Top 15 # Xem Nhiều Nhất Tình Hình Phát Triển Du Lịch Việt Nam / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Tuvanduhocsing.com

Tình Hình Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Ở Việt Nam / 2023

LỜI NÓI ĐẦU Thời gian này, thế giới đang ghi nhận nhiều bước tiến đáng kể của ngành du lịch, nhất là du lịch sinh thái và bảo tồn do những quan ngại ngày càng lớn về vấn đề môi trường. Du lịch sinh thái không còn chỉ tồn tại như một khái niệm hay một đề tài để suy ngẫm mà đã trở thành một thực tế trên toàn cầu. Ở rất nhiều nước trên thế giới, vấn đề phát triển du lịch sinh thái rất được chính phủ quan tâm, thường xuất hiện trên các bản tin chính hay các quảng cáo thương mại công cộng. Du lịch sinh thái đã mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền vững. Ở Costa Rica và Venezuela, một số chủ trang trại chăn nuôi đã bảo vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng, nhờ đó họ đã biến những nơi đó thành điểm du lịch sinh thái hoạt động tốt, giúp bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên đồng thời tạo ra công ăn việc làm mới cho dân địa phương. Ecuador sử dụng khoản thu nhập từ du lịch sinh thái tại đảo Galápagó để giúp duy trì toàn bộ mạng lưới vườn quốc gia. Tại Nam Phi, du lịch sinh thái trở thành một biện pháp hiệu quả để nâng cao mức sống của người da đen ở nông thôn, những người da đen này ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt động du lịch sinh thái. Chính phủ Ba lan cũng tích cực khuyến khích du lịch sinh thái và gần đây đã thiết lập một số vùng Thiên nhiên-và-Du lịch của quốc gia để tăng cường công tác bảo vệ thiên nhiên và phát triển du lịch quốc gia. Tại Úc vµ Newzeland, phần lớn các hoạt động du lịch đều có thể xếp vào hạng du lịch sinh thái. Ðây là ngành công nghiệp được xếp hạng cao trong nền kinh tế của cả hai nước. Tại Việt Nam, du lịch cũng đang dần trở thành ngành kinh tế quan trọng và trong tương lai gần, hoạt động du lịch được coi như là con đường hiệu quả nhất để thu ngoại tệ và tăng thu nhập cho đất nước. Du lịch Việt Nam được các công ty du lịch hàng đầu thế giới đánh giá cao, do nước ta có nhiều tiềm năng về nguồn lực du lịch cả về tự nhiên lẫn nhân văn. Cùng với sự phát triển của ngành du lịch, du lịch sinh thái ở Việt Nam những năm gần đây cũng phát triển nhanh chóng. Bên cạnh những tiềm năng và triển vọng, không thể không kể đến những thách thức to lớn đang chờ đón ngành dịch vụ môi trường non trẻ này, đòi hỏi một nỗ lực tổng thể của cả chính phủ, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân. Vì vậy, em chọn đề tài “Tình hình phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” với mong muốn tìm hiểu thêm về ngành dịch vụ tiềm năng này, cũng như các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường sinh thái có liên quan. Do điều kiện có hạn, em chỉ giới hạn nội dung đề tài của mình trong hai lĩnh vực: Tiềm năng, thực trạng du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn quốc gia Tiềm năng, thực trạng du lịch biển Việt Nam. Bên cạnh đó, em cũng xin đưa ra một số giải pháp và chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam Em rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để bài tiểu luận được hoàn chỉnh hơn. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN I.1. Khái quát về du lịch sinh thái Vấn đề vẫn còn tồn tại mỗi khi thảo luận về du lịch sinh thái là việc khái niệm về du lịch sinh thái vẫn chưa được tìm hiểu kỹ, do đó thường bị nhầm lẫn với các loại hình phát triển du lịch khác. Một số tổ chức đã rất cố gắng làm rõ sự nhầm lẫn này bằng cách sử dụng khái niệm du lịch sinh thái như một công cụ thực hiện bảo tồn và phát triển bền vững. Ðịnh nghĩa của Hiệp hội Du lịch Sinh thái được phổ biến rộng rãi như sau: “Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm tại các điểm tự nhiên, kết hợp với bảo vệ môi trường và cải thiện phúc lợi của người dân địa phương” (Lindberg và Hawkins, 1993). Một định nghĩa đang thịnh hành khác đã liên kết các yếu tố văn hoá và môi trường một cách cụ thể hơn là định nghĩa do Tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN) đưa ra. Ðịnh nghĩa này cho rằng “du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hoá đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra ích lợi cho những người dân địa phương tham gia tích cực” (Ceballos-Lascuráin, 1996). Mặc dù khái niệm du lịch sinh thái vẫn thường được sử dụng tương tự như khái niệm du lịch bền vững, song trên thực tế, du lịch sinh thái nằm trong lĩnh vực lớn hơn cả du lịch bền vững. Du lịch bền vững bao gồm tất cả các loại hình của du lịch (dù là loại hình dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên hay tài nguyên do con người tạo ra). Do đó, du lịch sinh thái cần được hiểu là một trong những phạm trù của du lịch bền vững. Không nên coi du lịch sinh thái là ngành du lịch “dựa vào thiên nhiên” vì cái mác này có thể sử dụng trong tất cả các hoạt động du lịch được thực hiện ngoài thiên nhiên (ví dụ trượt tuyết, đi xe đạp leo núi, và bám vách đá leo núi). Những hoạt động du lịch này có thể có mà cũng có thể không thuộc loại hoạt động thân thiện với môi trường. Do đó, du lịch sinh thái chỉ nên được sử dụng để mô tả những hoạt động du lịch trong môi trường thiên nhiên với một đặc điểm đi kèm: là loại hình du lịch thực sự khuyến khích bảo vệ và giúp xã hội phát triển bền vững. Loại hình du lịch sinh thái có nhiệm vụ: Bảo tồn tài nguyên của môi trường tự nhiên Bảo đảm với du khách về các đặc điểm của môi trường tự nhiên về các đặc điểm mà họ đang chiêm ngưỡng Thu hút tích cực sự tham gia của cộng đồng địa phương, người dân bản địa trong việc quản lý và bảo vệ, phát triển du lịch. Từ những năm 1985 – 1990, đặc biệt là sau năm 1990, khoa học sinh thái được chấp nhận khá rộng rãi trên thế giới và cũng từ đó, khoa học sinh thái trở thành một lĩnh vực khoa học có giá trị hơn nên nhiều ngành kinh tế – xã hội có ý thức vận dụng những lý thuyết cơ bản của sinh thái học. Từ sau cuộc hội nghị về Trái đất ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992, ngành du lịch thế giới đã thực sự vận dụng sinh thái học dưới nhiều mục tiêu phát triển bền vững. Với Việt Nam – một nước mới phát triển về du lịch và loại hình du lịch sinh thái hầu như còn rất mới, thì kinh nghiệm quản lý và điều hành loại hình này chưa có nhiều. Vấn đề đặt ra mang tính cấp bách là cần phải quan tâm đến cả hai phương diện: Một là: thống nhất về bản chất và khái niệm của loại hình du lịch sinh thái Hai là: Tiếp cận với xu thế và nhu cầu thị trường du lịch sinh thái trong nước và quốc tế, tiến hành xây dựng những định hướng và hoạch định chiến lược phát triển cho loại hình du lịch sinh thái ở Việt Nam. I.2. Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được du lịch sinh thái là sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao. Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu và động thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp (agricultural ecology), sinh thái khí hậu (ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology). Như vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (natural-based tourism), chỉ có thể phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung. Điều này giải thích tại sao hoạt động du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt ở các vườn quốc gia, nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã. Tuy nhiên, điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình du lịch sinh thái phát triển ở những vùng nông thôn hoặc trang trại điển hình. Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái ở hai điểm: Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao hiểu biết cho khách du lịch sinh thái, người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương. Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất. Khi đó, người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là người phiên dịch giỏi. Hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi phải có người điều hành có nguyên tắc. Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết gì với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên. Ngược lại, các nhà điều hành du lịch sinht hái phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hóa khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương và du khách. Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tối đa các tác động có thể có của hoạt động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường. Theo đó, du lịch sinh thái cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa”. Khái niệm “sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội. Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm. Do khái niệm sức chứa bao gồm cả mặt định tính và định lượng, khó có thể xác định một con số chính xác cho mỗi khu vực. Mặt khác, mỗi khu vực khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau, các chỉ số này có thể được xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm. I.3. Tính tất yếu phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam Ở Việt Nam, ngành du lịch phát triển tương đối muộn. Hoạt động du lịch chỉ thực sự diễn ra sôi nổi từ sau năm 1990 gắn liền với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước. Theo số liệu thống kê từ năm 1990 đến 2002 lượng khách quốc tế tăng 10,5 lần, khách nội địa tăng 13 lần. Thu nhập xã hội cũng tăng đáng kể, năm 1991 là 2.240 tỷ đồng đến năm 2002 là 23.000 tỷ đồng, trong đó hoạt động du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn và vườn quốc gia và du lịch biển đóng góp một tỷ trọng lớn. Các số liệu thống kê ở một số vườn quốc gia như Cúc Phương, Cát Bà, Côn Đảo, Bạch Mã … các khu bảo tồn thiên nhiên như Phong Nha- Kẻ Bàng, Hồ Kẻ Gỗ… bình quân mỗi năm tăng 50% khách nội địa và 30 % khách quốc tế. Trong giai đoạn từ 1995 – 1998 du lịch sinh thái đạt tăng trưởng 16,5%. Vì vậy hiện nay phát triển du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu. Du lịch sinh thái phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày một tăng của du khách và của cộng đồng. Nhu cầu này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển không ngừng của xã hội, đảm bảo về tổng thể một tương lai phát triển lâu dài của hệ sinh thái, với tư cách là một ngành kinh tế. Việt Nam là đất nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía xích đạo. Vị trí đó tạo nên một nền nhiệt độ cao, không khí ẩm, mưa nhiều. Việt Nam lại có đường bờ biển dài hơn 3000km, lưng dựa vào dãy Trường Sơn. Chính các điều kiện đó đã mang lại cho nước ta một hệ động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng và độc đáo. Kết hợp với rất nhiều nét văn hóa dân tộc đặc sắc, đậm đà, nếu được khai thác hiệu quả, du lịch sinh thái chắc chắn sẽ là một ngành hứa hẹn, không chỉ về mặt kinh tế mà cả xã hội và môi trường. CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở VIỆT NAM II.1. Những điều kiện để phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. 3/4 diện tích đất nước bao phủ bởi các dãy núi, đồi và các cao nguyên. Bờ biển Việt Nam trải dài trên 3200 km. Việt Nam là nơi cư trú của 12000 loài thực vật, 7000 loài động vật trong số đó có rất nhiều loài được liệt vào Sách Đỏ của thế giới. Đặc biệt, trong những năm 80 của thế kỉ trước, đã có 5 loài động vật dạng lớn đã được phát hiện ở Việt Nam. Do điều kiện địa lý như vậy nên Việt Nam rất thích hợp để phát triển du lịch sinh thái. ViÖt Nam cã 350 loµi san h”, trong ®ã cã 95 loµi ë vïng biÓn phÝa B¾c vµ 225 loµi ë vïng biÓn phÝa Nam. Bªn c¹nh 60 v¹n ha ®Êt c¸t ven biÓn, trong ®ã cã 77.000 ha hÖ sinh th¸i c¸t ®á tËp trung t¹i B×nh ThuËn, Ninh ThuËn vµ c¸c tØnh duyªn h¶i Trung bé, ViÖt Nam cßn cã thªm 10 triÖu ha ®Êt ngËp mÆn Èn chøa nhiÒu hÖ sinh th¸i ®iÓn h×nh cã gi¸ trÞ cao vÒ khoa häc vµ du lÞch t¹i §ång Th¸p M­êi. HÖ thèng rõng ®Æc dông vµ rõng ngËp mÆn ViÖt Nam thuéc lo¹i rõng giµu cã vÒ tÝnh ®a d¹ng sinh häc víi 12.000 loµi thùc vËt (1.200 loµi ®Æc h÷u), 15.575 loµi ®éng vËt (172 loµi ®Æc h÷u). NÕu nh­ n¨m 1994 míi chØ cã 320 ngµn l­ît kh¸ch quèc tÕ ®Õn c¸c vïng tù nhiªn ë ViÖt Nam th× ®Õn n¨m 1999 con sè t­¬ng øng ®· lªn ®Õn 620 ngµn vµ dù tÝnh 1triÖu l­ît kh¸ch cho c¶ n¨m 2000. Bªn c¹nh ®ã hµng n¨m còng cã thªm 3.5 ®Õn 5 triÖu l­ît kh¸ch du lÞch néi ®Þa ghÐ c¸c vïng tù nhiªn. Nhê vËy doanh thu cña ho¹t ®éng du lÞch sinh th¸i t¹i c¸c khu b¶o tån thiªn nhiªn còng nh­ vïng ®Öm hiÖn chiÕm kho¶ng 25-30% trong tæng sè doanh thu hµng n¨m cña ngµnh du lÞch. HiÖn nay ngµnh du lÞch ViÖt Nam ®ang gÊp rót hoµn thiÖn c”ng t¸c ®iÒu tra c¬ b¶n quy ho¹ch nh÷ng vïng tiÒm n¨ng nh­ Ba BÓ, C¸t Bµ, Cóc Ph­¬ng, Nam C¸t Tiªn, Yok-§”n, C”n §¶o, B×nh Ch©u-Ph­íc Böu… Tæ chøc kh”ng gian ho¹t ®éng du lÞch sinh th¸i trong c¸c khu b¶o tån ë ViÖt Nam sÏ ®­îc ph©n thµnh 7 côm vïng tiªu biÓu. Kh”ng gian du lÞch sinh th¸i vïng nói vµ ven biÓn §”ng B¾c bao gåm mét phÇn c¸c tØnh L¹ng S¬n, Cao B”ng, B¾c C¹n, B¾c Th¸i. C¸c hÖ sinh th¸i ®iÓn h×nh vµ cã gi¸ trÞ cao ®­îc chän khu vùc nµy lµ khu b¶o tån thiªn nhiªn B¾c S¬n, H÷u Liªn ( L¹ng S¬n), rõng v¨n ho¸ lÞch sö P¾c Bã, Trïng Kh¸nh( Cao B”ng), V­ên quèc gia Ba BÓ ( B¾c C¹n). Hå nói Cèc( B¾c Th¸i) vµ hÖ sinh th¸i rõng ngËp mÆn Qu¶ng Ninh, H¶i Phßng. Kh”ng gian ho¹t ®éng cña du lÞch sinh th¸i vïng nói T©y B¾c vµ Hoµng Liªn S¬n chñ yÕu phÇn phÝa T©y cña 2 tØnh Lµo Cai vµ Lai Ch©u víi vïng sinh th¸i nói cao Sapa-Phanxiph¨ng vµ Khu b¶o tån M­êng NhÐ- n¬i ®ang tån t¹i 38 loµi ®éng vËt quý hiÕm cÇn ®­îc b¶o vÖ nh­ Voi, Bß tãt, GÊu chã, Hæ, Sãi ®á… Du lÞch sinh th¸i §ång B”ng S”ng Hång víi kh”ng gian chñ yÕu thuéc c¸c tØnh Hµ T©y, VÜnh Phóc, Hµ Nam, Nam §Þnh, Th¸i B×nh vµ Thanh Ho¸. C¸c khu b¶o tån thiªn nhiªn ®iÓn h×nh ®­îc chän cho vïng nµy lµ Tam §¶o, Cóc Ph­¬ng, Ba V×, Xu©n Thuû (khu b¶o vÖ vïng ®Êt ngËp n­íc (Ramsa) ®Çu tiªn ë ViÖt Nam) Kh”ng gian du lÞch sinh th¸i vïng B¾c Trung Bé bao gåm phÇn phÝa T©y Nam NghÖ An, Hµ TÜnh, Qu¶ng B×nh, Qu¶ng Nam, §µ N½ng vµ phÝa §”ng Nam Thõa Thiªn HuÕ. So víi c¸c n­íc trong khu vùc §”ng Nam ¸, ®©y lµ ®Þa bµn ®­îc ®¸nh gi¸ cao nhÊt vÒ tÝnh ®a d¹ng sinh häc víi Khu b¶o tån thiªn nhiªn Phong Nha-KÎ Bµng ®­îc xÕp vµo lo¹i lín trªn thÕ giíi vµ nhiÒu khu rõng nguyªn sinh cã gi¸ trÞ PhÝa T©y cña T©y Nguyªn, mét phÇn B¾c L©m §ång kÐo dµi ®Õn tØnh Kh¸nh Hoµ thuéc kh”ng gian du lÞch sinh th¸i vïng Nam Trung Bé vµ T©y Nguyªn. c¸c hÖ sinh th¸i ®iÓn h×nh cña vïng nay bao gåm rõng khu rõng ë Yok ®”n, ®Êt ngËp n­íc Hå L¾c, hÖ sinh th¸i Ngäc Linh, Biodup-Nói Bµ; hÖ sinh th¸i san h” Nha Trang. Vïng chuyÓn tiÕp tõ cao nguyªn T©y Nguyªn cùc Nam Trung Bé víi kh”ng gian du lÞch sinh th¸i bao trïm khu vùc V­ên quèc gia Nam C¸t Tiªn (L©m §ång-B×nh D­¬ng, §ång Nai), C”n §¶o, B×nh Ch©u-Ph­íc Böu( Bµ RÞa-Vòng Tµu), BiÓn L¹c-Nói ¤ng( B×nh ThuËn) Dùa vµo hai hÖ sinh th¸i lµ ®Êt ngËp mÆn vµ rõng ngËp mÆn thuéc c¸c tØnh däc s”ng Mª K”ng ®Õn B¹c Liªu, Cµ Mau, Kiªn Giang, kh”ng gian du lÞch vïng nµy sÏ tËp trung chñ yÕu vµo rõng ngËp mÆn Cµ Mau, Trµm chim §ång Th¸p, Cï lao s”ng TiÒn, s”ng HËu vµ Khu b¶o tån thiªn nhiªn Phó Quèc. II.2. Tiềm năng và thực trạng du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam II.2.1: Tiềm năng du lịch sinh thái của các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam nằm trong vùng châu Á, nơi được tổ chức du lịch thế giới và nhiều nhà chuyên môn du lịch có tên tuổi dự báo sẽ là nơi thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất và cũng có nhiều người đủ điều kiện đi du lịch nhất (khoảng 500 triệu người) vào thế kỷ XXI. Những phân tích, đánh giá, dự báo đó cho ta một kết luận: nguồn khách du lịch sinh thái quốc tế gắn với thị trường du lịch Việt Nam là khách quan và là một tiềm năng. Theo đánh giá của quốc tế, nước ta đứng thứ 16 về sự phong phú, tính đa dạng sinh học, đại diện cho vùng Đông Nam Á về sự độc đáo và giàu có thành pphần loài. Mặc dù bị tổn thất về diện tích do nhiều nguyên nhân trong hai thập kỷ qua, hệ thực vật vẫn còn khá phong phú về chủng loại. Tiềm năng và thế mạnh về sự đa dạng sinh thái của Việt Nam hấp dẫn du lịch ở các đặc trưng sinh thái dưới đây: Các vùng núi đã vôi với nhiều dạng hang động như là một kho tàng cảnh quan thiên nhiên huyền bí mà trong đó vịnh Hạ Long hay Phong Nha – Kẻ Bàng là những ví dụ tiêu biểu. Nhiều đảo, vịnh và bãi tắm đẹp với các sinh thái động thực vật biển phong phú, đa dạng. Hệ thống vườn bảo tồn thiên nhiên đa dạng và phong phú về hệ động thực vật rừng xen kẽ với nhiều dân tộc có người sinh sống với những bản sắc văn hóa hết sức đa dạng. Các vùng sinh thái nông nghiệp đặc trưng nền văn minh lúa nước với nhiều sông lạch, miệt vườn. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái. Các nhà sinh thái học thường nhắc đến sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái và thực bì ở Việt Nam. Theo thống kê, Việt Nam có tới 26 kiểu thực bì tập trung thành 6 nhóm, trài từ rừng kín thường xanh, rừng rụng lá và bán rụng lá, rừng thường xanh hở, rừng thường xanh cây bụi đến các thảm cỏ. Ngoài ra, Việt Nam còn có 5 nhóm hệ sinh thái thủy vực, trải từ nước ngọt đứng, nước ngọt chảy, nước ngọt ngầm, nước lợ và nước mặn. Hệ sinh thái ngập nước cũng đang được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu. Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân Thủy, vườn Quốc gia Tràm Chim ở đồng bằng sông Cửu Long là những địa điểm ngắm chim lý tưởng. Sự phong phú về hệ sinh thái ở Việt Nam sở dĩ có được là nhờ sự đa dạng về địa hình của đất nước. Sự đa dạng về địa hình kết hợp với sự phong phú về hệ sinh thái đã cho ra đời những sản phẩm, địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Hấp dẫn nhất phải kể đến rừng mưa nhiệt đới, vườn quốc gia Cúc Phương, Cát Bà, Ba Bể, Bạch Mã và khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha – Kẻ Bàng, Hoàng Liên Sơn. Nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên phân bố dọc theo 3260km bờ biển với hệ động thực vật còn khá phong phú và nhiều bãi tắm lý tưởng như Trà Cổ, Bãi Cháy, Đồ Sơn, Xuân Thủy, Sầm Sơn, Lăng Cô, Bình Châu, Phước Bửu. Các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên vùng đảo và quần đảo cũng là những địa điểm du lịch sinh thái nổi tiếng. Nơi đầy, ngoài hệ sinh thái trên cạn còn có hệ sinh thái trên biển với các rạn san hô có thành phần loài phong phú. Chúng ta có thể tổ chức du lịch lặn , xem hệ động thực vật biển phong phú trong các rạn san hô ở khu vực đảo Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc, và các đảo thuộc khu vực Nha Trang, Khánh Hòa. II.2.2: Thực trạng các khu du lịch sinh thái ở Việt Nam Tuy có tiềm năng to lớn, du lịch sinh thái trong phạm vi cả nước nói chung và trong các khu bảo tồn nói riêng vẫn còn đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển. Các hoạt động đa số mang tính tự phát, chưa có sản phẩm và đối tượng phục vụ rõ ràng, chưa có sự đầu tư quảng bá, nghiên cứu thị trường và công nghệ phục vụ cho du lịch sinh thái, chưa có sự quan tâm, quản lý chặt chẽ của các cấp ngành có liên quan, do vậy, thực tế là sự đa dạng sinh học đang bị đe dọa. Theo ước tính, ở Việt Nam có hơn 10% các loại động vật có vú, chim và cá dang mắc các bệnh đặc trưng, 28% thuộc động vật có vú, 10% loài chim và 21% loài động vật lưỡng cư và loài bò sát được liệt kê là ở trong tình trạng hết sức nguy hiểm. Một nguyên nhân to lớn là môi trường sống đang bị mất đi do nạn phá rừng. Các dấu hiệu của việc khai thác các sản phẩm của rừng ngày một nhiều và không phải là không khó nhận ra ở Việt Nam. Một ví du cho thấy việc buôn bán thịt thú rừng phát triển mạnh. Giá chim là 550.000đ/kg, lợn rừng 40.000đ/kg. Rất nhiều quán ăn đặc sản với món thịt hổ ở Đắc Lắc. Những thú vật nhồi bông cũng có sẵn để bán ở các cửa hàng ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với giá không hề đắt: hổ nhồi bông 15 triệu đồng, gấu trúc 10 triệu đồng, gấu mặt trời 8.5 triệu đồng… Về lĩnh vực văn hóa, đang có những dấu hiệu tích cực trong việc bảo tồn các di sản văn hóa của nước ta, đặc biệt là nhờ du lịch. Cụ thể như sự phát triển du lịch tại Huế những năm gần đây đã và đang làm sống lại những ngành nghề đã một thời bị lãng quên như may, thêu, đúc đồng, chạm khắc và đặc biệt là nghệ thuật ca Huế truyền thống, ca múa cung đình… Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, không thể phủ nhận những tác động tiêu cực mà du lịch đem lại cho công cuộc bảo tồn các di sản văn hóa nói riêng và nếp sống văn hóa nói chung. Cụ thể như: – Đối với các di sản vật thể, đặc biệt là các di sản có giá trị toàn cầu nổi bật thì sự bùng nổ số lượng khách tham quan đã và đang trở thành nguy cơ đe dọa việc bảo vệ các di sản này, nhất là khi kỹ năng quản lý và công nghệ bảo vệ của ta chưa cao. – Sự phát triển các dịch vụ du lịch thiếu sự kiểm soát và sự bùng nổ số lượng văn hóa còn tác động mạnh mẽ đến cảnh quan văn hóa và môi trường sinh thái tại các khu du lịch như: khắc tên lên các vách đá, các bộ phận di tích, xả rác bừa bãi… – Du lịch tạo nên sự tiếp xúc giữa các bộ phận dân cư xuất thân từ các nền văn hóa khác nhau, tín ngưỡng khác nhau. Do không được thông tin đầy đủ và thiếu những quy định chặt chẽ, nhiều du khách đã ăn mặc, cư xử tùy tiện ở những nơi được coi là trang nghiêm, đặc biệt là những di tích có ý nghĩa tôn giáo, tín ngưỡng của dân sở tại, gây nên sự bất hòa thậm chí là xung đột về mặt tâm lý và tinh thần. Về thực trạng du lịch sinh thái của các khu bảo tồn, cũng có nhiều điều đáng nói. Trong số 11 vườn quốc gia thì Cúc Phương, Bạch Mã, Cát Tiên đã tổ chức hoạt động du lịch sinh thái khá hơn. Cụ thể 3 vườn này đã xây dựng được một số tuyến du lịch sinh thái, một số tuyến đường mòn thiên nhiên, một số hướng dẫn viên là kiểm lâm được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về du lịch sinh thái. Các vườn còn lại cũng tổ chức hoạt động tham quan du lịch nhưng chưa có bài bản và định hướng rõ ràng. Căn cứ vào các tiêu chí của du lịch sinh thái, ta có thể nhận thấy rằng: Mặc dù đã có những tuyến du lịch mang tính chất du lịch sinh thái nhưng trên thực tế chỉ là du lịch thiên nhiên hay du lịch liên quan đến thiên nhiên. Hoạt động giáo dục, diễn giải môi trường – một yếu tố rất cơ bản để phân biệt du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác chưa được triển khai nhiều, chưa được quan tâm đúng mức và thiếu nhân lực am hiểu về lĩnh vực này. Cụ thể là trên các tuyến tham quan, đường mòn thiên nhiên còn thiếu biển chỉ dẫn, biển báo, chưa kể tình trạng sử dụng ngoại ngữ sai tràn lan ở rất nhiều biển chỉ dẫn, thậm chí ở các thành phố lớn như Hà Nội hay TPHCM. Bên cạnh đó, hầu hết các hướng dẫn viên mới chỉ làm nhiệm vụ dẫn đường mà chưa có đủ kiến thức để thực hiện nhiệm vụ quan trọng, chủ yếu nhất của mình là giáo dục và diễn giải môi trường. Lợi ích từ hoạt động du lịch còn ít, chưa hỗ trợ được nhiều cho công tác bảo tồn và phát triển cộng đồng địa phương. Nhân dân địa phương cũng chưa được thu hút nhiều vào hoạt động du lịch của vườn. II.2.3: Nguyên nhân của thực trạng Nguyên nhân vì sao du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam chưa được phát triển tương xứng với tiềm năng thì khá nhiều, song nhìn chung có thể đưa ra một vài nguyên nhân chính. Sự ít hiểu biết về khái niệm du lịch sinh thái là một hạn chế không nhỏ cho việc phát triển du lịch sinh thái. Du lịch sinh sinh thái là một loại hình du lịch khá mới mẻ cả về khái niệm, tổ chức oạt động, quy hoạch, chính sách đầu tư khai thác. Vấn đề phổ cập kiến thức du lịch sinh thái chưa được các ngành quan tâm đầu tư đúng mức. Một nguyên nhân quan trọng nữa là do lực lượng quản lý tại các khu vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên thiếu cả về số lượng lẫn kiến thức chuyên môn. Mặc dù du lịch là một trong những chức năng, nhiệm vụ của vườn quốc gia, song thực tế các vườn mới chỉ chú trọgn đến bảo vệ rừng mà chưa quan tâm tới việc quản lý rừng bền vững và phát triển du lịch sinh thái. Các khu bảo tồn thiên nhiên còn thiếu những phương tiện cung cấp các thông tin giáo dục, diễn giải môi trường và chưa có những hướng dẫn viên du lịch sinh thái chuyên nghiệp, am hiểu đầy đủ, tường tận các tài nguyên du lịch của chính mình. Các điểm du lịch sinh thái chưa được quy hoạch là một trở ngại lớn cho việc phát triển của ngành du lịch này tại Việt Nam. Hầu hết các khu bảo tồn thiên nhiên chưa có phân vùng dành cho du lịch sinh thái. Sự thiếu tiếp thị quảng cáo cho du lịch sinh thái cũng là một nguyên nhân quan trọng kìm hãm sự phát triển của du lịch sinh thái ở Việt Nam. Thiếu tiếp thị, quảng cáo, tuyên truyền dẫn đến thiếu nhu cầu trong thị trường. Điều này lại dẫn đến sự thiếu động lực thúc đẩy các cơ quan chức trách có thẩm quyền và các nhà đầu tư quan tâm đến việc ưu tiên đầu tư cho bảo tồn và du lịch sinh thái. Một nguyên nhân không kém phần quan trọng là sự yếu kém của cơ sở hạ tầng phụ vụ du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng. Song nhìn chung, nguyên nhân quan trọng nhất gây trở ngại cho việc phát triển du lịch sinh thái ở các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên lại là thiếu sự phối kết hợp giữa các cơ quan, các ngành, các cấp có liên quan trong việc xây dựng các chính sách phát triển và quy hoạch du lịch. Du lịch sinh thái là ngành có liên quan đến nhiều lĩnh vực, cần phải có sự kết hợp của nhiều ngành liên quan mới có thể phát triển được. II.3: Tiềm năng và thực trạng du lịch sinh thái biển – đảo của Việt Nam II.3.1: Tiềm năng du lịch sinh thái biển – đảo của Việt Nam Dọc theo chiều dài hơn 3231 km vùng biển ven bờ của Việt Nam, thống kê được 2779 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 1295 đảo không tên, hơn 50 đảo có dân sinh sống thường xuyên, tài tuyên sinh vật thống kê được trên khoảng 10 đảo, như vậy còn tới 95.5% là đảo hoang. Hệ thống đảo ở vùng biển ven bờ Việt Nam phân bố không đều. Khu vực tập trung nhiều đảo nhất là Vịnh Bắc Bộ (cực Nam Trung Bộ, Đông và Tây Nam Bộ chỉ chiếm 7% tổng số đảo). Tuy nhiên, tổng diện tích các đảo ở hai khu vực này lại gần giống nhau với 787,4 km2 khu vực Bắc Bộ và 679,3 km2 khu vực ven bờ Nam Bộ. Căn cứ vào đặc điểm phân bố các hòn đảo, tồn tại 3 hệ sinh thái đặc trưng: Hệ sinh thái quần đảo với nhiều vũng, vịnh nhỏ xen kẽ nhau tạo thành cảnh quan và môi trường sinh thái rất đặc biệt và đa dạng. Đặc trưng nhất là hệ thống quần đảo phía Tây Bắc vịnh Bắc Bộ. Hệ sinh thái ở một hoặc hai đảo độc lập, hoặc cách nhau tương đối xa. Tính chất sinh thái và khu hệ sinh vật trên đảo và vùng nước xung quanh các đảo của hệ sinh thái này tương đối thuần nhất, tính đa dạng sinh học không cao. Đại diện cho hệ sinh thái này là các đảo Bạch Long Vĩ, Hòn Mát, Cồn Cỏ, Cù Lao Ré, Cù Lao