Phủ và Sắc lệnh số 83/SL hợp nhất Nha thông tin thuộc Thủ tướng Phủ và Vụ Văn học, nghệ thuật thuộc Bộ Giáo dục thành Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thuộc Thủ tướng Phủ

Bên cạnh đó thì các hoạt động văn hóa kháng chiến cũng phát triển mạnh mẽ trong thời kì này. Công tác tuyên truyền được phát triển hơn khi nghệ thuật được đưa vào công tác và cũng là thành tựu lớn của nền văn hóa – nghiệ thuật – thông tin – tuyên truyền

Lĩnh vực Du lịch

Ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 38 thiết lập trong Bộ Quốc gia Giáo dục một Nha Thanh niên và Thể dục, gồm có một phòng Thanh niên Trung ương và một Phòng Thể dục Trung ương.

Lĩnh vực Thể dục thể thao

Thành lập Công ty Du lịch Việt Nam (tiền thân của Tổng cục Du lịch) trực thuộc Bộ Ngoại thương vào ngày 09/07/1960

Giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin:

Tháng 08/1954, Bộ Tuyên truyền được Hội đồng Chính phủ thành lập và đổi tên thành Bộ Văn hóa vào ngày 20/05/1955.

Các phòng trào văn hóa cũng như những tác phẩm văn hóa nghệ thuật cũng được ra đời trong thời gian này như “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, “Tiếng hát át tiếng bom” và “Đọc sách có hướng dẫn”,..

Tổng cục Thông tin vào ngày 11/10/1965 với vị thế là ngành mũi nhọn

Lĩnh vực Thể dục thể thao

Ban Thể dục thể thao Trung ương được thành lập năm 1957, đến năm 1960 đổi thành Ủy ban Thể dục thể thao

Lĩnh vực Du lịch

Nghị định chuyển giao Công ty Du lịch Việt Nam sang Phủ Thủ tướng quản lý từ ngày 18/08/1969

Giai đoạn sau Đại thắng mùa xuân 1975 Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin

Tháng 06/1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập

Năm 1977, Ủy ban phát thanh và truyền hình Việt Nam ra đời

Tổng cục thông tin hợp nhất với Bộ Văn hóa thành Bộ Văn hóa và Thông tin theo Nghị quyết số 99/NQ/QHK6

Ngày 4-7-1981 đổi lại là Bộ Văn hóa

Lĩnh vực Thể dục thể thao

Phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” được đẩy mạnh

Lĩnh vực Du lịch

Ngày 27/06/1978, Thành lập Tổng cục Du lịch trực thuộc Hội đồng Chính phủ

Giai đoạn đổi mới (1986 – 2006) Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin

Bộ Thông tin được lập lại trên cơ sở giải thể Ủy ban phát thanh và truyền hình và tách các bộ phận quản lý xuất bản, báo chí, thông tin, cổ động, triển lãm của Bộ Văn hóa theo Quyết định số 34 của Bộ Chính trị và Thông cáo ngày 16-2-1986

Ngày 31/03/1990, một tổ chức mới được hình thành, hợp nhất 04 cơ quan: Bộ Văn hóa, Bộ Thông tin, Tổng cục Thể dục thể thao, Tổng cục Du lịch thành Bộ Văn hóa – Thông tin – Thể thao và Du lịch

Năm 1993, Bộ Văn hóa – Thông tin trở lại như trước đây

Lĩnh vực Thể dục thể thao

Năm 2000, thể thao tiếp tục con đường hội nhập quốc tế và chinh phục các đỉnh cao thành tích mới, tham dự Olimpic mùa hè lần thứ 27 tại Sydney

Lĩnh vực Du lịch

Ngày 26/10/1992, Chính phủ ra Nghị định số 05-CP thành lập Tổng cục Du lịch là cơ quan thuộc Chính phủ.

Giai đoạn năm 2007 đến nay.

Ngày 31 tháng 7 năm 2007, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được thành lập, thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trên cơ sở sáp nhập Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thể dục thể thao; tiếp nhận phần quản lý nhà nước về gia đình từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em.