Khoai, Hòn Tre… Hệ sinh thái vùng quần đảo nhỏ, bao gồm một đảo lớn và một số đảo nhỏ xung quanh. Điển hình cho dạng này là Cát Bà, Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Thổ Chu, Phú Quốc… Đặc trưng của các hệ sinh thái này là vừa mang tính chất của hệ sinh thái đảo độc lập, vừa mang tính chất của hệ sinh thái quần đảo. Các đảo và vùng nước quanh đảo là nơi bảo tồn, phát triển nguồn gen tự nhiên rất phong phú và lưu giữ những nguồn gen quý hiếm của khu hệ sinh vật Việt Nam. Bước đầu đã phát hiện được 8 loài quý hiếm và 1 loài đặc hữu trên cụm đảo Cát Bà, 3 loài quý hiếm trên Cù Lao Chàm, 4 loài quý hiếm và một loài đặc hữu trên cụm đảo Côn Đảo – Ba Cạnh, bổ sung vào danh mục cá biển Việt Nam 113 loài cá san hô mới được phát hiện tại các đảo ven bờ. Vùng biển quanh hệ thống đảo ven bờ Việt Nam là nơi dừng chân thuận lợi cho các loài động vật di cư từ Bắc xuống Nam và ngược lại. Đặc tính này làm cho khu hệ động vật trên đảo và dưới nước thêm phong phú, đa dạng. Đến nay chưa có số liệu thống kê đầy đủ về nguồn gen trong hệ sinh thái biển đảo quanh 2779 hòn đảo, tuy nhiên kết quả nghiên cứu ở một số cụm đảo cho thấy: trên các đảo hiện có khoảng 997 loài thực vật thuộc 587 chi, 156 họ, 5 ngành; khoảng 63 loài thú thuộc 24 họ, 8 bộ; khoảng 194 loài chim thuộc 50 họ, 20 bộ; khoảng 73 loài bò sát thuộc 18 họ, 3 bộ; khoảng 15 loài lưỡng cư thuộc 4 họ, 1 bộ; tương ứng với 28.3% loài thú, 23.7% loài chim, 29.1% loài bò sát và 18.8% loài lưỡng cư đã thống kê trong toàn quốc. Trong vùng biển Việt Nam, hiện đã phát hiện được 537 loài thuộc 4 ngành thực vật phù du (phytoplankton), động vật phù du (zooplankton) có 657 loài thuộc 7 ngành, động vật đáy có khoảng 6000 loài cỡ lớn, cá biển có 2038 loài thuộc 717 giống, 198 họ, 32 bộ; bò sát có 21 loài; động vật có vú sống dưới nước có 12 loài thuộc 10 giống, 4 họ thuộc 2 bộ cá Voi (Cetacea) và cá Cúi (Sitenia). Khu hệ động thực vật trên các đảo lớn và quần đảo phong phú hơn trên các đảo nhỏ và biệt lập. Các hệ sinh thái biển đảo hiện đang là nơi tiềm ẩn nguồn tài nguyên quý và đa dạng có giá trị trước mắt và lâu dài để phát triển kinh tế biển, đặc biệt có giá trị cao đối với hoạt động phát triển du lịch sinh thái. Việt Nam là quốc gia ven biển, có vị trí địa lý – chính trị quan trọng trong giao lưu quốc tế. Vì vậy, phát triển du lịch biển có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, đồng thời tạo cơ hội phát triển mới, làm tăng nguồn thu quốc gia và cải thiện cán cân thanh toán, góp phần đẩy mạnh phát triển nền kinh tế biển, đa dạng hóa nền kinh tế cho suốt dọc vùng duyên hải và hải đảo của 29 tỉnh, thành phố, thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước. Tại Việt Nam, du lịch biển có vai trò đặc thù và chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định 7 khu vực trọng điểm ưu tiên phát triển du lịch, trong đó có tới 5 khu vực thuộc vùng ven biển. Mặc dù cho đến nay, nhiều tiềm năng du lịch biển đặc sắc, đặc biệt là hệ thống đảo ven bờ chưa được đầu tư khai thác một cách tương xứng thì khu vực ven biển cũng đã tập trung khoảng 70% các khu điểm du lịch trong cả nước, hàng năm thu hút khoảng 60-80% lượng khách du lịch. Điều này khẳng định vai trò của du lịch biển đối với sự phát triển chung của du lịch Việt Nam. Cùng với sự phát triển chung của du lịch cả nước, du lịch biển Việt Nam đã biến chuyển ngày một mạnh mẽ với những bước tiến quan trọng cả về lượng và chất. Đã có sự phát triển đáng kể về sản phẩm du lịch. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du lịch được cải thiện một bước. Hoạt động du lịch biển chiếm tỉ trọng lớn (năm 2000 chiếm 63% GDP du lịch của cả nước), đóng góp không nhỏ vào sự phát triển chung của toàn ngành du lịch Việt Nam và kinh tế – xã hội vùng biển. II.3.2: Thực trạng du lịch sinh thái biển – đảo ở Việt Nam. Đáng chú ý nhất phải nói đến sự xuống cấp về chất lượng môi trường biển. Môi trường ven biển và vùng ven biển trực tiếp chịu ảnh hưởng tác động của các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt ở những khu vực có hoạt động công nghiệp, cảng biển, phát triển đô thị tập trung, các vùng cửa sông – nơi các chất thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt ở vùng thượng lưu theo các dòng sông đổ ra biển. Đây chính là những nguồn gây ô nhiễm làm xuống cấp chất lượng môi trường, ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển bền vững. Các kết quả khảo sát môi trường tại các khu vực trọng điểm phát triển du lịch vùng ven biển cho thấy: Tại nhiều khu vực như vùng biển ven bờ cửa Lục (Quảng Ninh), cảng Thuận An (Thừa Thiên Huế), cảng Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, dọc tuyến hàng hải Hải Phòng – Đà Nẵng…, chỉ số ô nhiễm dầu trong nước đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép, trong một số trường hợp tới 0.2 – 0.3 mg/lít. Hàm lượng kim loại nặng ở nhiều khu vực cũng vượt quá giới hạn cho phép. Ví dụ như hàm lượng đồng ở khu vực Hạ Long, vùng cửa Nam Triệu và quanh bán đảo Đồ Sơn phổ biến trong khoảng 0.080 – 0.086mg/lít, khu vực Huế, Đà Nẵng trong khoảng 0.076 – 0.081mg/lít, vượt quá giới hạn cho phép là 0.02mg/lít. Hàm lượng vật chất lơ lửng do các hoạt động công nghiệp, khai thác than đặc biệt nổi cộm ở Hạ Long, Hải Phòng, Đà Nẵng… Tại Hạ Long, dưới tác động của các hoạt động khai thác than, môi trường không khí tại nhiều điểm vượt quá xa chỉ tiêu cho phép về nồng độ bụi. Bên cạnh đó là tình trạng xói lở đường bờ biển. Nhiều khu du lịch ở miền Trung, điển hình là khu du lịch Thuận An (Thừa Thiên Huế), khu du lịch Phan Thiết – Mũi Né (Bình Thuận) và một số đảo ven bờ như Phú Quốc… đã và đang chịu ảnh hưởng của tình trạng này. Cá biệt, khu du lịch Thuận An, bãi biển đã bị sạt lở nghiêm trọng, ảnh hưởng tới hoạt động tắm biển và xây dựng các công trình du lịch. Tình trạng suy giảm rừng ven biển và trên các đảo: trong tình trạng đáng lo ngại chung về suy giảm rừng, ở khu vực ven biển và hải đảo ven bờ Việt Nam, tài nguyên sinh vật trong những năm gần đây cũng giảm sút đáng kể, kéo theo đó là sự suy giảm về tính đa dạng sinh học. Trong xu thế đó, nhiều hệ sinh thái có giá trị du lịch như hệ sinh thái san hô, cỏ biển, hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái đầm phá, hệ sinh thái biển đảo… đều bị ảnh hưởng. Có thể khẳng định rằng: môi trường du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam đang có những dấu hiệu đáng lo ngại, đặc biệt ở các khu vực trọng điểm du lịch như Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn, Huế – Đà Nẵng, Vũng Tàu…, ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam. II.3.3: Nguyên nhân của thực trạng Chưa có cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về môi trường trong ngành du lịch, vì vậy công tác quản lý khai thác và bảo tồn tài nguyên, môi trường du lịch nói chung, du lịch biển nói riêng, gặp nhiều khó khăn, mới chỉ thực hiện ở mức độ nghiên cứu, đề xuất giải pháp chung. Bên cạnh đó, ta chưa xây dựng và ban hành chính thức hướng dẫn về đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cho hoạt động du lịch, mặc dù trong năm 1999, Viện nghiên cứu phát triển du lịch đã phối hợp với Trung tâm khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc Gia soạn thảo sách “Hướng dẫn ĐTM cho dự án phát triển du lịch”. Chưa có hệ thống kiểm soát quản lý các vấn đề về môi trường liên quan đến các hoạt động du lịch, vì vậy thiếu các hoạt động tích cực nhằm hạn chế sự suy thoái tài nguyên và môi trường du lịch nói chung, du lịch biển nói riêng. Quan hệ liên ngành trong quản lý môi trường, đặc biệt giữa ngành Du lịch với Bộ Tài nguyên và Môi trường còn thiếu chặt chẽ, vì vậy ảnh hưởng đến công tác quản lý môi trường biển cho hoạt động phát triển du lịch ở khu vực này. Du lịch Việt Nam, vì vậy, đang phải đối mặt trực tiếp với quá trình suy thoái môi trường chung và môi trường biển, nhất là ở các vùng trọng điểm phát triển du lịch ở ven biển và hải đảo. CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH SINH THÁI TẠI VIỆT NAM III.1. Phát triển du lịch sinh thái cả về lượng và chất trên cơ sở phát triển bền vững Phát triển du lịch sinh thái phải hướng tới và đạt được sự phát triển bền vững của chính loại hình du lịch sinh thái và phải trở thành nhân tố tích cực đảm bảo phục vụ cho phát triển du lịch bền vững. Những giải pháp cần thiết để phát triển du lịch sinh thái ở nước ta là cần có những văn bản pháp quy tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động du lịch sinh thái có cơ hội phát triển, đồng thời nên có những cơ chế, chính sách ưu đãi dành riêng cho du lịch sinh thái, đồng thời cần có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan quản lý và du lịch với các bộ, ngành, địa phương để quản lý có hiệu quả. Cụ thể là: Thứ nhất, giáo dục – đào tạo và tuyên truyền về du lịch sinh thái: Đối tượng giáo dục bao gồm: các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, các