2.2 Các ngày kỷ niệm thành lập của ngành Văn hóa Thông tin Du lịch

Ngày Điện ảnh Việt Nam 15/3

Ngày truyền thống Nhiếp ảnh Việt Nam 15/3

Ngày thành lập ngành Điện ảnh Việt Nam 15/3

Ngày Thể thao Việt Nam 27/3

Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20/3

Ngày Văn hóa các Dân tộc Việt Nam 19/4

Ngày Thi đua yêu nước 11/6

Ngày Gia đình Việt Nam 28/6

Ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam 09/7

Ngày truyền thống ngành Văn hóa-Thông tin 28/8

Ngày Sân Khấu Việt Nam 12/8 (Âm lịch)

Ngày Âm nhạc Việt Nam 03/9

Ngày Di sản văn hóa Việt Nam 23/11

Ngày truyền thống ngành Mỹ thuật 10/12

2.3 Cấu trúc tổ chức

Khối Tham mưu, Quản lý Nhà nước

Các Vụ:

Vụ Tổ chức cán bộ.

Vụ Kế hoạch, Tài chính.

Vụ Pháp chế.

Vụ Đào tạo.

Vụ Thi đua, Khen thưởng.

Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.

Vụ Thư viện.

Vụ Văn hóa dân tộc.

Vụ Gia đình.

Văn phòng:

Các Cục

Cục Di sản văn hóa.

Cục Nghệ thuật biểu diễn.

Cục Điện ảnh.

Cục Bản quyền tác giả.

Cục Văn hóa cơ sở.

Cục Hợp tác quốc tế.

Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm.

Tổng cục Thể dục thể thao.

Tổng cục Du lịch.

Các Ban/ Viện/ Trung tâm

Ban Quản lý Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam.

Báo Văn hóa.

Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật.

Trung tâm Công nghệ thông tin.

Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch.

Tổ chức Đảng, đoàn thể

Đảng uỷ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Công đoàn Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Đảng uỷ khối cơ sở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh

Công đoàn khối Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khối Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh

Khối đơn vị sự nghiệp

Khối Viện

Viện Phim Việt Nam

Viện Bảo tồn di tích

Báo chí

Báo Văn hóa

Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật

Báo Điện tử Tổ quốc

Khác

Trung tâm Công nghệ thông tin

Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp

Trường Cán bộ quản lý Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trung tâm Hỗ trợ sáng tác văn học nghệ thuật

Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam

Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại CHDCND Lào

Nhà hát Lớn Hà Nội

Trường quay Cổ Loa

Trung tâm Kỹ thuật Điện ảnh

Trung tâm Chiếu phim Quốc gia

Trung tâm Điện ảnh Thể thao và Du lịch Việt Nam

Khối trường

Khối Nhà hát

Nhà hát Ca, Múa, Nhạc Việt Nam

Nhà hát Cải lương Việt Nam

Nhà hát Chèo Việt Nam

Nhà hát Tuồng Việt Nam

Nhà hát Múa Rối Việt Nam

Dàn Nhạc giao hưởng Việt Nam

Nhà hát Kịch Việt Nam

Nhà hát Nhạc Vũ kịch Việt Nam

Nhà hát Nghệ thuật Đương đại Việt Nam

Nhà hát Ca, Múa, Nhạc dân gian Việt Bắc

Nhà hát Tuổi trẻ

Liên đoàn Xiếc Việt Nam

Khối Bảo tàng

Bảo tàng Hồ Chí Minh

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam

Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Khối Doanh nghiệp

Các nhà xuất bản

Các hãng phim

Doanh nghiệp khác

2.4 Sơ đồ bộ máy

2.5 Cấu trúc nhân sự

Nguyễn Ngọc Thiện

– Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

– Bí thư Ban Cán sự Đảng Bộ VHTTDL

– Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

– Lãnh đạo, quản lý toàn diện công tác của Bộ

– Trực tiếp chỉ đạo, điều hành các lĩnh vực công tác về chiến lược, tổ chức, quy hoạch, đầu tư, phát triển, tổ chức cán bộ, Kế hoạch, tài chính, đối ngoại, của Bộ

– Trực tiếp chỉ đạo, quả lý công tác xây dựng Đảng; bảo vệ chính trị nội bộ; phòng chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm chống lãng phí.