hướng dẫn viên, các nhà hoạch định chính sách liên quan đến bảo tồn và du lịch, cộng đồng địa phương, khách du lịch trong và ngoài nước. Bằng cách tuyên truyền, giáo dục, các vấn đề khúc mắc khác có thể dễ dàng tháo gỡ. Chẳng hạn như giáo dục tuyên truyền với các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý khu bảo tồn thiên nhiên có thể làm họ quan tâm hơn đến việc quy hoạch cho du lịch sinh thái. Thứ hai, kết hợp sự tham gia của cộng đồng địa phương: Giáo dục cộng đồng phải đi đôi với hỗ trợ, phát triển cộng đồng và phát huy bản sắc văn hóa của cộng đồng địa phương. Không có lý gì nếu ta vận động họ không phá rừng làm rẫy trong khi họ lại dựa vào hoạt động này để sinh nhai. Sự thật này dẫn đến một giải pháp khác cho vấn đề phát triển du lịch sinh thái là vấn đề tạo việc làm, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp và ngành nghề cho dân địa phương, đặc biệt là một số ngành thủ công mỹ nghệ truyền thống. Thứ ba, quy hoạch tổng thể các điểm, khu du lịch sinh thái: Các khu bảo tồn thiên nhiên nên có những quy hoạch, chỉ rõ phân vùng cho du lịch sinh thái nếu có. Cần phải có bản đồ du lịch sinh thái cho các khu bảo tồn thiên nhiên nơi có tiến hành du lịch sinh thái. Bên cạnh đó, nên có hệ thống thu lệ phí vào cổng và các lệ phí khác như phí thuê dụng cụ, phí sử dụng bến bãi… Nên đặt mục tiêu rõ ràng cho việc thu lệ phí: cần thu lệ phí để bù đắp chi phí du lịch của địa điểm, để tăng tối đa lợi nhuận hay một mục đích nào khác, từ đó mới xác định mức lệ phí phù hợp. Thứ tư, tiếp thị du lịch sinh thái cho các khu bảo tồn thiên nhiên: Dù có những sản phẩm tốt nhất mà không được đối tượng nó phục vụ biết đến thì cũng không thể bán được sản phẩm đó. Đây là một nguyên tắc của marketing mà ngành du lịch cũng không ngoại lệ. Tiềm năng là vậy nhưng nếu không tiếp thị quảng cáo du lịch sinh thái thì không ai có thể biết Việt Nam có những địa điểm du lịch sinh thái lý tưởng. Thứ năm, phát triển cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng là những hấp dẫn thứ cấp bổ sung cho các hấp dẫn chính cấp là tài nguyên thiên nhiên của các khu bảo tồn thiên nhiên. Song cần lưu ý, các phương tiện phục vụ này phải đảm bảo hợp môi trường và không nên chà đạp lên văn hóa địa phương, nhờ đó tranh thủ sự ủng hộ của người dân địa phương với các hoạt động và dịch vụ du lịch. Các ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng bao gồm: Thiết kế và xây dựng nơi ăn nghỉ cho khách theo kiểu nhà nghỉ sinh thái Xây dựng các tuyến đường nội bộ, đường mòn thiên nhiên với hệ thống chỉ dẫn, chỉ báo đầy đủ, chính xác. Xây dựng trung tâm đón khách, trung tâm giáo dục môi trường. III.2: Các chiến lược du lịch sinh thái quốc gia Để có ngành du lịch sinh thái phát triển bền vững, cần phải có một chiến lược du lịch sinh thái quốc gia được xây dựng với sự tham gia đầy đủ của các thành phần có liên quan. Để thúc đẩy sự phát triển của hoạt động du lịch sinh thái ở các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, một số dự án nghiên cứu, đào tạo, quy hoạch du lịch sinh thái đã được triển khai: Nghiên cứu quy hoạch thí điểm về du lịch thiên nhiên và du lịch mạo hiểm ở Việt Nam – Phân hội các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam cùng các nhà tư vấn du lịch New Zealand (1995). Điều tra vẽ bản đồ du lịch sinh thái và tổ chức lớp tập huấn về du lịch sinh thái cho một số vườn quốc gia – các chuyên gia của Hội các Vườn quốc gia Nhật Bản. Phân hội Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam chủ trì. Dự án phát triển Vườn quốc gia Bạch Mã Việt Nam 00.12.01 – WWF/EC đã soạn thảo “Kế hoạch quản lý khu du lịch sinh thái VQG Bạch Mã”, quỹ Quốc tế bảo tồn thiên nhiên tiến hành trong 2 năm 1995 – 1996. Các khóa tập huấn về du lịch sinh thái cho cán bộ và nhân viên Vườn quốc gia Tam Đảo, Cúc Phương, Bạch Mã, do các chuyên gia của Hội các VQG Nhật Bản, Phân hội VQG và khu Bảo tồn thiên nhiên Việt Nam chủ trì. Dự án xây dựng năng lực phục vụ các sáng kiến về du lịch bền vững, do IUCN và Viện nghiên cứu Phát triển Du lịch thực hiện (1997). Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái Việt Nam, Viện nghiên cứu phát triển du lịch thực hiện (1998 – 1999). Dự án bảo tồn VQG Cúc Phương, FFI thực hiện (1997 – 2000). Nếu các dự án trên được thực thi có hiệu quả thì chắc chắn các vấn đề khó khăn trong các chiến lược phát triển du lịch sinh thái phần nào sẽ được giả quyết, đưa du lịch sinh thái phát triển theo đúng hướng của những nguyên tắc đã nêu trên. PHẦN KẾT LUẬN Trách nhiệm, quyền lợi cũng như nghĩa vụ trong phát triển du lịch sinh thái và môi trường có mối quan hệ hỗ tương hết sức mật thiết. Đầu tư du lịch chính là kích thích phát triển kinh tế, đem lại nguồn ngoại tệ đồng thời giải quyết việc làm cho nhiều lao động tại địa phương nhưng du lịch kết hợp được với môi trường sinh thái thì đem lại rất nhiều nguồn lợi. Đơn cử như vấn đề bảo vệ môi trường rừng thiên nhiên, rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng quốc gia, bảo tồn nguồn gen thực vật, động vật rừng, giúp việc nghiên cứu khoa học; Bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, …Vì rừng đặc dụng có một vai trò quan trọng như vậy, do đó vấn đề bảo vệ tốt môi trường tại các khu rừng đặc dụng sẽ góp phần không nhỏ vào việc duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng, nguồn gen thực vật, động vật rừng và phục vụ nghiên cứu khoa học. Vai trò của du lịch sinh thái được xét đến như một mắt xích với cơ cấu phát triển bền vững, vừa phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội theo xu hướng chung của thế giới vừa đảm bảo mục tiêu bảo tồn các hệ sinh thái. Hệ sinh thái đã đề cập đến như một chu trình khép kín, hài hòa chịu sự tác động giữa các môi trường sinh cảnh khác nhau, duy trì các hệ thống trợ giúp cuộc sống (đất, nước, không khí và cây xanh), bảo vệ sự đa dạng sinh học và ổn định quần thể của các loài sinh vật và các hệ sinh thái. Yêu cầu này đòi hỏi các hoạt động du lịch và cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật phải được thiết kế, tổ chức phù hợp với điều kiện cho phép (giới hạn) đảm bảo môi trường. Điều kiện của môi trường có thay đổi theo thời gian và không gian, do vậy các hoạt động du lịch sinh thái phát triển phải phù hợp theo điều kiện môi trường môi trường ở mỗi vùng khác nhau. Thông qua quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch được ban hành có đưa ra rất nhiều quy định cụ thể mà các văn bản pháp luật trước đây chưa đề cập. Việc ban hành văn bản pháp luật này có ý nghĩa rất to lớn, vừa góp phần phát triển kinh tế đất nước, vừa tạo ra một không khí thoải mái đối với du khách, đồng thời hạn chế được những tác nhân gây hại cho môi trường thiên nhiên. Thiết nghĩ, nước ta cần tập trung đầu tư đúng nghĩa, phát triển điểm du lịch sinh thái ở các khu vực vùng ven ngoại vi và trong quy hoạch phát triển đô thị cũng nên có một tỷ lệ nhất định dành cho phát triển khu du lịch sinh thái, nhằm đáp ứng song song tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa như hiện nay của cả nước, đẩy mạnh hơn nữa những chính sách thiết thực nhất để vực dậy ngành công nghiệp không khói này. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PGS. TS. Nguyễn Thế Chinh, giáo trình Kinh tế và Quản lý môi trường, NXB Thống Kê, Hà Nội, 2009. Thế Đạt, Du lịch và du lịch sinh thái, NXB Lao Động Hà Nội, 2003 Hội khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1995. Phạm Trung Lương, Du lịch sinh thái, những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà nội, 2002. Tạp chí Du lịch Việt Nam các số 4, 5, 9, 10, 11, 12/2004 Tạp chí Tài nguyên và Môi trường 6/2004 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3 I.1. Khái quát về du lịch sinh thái 3 I.2. Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái 4 I.3. Tính tất yếu phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam 6 CHƯƠNG II: THỰC TẾ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở VIỆT NAM 7 II.1. Điều kiện để phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam 7 II.2. Tiềm năng và thực trạng du lịch sinh thái của các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam 9 II.2.1. Tiềm năng du lịch sinh thái của các khu bảo tồn thiên nhiên 9 II.2.2. Thực trạng du lịch sinh thái của các khu bảo tồn thiên nhiên 10 II.2.3. Nguyên nhân của thực trạng 12 II.3. Tiềm năng và thực trạng du lịch sinh thái biển – đảo của Việt Nam 13 II.3.1. Tiềm năng du lịch sinh thái biển – đảo 13 II.3.2. Thực trạng du lịch sinh thái biển – đảo 16 II.3.3. Nguyên nhân của thực trạng 17 CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở VIỆT NAM 19 III.1. Phát triển du lịch sinh thái cả về lượng và chất trên cơ sở phát triển bền vững 19 III.2. Các chiến lược du lịch sinh thái quốc gia 21 PHẦN KẾT LUẬN 22 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24 MỤC LỤC 25

Phát Triển Du Lịch Bạc Liêu Trong Tình Hình Mới / 2023

Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, ngành du lịch đã có bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thu hút đầu tư; tạo nhiều việc làm; xóa đói giảm nghèo; nâng cao dân trí; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc; xây dựng và quảng bá hình ảnh đất, văn hóa, con người Bạc Liêu năng động, hiếu khách, thân thiện trọng nghĩa, trọng tình. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu như tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến Bạc Liêu thu nhập xã hội từ du lịch, tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch trong GDP của tỉnh và năng lực cạnh tranh của du lịch còn thấp so với các tỉnh trong khu vực. Bên cạnh đó nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng du lịch còn thấp. Mặt khác, nhận thức về phát triển du lịch ở một số nơi còn hạn chế; sự phối hợp liên ngành chưa hiệu quả; vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành chưa phát huy đầy đủ; hiệu quả hoạt động xúc tiến quảng bá chưa cao, nguồn nhân lực du lịch và hạ tầng giao thông chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; đầu tư cho du lịch chưa tương xứng; một số chính sách thúc đẩy phát triển du lịch còn bất cập, chưa tháo gỡ kịp thời; tình hình an ninh, an toàn, vệ sinh môi trường tại một số điểm đến chưa được duy trì thường xuyên có hiệu quả.

Để khai thác, phát huy hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên du lịch của tỉnh nhà, tận dụng cơ hội thuận lợi trong nước, tạo bước phát triển đột phá cho ngành du lịch trong thời kỳ mới đưa ngành du lịch Bạc Liêu phát triển nhanh, hiệu quả trở thành ngành kinh tế mũi nhọn có tính chất động lực. Vai trò của Ngành VHTTDL cùng với các cấp, các ngành cần nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, đem lại hiệu quả tích cực cho phát triển kinh tế – xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo nhiều việc làm, xóa đói giảm nghèo; tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm môi trường cho phát triển du lịch.

Tại các địa phương trọng điểm về du lịch như trung tâm thành phố Bạc Liêu, huyện Giá Rai tăng cường việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, vận động nhân dân tự giác và tích cực tham gia giữ gìn an ninh trật tự, vệ sinh môi trường; tăng cường thực hiện nếp sống văn minh, lịch sự, tôn trọng pháp luật; xây dựng phong trào ứng xử văn minh, có thái độ cởi mở, chân thành đối với khách du lịch.

Thực trạng hiện nay Bạc Liêu là một trong những tỉnh có sản phẩm thương hiệu văn hóa du lịch đặc trưng nhiều nhất trong vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL khá sinh động theo các dòng sản phẩm như sản phẩm văn hóa lịch sử, tâm linh tín ngưỡng, nghệ thuật đờn ca tài tử, Công tử Bạc Liêu, sinh thái rừng biển, Điện gió, các công trình nghệ thuật kiến trúc lâu đời và hiện đại chính điều đó chúng ta cần quan tâm nhiều hơn về chất lượng để chẳng những được duy trì mà còn phát huy được hiệu quả. Chiến lược chất lượng thể hiện ở từng chi tiết sản phẩm, từng phân khúc trong chuổi dịch vụ và trong tổng thể điểm đến. Chất lượng dịch vụ phải được đo bằng sự hài lòng của khách, chất lượng điểm đến chỉ có thể đánh giá bằng giá trị trãi nghiệm mà du khách tiếp nhận được. Như vậy nhu cầu và sự kỳ vọng của du khách là tối thượng phải được đáp ứng thỏa mãn trong môi trường luôn luôn biến đổi. Du khách là trung tâm thì mục tiêu phát triển bền vững phải đảm bảo sự cân đối giữa việc làm hài lòng khách với lợi ích của điểm đến trong đó chính quyền, doanh nghiệp và người dân đều có vai trò quyết định tạo điều kiện thuận lợi nhất tháo gỡ những rào cản tạo môi trường thông thoáng cho doanh nghiệp, nâng cao nhận thức và chung tay cải thiện môi trường du lịch văn minh, thân thiện, an toàn…Chiến lược phát triển tư duy các sản phẩm được chuyển hóa thành chiến lược hành động trong từng lĩnh vực. Về thị trường phân đoạn theo mục đích, động cơ du lịch nhắm tới thị trường khách nghĩ dưỡng dài ngày, do đó cần nghiên cứu những sản phẩm tương ứng với những phân đoạn thị trường mục tiêu hướng tới đáp ứng nhu cầu đa dạng, khác biệt huy động mọi người cùng tham gia cung ứng dịch vụ. Bên cạnh đó cần quan tâm quản lý quy hoạch đúng theo định hướng phát triển khu, điểm du lịch tôn trọng tính đa dạng văn hóa, đa dạng sinh học và không gian khác biệt, nhưng đòi hỏi có sự kết nối tinh tế đặc biệt coi trọng các yếu tố bản địa và cuộc sống của cộng đồng dân cư. Đồng thời tập trung phát triển nguồn nhân lực lấy kỷ năng chuyên nghiệp làm trọng trong tương tác với du khách, quản trị liên kết kỷ năng nghề làm nền tảng, tập trung phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất kỷ thuật kết hợp với các yếu tố truyền thống với các yếu tố hiện đại lồng ghép hài hòa với các yếu tố vùng, địa phương trong tỉnh nhằm nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm trong điều kiện kinh doanh cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong cùng một sản phẩm.

Thực trạng tình hình du lịch tỉnh Bạc Liêu trong những năm gần đây xác định rõ du lịch Bạc Liêu “Điểm hẹn văn hóa” do vậy các ngành chức năng cần tiếp tục nghiên cứu nội hàm sản phẩm nhằm hướng tới bảo tồn sức mạnh văn hóa nội sinh. Đồng thời cải tạo nâng cấp hoàn thiện các công trình dự án, chỉnh trang diện mạo văn minh đô thị, văn hóa nông thôn, kích thích đầu tư phát triển sản phẩm ngành nghề gắn liền với tăng cường đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hiện đại hóa các cơ sở vật chất kỷ thuật đáp ứng thỏa mãn tối đa nhu cầu của du khách, tạo ra sức lan tỏa có tầm ảnh hưởng sâu rộng bởi những sản phẩm văn hóa đặc trưng khác biệt làm cho du khách cứ mỗi lần quay lại chiêm ngưỡng và hưởng thụ thấy được chiều sâu của sự tinh tế sáng tạo mới lạ luôn luôn hấp dẫn.

Bài: Minh Huấn

Luận Văn Ảnh Hưởng Của Tình Hình Kinh Tế , Chính Trị Đến Sự Phát Triển Du Lịch Ở Việt Nam / 2023

Xu thế hội nhập , quốc tế hoá trong khu vực và trên thế giới đang diễ ra hết sức mạnh mẽ . Hoà trong xu thế này , du lịch Việt Nam đang đứng trước nhiều thời cơ cũng nhu thách thức mới trong quá trình phát triển và khẳng định mình . Sự bất ổn về kinh tế chính trị tại một loạt các quốc gia trên thế giới trong những năm gần đây , phần nào có những tác động xấu đến du lịch Việt Nam . Tình hình này đặt nghành du lịch non trẻ của nước ta trước những thách thức khó khăn lớn . Nhưng bên cạnh đó , chính những bất ổn này , ở một khía cạnh nào đó lại là một cơ hội cho du lịch Việt Nam có những bước bứt phá . Để làm được điều đó , không phải dễ , nó đòi hỏi nguồn lực từ nhiều cơ quan , bộ , nghành , từ phía doanh nghiệp và chính những ngừơi dân . Tình hình kinh tế chính trị của mỗi quốc gia ảnh hưởng đến du lịch của quốc gia đó như thế nào và ở Việt Nam ra sao . Phân tích những tác động này, không chỉ cho chúng ta thấy được thực trạng đó , mà quan trọng hơn chúng ta thây được nhứng điểm mạnh , điểu yếu của du lịch Việt nam , đâu là thời cơ và đâu là thách thức . Chỉ có hiểu rõ như thế , chúng ta mới có thể đưa ra các đường lối , chính sách phát triển đúng đắn , nhằm khai thác và tận dụng tốt những nguồn lực , tiềm năng của đất nước phục vụ phát triển nhân lực . Phát triển du lịch là phát triển trong một tổng thể của nền kinh tế quốc dân , ổn định và hài hoà đối với các nghành , lĩnh vực kinh tế khác , phát triển du lịch đồng thời phải đảm bảo giữ gìn tình hình chính trị , an toàn xã hội của đất nước . Có thể nói phân tích những ảnh hưởng của nền kinh tế ,chính trị đến sự phát triển du lịch Việt Nam là một yêu cầu tất yếu trong bất cứ giai đoạn nào nhất là giai đoạn hiện nay , là một sinh viên em mong muốn được đặt mình và cương vị một nhà quản lý du lịch , nhìn nhận và đánh giá thực trạng này ở Việt Nam , đưa ra một vài kiến nghị nhỏ . Không phải với hy vọng định hướng cho du lịch Việt Nam phát triển mà là hy vọng qua đây có thể nhận thức đúng đắn hơn về tầm quan trọng của tình hình kinh tế chính trị với sự phát triển của du lịch . Đó là lý do em chọn đề tài “Ảnh hưởng của tình hình kinh tế , chính trị đến sự phát triển du lịch ở Việt Nam I, C¬ së lý luËn chung