– Vụ Tổ chức cán bộ; – Vụ Kế hoạch, Tài chính; – Cục Hợp tác quốc tế; – Các Trung tâm Văn hóa Việt Nam trong nước và ngoài nước thuộc Bộ; – Các Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng.

Tạ Quang Đông

– Ủy viên Ban Cán sự Đảng Bộ VHTTDL

– Bí thư Đảng ủy Bộ VHTTDL

– Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

– Văn phòng;

– Nghệ thuật biểu diễn;

– Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển Lãm;

– Điện ảnh;

– Đào tạo;

– Quản lý Nhà nước về Văn học Nghệ thuật;

– Cải cách hành chính;

– Đảng, Đoàn thể;

– Quốc phòng – An ninh của Bộ.

– Văn phòng Bộ, Cục Nghệ thuật biểu diễn;

– Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triễn lãm;

– Cục Điện ảnh, Vụ Đào tạo;

– Trung tâm Hỗ trợ sáng tác văn học nghệ thuật;

– Trung tâm Triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam;

– Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch;

– Khối các đơn vị nghệ thuật biểu diễn và điện ảnh;

– Khối các đơn vị đào tạo.

Hoàng Đạo Cương

– Uỷ viên Ban cán sự Đảng Bộ VHTTDL – Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

– Thể dục, thể thao; – Di sản văn hóa, bảo tàng; – Khoa học, Công nghệ và Môi trường.

– Tổng cục Thể dục thể thao;

– Cục Di sản văn hóa;

– Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi Trường;

– Trung tâm Công nghệ thông tin;

– Khối các đơn vị bảo tàng, di tích;

– Khối các đơn vị nghiên cứu khoa học.

Trịnh Thị Thủy

– Ủy viên Ban Cán sự Đảng Bộ VHTTDL – Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

– Thanh tra Bộ;

– Cục Văn hóa cơ sở;

– Vụ Thi đua – Khen thưởng;

– Vụ Văn hóa dân tộc;

– Vụ Gia đình;

– Vụ Pháp chế;

– Vụ Thư viện;

– Báo Văn hóa;

– Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật;

– Thư viện Quốc gia Việt Nam;

– Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ Bộ.

Nguyễn Văn Hùng

– Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng – Ủy viên Ban Cán sự Đảng Bộ VHTTDL – Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

– Du lịch; – Bản quyền tác giả; – Công nghiệp văn hóa; – Đổi mới và phát triển doanh nghiệp; – Xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch; – Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam; – Hội nhập quốc tế về kinh tế.

– Tổng cục Du lịch; – Ban Quản lý làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam; – Cục Bản quyền tác giả; – Các doanh nghiệp.

3. Vai trò của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch

3.1 Vị trí

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.

3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn trong các lĩnh vực

Đối với Chính phủ và Bộ

Về Di sản Văn hóa

Về nghệ thuật biểu diễn

Về điện ảnh

Về mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm

Về thư viện

Về văn hóa quần chúng, văn hóa dân tộc và tuyên truyền cổ động

Về văn học

Về công tác gia đình

Về thể dục, thể thao cho mọi người

Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp

Về tài nguyên du lịch và quy hoạch du lịch

Về khu du lịch, điểm du lịch

Về kinh doanh du lịch và hướng dẫn du lịch

Về xúc tiến du lịch

Về hợp tác quốc tế

Về công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực

Hướng dẫn thực hiện chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa

Quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật

Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đối với các hội, tổ chức phi Chính phủ trong phạm vi quản lý

Cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật.

Quyết định phê duyệt và tổ chức thực hiện các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch.

Tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học

Thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc Bộ quản lý theo quy định của pháp luật.

Thanh tra, kiểm tra; tiếp công dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

Đề xuất, quyết định và chỉ đạo thực hiện chương trình cải cách hành chính của Bộ theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính nhà nước đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Tổ chức chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong các hoạt động văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch.

Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật.

Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách được phân bổ theo quy định của pháp luật.

Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và theo quy định của pháp luật.