Tình Hình Du Lịch Việt Nam, Cơ Hội Thách Thức Trong Hội Nhập Quốc Tế – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr) / 2023

   Ngành du lịch đang đi nốt những ngày cuối cùng của năm 2017 trong tâm thế hồ hởi với một thành tích gần như trong tầm tay: Đón 13 triệu du khách nước ngoài, tăng 30% so với năm ngoái. Chưa bao giờ Việt Nam đạt được con số cao kỷ lục như vậy. Du lịch Việt Nam đang trên con đường trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn thực sự.     Với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú. Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế đến cũng như lượng khách đi du lịch nội địa ngày càng tăng. Du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế. Du lịch Việt Nam đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.    Một số chỉ tiêu về du lịch giai đoạn 2011-2016

   Bảng 1: Một số chỉ tiêu du lịch Việt Nam giai đoạn 2011-2016

Nguồn: vietnamtourism.gov.vn

   Tăng trưởng tốc độ cao    Các chỉ tiêu về số lượng khách quốc tế, nội địa, tổng thu từ du lịch, đóng góp của du lịch vào GDP tăng nhanh. Triển vọng du lịch Việt Nam trong năm 2018 và những năm tiếp theo là rất khả quan.    – Về khách quốc tế: Mục tiêu năm 2017, đón 13-14 triệu khách, 6 tháng đầu năm 2017, Việt Nam đón 6,2 triệu lượt khách. Tính đến cuối tháng 12, Việt Nam đã đón được khoảng 13 triệu lượt khách, hoàn thành mục tiêu chính phủ giao cho ngành du lịch, là con số kỷ lục chưa từng có mà ngành du lịch đã đạt được.    – Về khách du lịch nội địa: mục tiêu 2017 phục vụ 66 triệu lượt. Ước tính số liệu 6 tháng đầu năm 2017, đã phục vụ 40,7 triệu lượt khách nội địa. Tính đến hết năm 2017, đã phục vụ khoảng 74 triệu lượt khách nội địa, vượt xa mục tiêu đặt ra.    Ngành du lịch Việt Nam trong 5 năm qua đã không ngừng phát triển, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình gấp khoảng 1,5 lần tốc độ tăng trưởng GDP chung cả nước; đóng góp trực tiếp 6,6% và đóng góp chung 13% trong cấu thành GDP của Việt Nam. Riêng trong năm 2017, du lịch là một trong những động lực chính của tăng trưởng kinh tế đất nước, ước tính du lịch đóng góp 1% vào mức tăng trưởng của GDP của Việt Nam. Năm 2016 tổng thu từ du lịch đạt 417,2 nghìn tỷ đồng, so với 337,82 nghìn tỷ đồng của năm 2015, mục tiêu năm 2017 đạt tổng thu từ du lịch là 460.000 tỷ đồng đóng góp 6,6% GDP cả nước, tạo việc làm trực tiếp và gián tiếp đến 2,25 triệu người, giá trị xuất khẩu đến 8,5 tỷ USD. Tuy nhiên, tính đến hết tháng 12 năm 2017, ước tính tổng thu du lịch thu về 515.000 tỷ đồng, đã vượt rất xa mục tiêu đề ra.    Thu hút mạnh đầu tư, phát triển nhanh cở sở hạ tầng, CSVCKT du lịch được cải thiện    Những năm qua, hàng chục tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài và hơn 300.000 tỷ đồng đầu tư trong nước (với hơn 6.100 tỷ đồng đầu tư NSNN từ năm 2006 đến nay) đã được đầu tư cho hạ tầng du lịch quốc gia, hình thành hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiện đại tại nhiều địa phương và hình thành rõ hơn các vùng động lực phát triển du lịch Việt Nam. Năm 2015, toàn ngành đang có 18.800 cơ sở lưu trú với hơn 355.000 buồng và 1.573 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và hàng ngàn doanh nghiệp lữ hành nội địa, các cơ sở dịch vụ ăn uống, nhà hàng, cơ sở giải trí văn hóa, thể thao, hội nghị, triển lãm và nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời, cải tạo, nâng cấp tại hầu hết các địa bàn phát triển du lịch trọng điểm. Đặc biệt, hàng trăm khách sạn, khu du lịch cao cấp được xây mới, hình thành hàng loạt cơ sở lưu trú (khách sạn và tổ hợp resort) cao cấp như: Intercontinental, JW Marriott, hệ thống khách sạn Mường Thanh, FLC, VinGroup, SunGroup…làm diện mạo ngành du lịch có những thay đổi căn bản.

   Hệ thống vận tải du lịch, nhất là hàng không và đường bộ, đang được xã hội hóa mạnh và ngày càng kết nối rộng rãi với các điểm đến trong và ngoài nước, cả tầm ngắn, tầm trung và tầm dài. Việt Nam hiện có 52 hãng hàng không quốc tế đến từ 25 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 54 đường bay quốc tế, 48 đường bay nội địa kết nối. Việt Nam đã tham gia hàng loạt văn kiện pháp lý và dự án hợp tác quốc tế về du lịch. Du khách 22 quốc gia đã được miễn visa đến Việt Nam.    Hình thành các điểm đến, sản phẩm du lịch    Quá trình phát triển, các sản phẩm du lịch Việt Nam đã được thị trường nhìn nhận và đánh giá cao như: du lịch tham quan cảnh quan, di sản di tích, nghỉ dưỡng biển, núi, du lịch tâm linh, lễ hội, ẩm thực, du lịch thể thao mạo hiểm, nghỉ dưỡng sinh thái, du lịch MICE,.. Các sản phẩm tham quan cảnh quan như: Vịnh Hạ Long, cố đô Huế, Hội An, Mỹ Sơn,..Du lịch thể thao mạo hiểm như khám phá Sơn Đoòng, Phong Nha – Kẻ Bàng,…nghỉ dưỡng biến Phú Quốc, Nha Trang, Mũi Né,…được du khách trong nước và du khách quốc tế yêu thích…    Phát triển nguồn nhân lực du lịch còn nhiều bất cập    Theo số liệu từ Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt Nam, tính đến hết năm 2015, ngành du lịch mới có khoảng hơn 2,2 triệu lao động với hơn 600.000 lao động trực tiếp. Điều này một mặt khẳng định còn khá nhiều tiềm năng để phát triển ngành này, nhưng mặt khác cũng bộc lộ lỗ hổng lớn về nhân lực của ngành.    Thiếu trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao    Theo thống kê của Tổng cục Du lịch mỗi năm, toàn ngành cần thêm gần 40.000 lao động; nhưng chỉ có khoảng 20.000 lao động tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo, trong số đó chỉ có khoảng 1.800 sinh viên đại học, cao đẳng chuyên nghiệp, 2.100 sinh viên cao đẳng nghề du lịch, còn lại là học sinh trung cấp, sơ cấp và đào tạo ngắn hạn dưới ba tháng. Các con số này cho thấy, nguồn nhân lực không những thiếu về số lượng mà còn thiếu trầm trọng đội ngũ được đào tạo bài bản.    Thực tế cho thấy, nguồn nhân lực do các cơ sở đào tạo cung cấp cho thị trường chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, nhất là nguồn nhân lực quản lý. Ngay cả khi tuyển đúng người học ngành du lịch, các doanh nghiệp vẫn mất thời gian, công sức đào tạo lại. Trong quá trình này, doanh nghiệp cũng vướng phải không ít khó khăn, khi mà người quản lý kiêm vai trò đào tạo giỏi không nhiều, thường hướng dẫn theo kinh nghiệm là chủ yếu, thiếu kỹ năng, kiến thức cụ thể. Ngoại ngữ, tin học được coi là chìa khóa để hội nhập, song đây lại là điểm yếu lớn của nguồn nhân lực du lịch Việt Nam.    Năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam (dựa vào bảng xếp TTCI của WEF 2015)     TTCI đánh giá năng lực cạnh tranh Du lịch và Lữ hành của 141 nền kinh tế, hệ thống tính điểm bao gồm 4 chỉ tiêu chính, 14 mục và 90 chỉ tiêu riêng biệt. Báo cáo xếp hạng năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực Du lịch và Lữ hành của các quốc gia dựa trên 4 chỉ tiêu chính: Môi trường du lịch, Chính sách hỗ trợ phát triển du lịch, Cơ sở hạ tầng, Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn.    Năm 2015, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 75/141 quốc gia trong bảng xếp hạng, tăng 5 bậc so với năm 2013.    Trong khu vực, năng lực cạnh tranh của Du lịch Việt Nam được TTCI xếp hạng 7 trên 9 nước ASEAN (Brunei không xếp hạng), cụ thể như trong bảng sau:

   Bảng 2: Một số chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành theo Diễn đàn kinh tế thế giới

Nguồn: Diễn đàn kinh tế thế giới WEF

   Có thể thấy rằng, năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với các nước trong khu vực thuộc dạng yếu kém. Mặc dù, trong một số lĩnh vực, Việt Nam đang có lợi thế cạnh tranh ngang bằng thậm chí là vượt hơn hẳn như sự an toàn, an ninh; giá cả cạnh tranh; tài nguyên du lịch thiên nhiên; nguồn nhân lực lao động, nhưng những yếu tố này cũng chưa thể nâng cao năng lực cạnh tranh của Du lịch Việt Nam, cần phải có những đổi mới cả về chính sách, cơ sở hạ tầng và môi trường du lịch trước khi những lợi thế cạnh tranh của Việt Nam không còn là duy nhất.

   Vài nét chính trong hội nhập quốc tế của du lịch Việt Nam 

   Hội nhập WTO    Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức WTO sau khi Quốc hội phê chuẩn vào đầu tháng 01 năm 2007. Riêng trong lĩnh vực dịch vụ, Việt Nam đã cam kết tất cả 11 ngành dịch vụ được phân loại theo Hiệp định chung về Thương mại và Dịch vụ (GATS). Đối với dịch vụ du lịch, Việt Nam chỉ cam kết đối với các phân ngành dịch vụ đại lý du lịch và kinh doanh lữ hành du lịch, dịch vụ sắp xếp chỗ trong khách sạn, dịch vụ cung cấp thức ăn và đồ uống. Những cam kết này sẽ được áp dụng tự động cho các thành viên ASEAN.  GATS quy định có 4 phương thức cung cấp dịch vụ, bao gồm: 1) cung cấp qua biên giới (dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một Thành viên này sang lãnh thổ của một Thành viên khác,); 2) tiêu dùng ngoài lãnh thổ (người tiêu dùng của một Thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một Thành viên khác để tiêu dùng dịch vụ); 3) hiện diện thương mại (nhà cung cấp dịch vụ của một Thành viên thiết lập các hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi nhánh v.v…trên lãnh thổ của một Thành viên khác để cung cấp dịch vụ); 4) hiện diện thể nhân (thể nhân cung cấp dịch vụ của một Thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một Thành viên khác để cung cấp dịch vụ).     Trong các cam kết của mình với WTO, Việt Nam cam kết không hạn chế đối với phương thức 1 và 2. Đối với phương thức 3, Việt Nam cũng cam kết xóa bỏ hạn chế vốn sở hữu nước ngoài đối với các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức liên doanh, liên kết trong hoạt động đại lý du lịch, kinh doanh lữ hành du lịch. Tuy nhiên các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lữ hành du lịch có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam (inbound) và lữ hành nội địa đối với khách vào du lịch Việt Nam như là một phần của dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam. Các doanh nghiệp sở hữu nước ngoài không được phép thực hiện các dịch vụ gửi khách trong nước. Công ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam. Đối với phương thức 4, Việt Nam vẫn không cho phép hướng dẫn viên du lịch nước ngoài được hành nghề tại Việt Nam.     Như vậy, có thể nói Việt Nam đã mở cửa thị trường du lịch tương đối mạnh mẽ so với một số ngành dịch vụ khác như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm. Nhiều nghiên cứu cho thấy, chắc chắn cơ hội mang lại cho ngành Du lịch Việt Nam sau khi WTO sẽ nhiều hơn thách thức nếu các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp đánh giá lại năng lực, định vị lại và xây dựng chiến lược rõ ràng nhằm tham gia vào chuỗi giá trị gia tăng một cách chủ động cùng với phát huy thế mạnh riêng vốn có của mình.    Tham gia công đồng kinh tế ASEAN    Hội nhập quốc tế về du lịch của Việt Nam thời gian qua được triển khai theo hướng thúc đẩy ký kết và thực hiện các hiệp định thỏa thuận hợp tác cấp chính phủ, cấp ngành song phương và đa phương, tranh thủ hợp tác, hỗ trợ của các nước thông qua các chương trình, dự án cụ thể và các cam kết mở cửa tự do hóa thương mại dịch vụ du lịch trong các khuôn khổ WTO, ASEAN, APEC, GMS…. Trong đó, ASEAN là một trong những khuôn khổ hợp tác mà Du lịch Việt Nam tham gia sâu rộng và có hiệu quả nhất.    Du lịch Việt Nam bắt đầu tìm hiểu và tham gia các cơ chế hợp tác từ cuối những năm 1990, sau khi gia nhập ASEAN (1995). Việt Nam từng bước tham gia đầy đủ các hoạt động trong các nhóm/tiểu ban công tác du lịch từ đầu những năm 2000 và chủ động hội nhập từ cuối những năm 2000. Đối với các cam kết về thị trường, Việt Nam đã thực hiện đầy đủ các cam kết đối với các lĩnh vực khách sạn, dịch vụ xếp chỗ ở khách sạn, dịch vụ phục vụ ăn uống và kinh doanh lữ hành quốc tế. Năm 2009, Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Du lịch và Diễn đàn Du lịch ASEAN (ATF) – sự kiện lớn nhất trong năm của du lịch ASEAN.    Đối với các lĩnh vực cụ thể, Việt Nam đã ký Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN về nghề du lịch (MRA-TP) (tại ATF 2009, tại Hà Nội) để làm cơ sở cho việc phát triển nguồn nhân lực du lịch ASEAN và tạo thuận lợi cho dịch chuyển lao động trong khu vực. Du lịch Việt Nam đã chủ động đóng góp vào việc triển khai MRA-TP chung của ASEAN thông qua việc xây dựng các tài liệu hướng dẫn triển khai MRA-TP (2013). Du lịch Việt Nam đã tham gia xây dựng 130 sản phẩm du lịch chung để kết nối ít nhất 2 quốc gia trong ASEAN theo các nhóm chuyên đề như du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa và di sản, du lịch cộng đồng, du lịch đường biển và đường sông đồng thời tích cực triển khai Chiến lược marketing du lịch ASEAN 2011 – 2015 với tiêu đề “Đông Nam Á – cảm nhận sự ấm áp” tập trung vào khai thác các thị trường Trung Quốc và Ấn Độ, khách du lịch trải nghiệm và sáng tạo, khách du lịch khám phá, khách du lịch công vụ, khách du lịch lưu trú dài ngày và người cao tuổi, khách trong nội vùng ASEAN. Cùng với đó, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò Trưởng nhóm Marketing và Truyền thông du lịch ASEAN (2013-2014), hiện đang là Phó Trưởng nhóm Chất lượng dịch vụ du lịch, điều phối phát triển sản phẩm du lịch đường sông và Dự án hỗ trợ kỹ thuật phát triển du lịch đường sông khu vực sông Mê Kông do UNWTO hỗ trợ ASEAN, điều phối triển khai Dự án xây dựng Hướng dẫn xây dựng và vận hành loại hình Boutique Hotel; nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ASEAN thông qua việc phối hợp cùng các quốc gia thành viên phát triển và áp dụng các bộ tiêu chuẩn chung trong ASEAN như tiêu chuẩn khách sạn xanh ASEAN, cơ sở lưu trú nhà dân ASEAN, nhà vệ sinh công cộng ASEAN, dịch vụ Spa ASEAN, tiêu chuẩn thành phố du lịch sạch ASEAN, tiêu chuẩn du lịch cộng đồng, hướng dẫn an ninh và an toàn du lịch ASEAN cho các khách sạn, khu nghỉ dưỡng và lộ trình du lịch ASEAN ứng phó với biến đổi khí hậu…    Hàng năm, Du lịch Việt Nam tham gia Hội chợ Du lịch quốc tế TRAVEX bên lề Diễn đàn Du lịch ASEAN, tham gia và có đóng góp tích cực tại các phiên họp định kỳ và họp chuyên đề. Bên cạnh ATF năm 2009, Việt Nam cũng đã đăng cai tổ chức thành công cuộc họp chuyên đề về Marketing và Phát triển sản phẩm du lịch ASEAN (2013) và sẽ tiếp tục tổ chức phiên họp các nhóm công tác du lịch dự kiến vào tháng 4/2016. Bên cạnh các nội dung hợp tác du lịch ASEAN nói chung, Việt Nam còn tích cực và chủ động trong các cơ chế hợp tác du lịch tiểu vùng và giữa ASEAN với các nước, tổ chức đối tác. Các khuôn khổ hợp tác phổ biến là: Hợp tác kinh tế ACMECS (hợp tác kinh tế gồm 5 nước Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam); Hợp tác GMS (còn gọi là chương trình hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng, gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và tỉnh Vân Nam, tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc); Hợp tác CLMV (gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam); Hợp tác giữa ASEAN với các nước và tổ chức đối tác (ASEAN với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc; ASEAN với Nga, ASEAN với Ấn Độ, ASEAN với Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO, ASEAN với Ngân hàng phát triển châu Á ADB…), và hợp tác du lịch song phương để đóng góp vào cơ chế hợp tác du lịch trong ASEAN.   Một số tác động của hội nhập AEC với du lịch Việt Nam    Thuận lợi    – Do hợp tác phát triển sản phẩm du lịch ASEAN sẽ góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Việt hiện nay    – Tranh đủ được các nguồn khách nối tour trong khu vực để qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của du lịch khu vực ASEAN nói chung và khả năng kết nối khách giữa Việt Nam với các nước và ngược lại    – Việc nới lỏng điều kiện tự do đầu tư và di chuyển lao động giữa 12 nước nội khối trong AEC sẽ giúp gia tăng nhu cầu đi lại tìm kiếm cơ hội đầu tư, việc làm và kết hợp du lịch, tức gia tăng dòng khách quốc tế và tăng cường mật độ, quy mô các loại hình du lịch- kinh doanh, du lịch- hội họp ngay trong nội khối AEC mà Việt Nam là một thành viên.    Khó khăn    – Hiện sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch Việt Nam trong khu vực ASEAN không cao, sản phẩm dịch vụ du lịch của Việt Nam chưa tạo được điểm nhấn trong khu vực và thiếu sức hấp dẫn đặc biệt do còn đơn điệu và trùng lặp với các sản phẩm trong khu vực.    – Việc thiếu nguồn lực và cơ chế tài chính còn nhiều vướng mắc đã ảnh hưởng chung tới hiệu quả của việc tổ chức triển khai các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch trong khu vực, khó theo kịp các đối thủ cạnh tranh trong khu vực    – Tổ chức bộ máy và lực lượng thực hiện hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch còn nhiều bất cập. Thương hiệu du lịch Việt Nam còn đang trong quá trình hình thành, chưa tận dụng được hiệu quả của các cơ hội để xây dựng thương hiệu.    – Về chất lượng nguồn nhân lực, nhân lực Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu của hội nhập AEC. Lao động du lịch Việt Nam còn kém cạnh tranh so với các nước có ngành Du lịch phát triển trong khu vực. Chất lượng du lịch toàn ngành chưa cao, việc triển khai thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch ASEAN còn nhiều khó khăn vướng mắc.    Ngoài hợp tác trong các khôn khổ hợp tác nêu trên, hợp tác trên các diễn đàn khác như APEC, ASEM và nhiều diễn đàn song phương và đa phương khác tạo ra nhiều cơ hội phát triển du lịch.    Các quan điểm định hướng mới trong phát triển du lịch    – Những năm gần đây, ngành du lịch đã chứng kiến nhiều dấu ấn đặc biệt trong xây dựng thể chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi phát triển du lịch. Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế đất nước. Với định hướng quan trọng này, nhiều chính sách hỗ trợ mới được hình thành để khác phục khó khăn, khai thách tốt tiềm năng cuãng như phát huy lợi thế để ngành du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong thời gian tới. Đáng chú ý nhất là Lần đầu tiên Bộ chính trị đã ban hành một nghị quyết về phát triển du lịch: nghị quyết là động lực manh mẽ thúc đẩy phát triển du lịch trong giai đoạn tới, có nhiều quan điểm mới chẳng hạn như: Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác, nhưng không nhất thiết địa phương nào cũng xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Phát triển du lịch là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, của toàn xã hội, có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy đảng; phát huy mạnh mẽ vai trò động lực của doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; tập trung nguồn lực quốc gia cho phát triển du lịch,…    Ngoài ra, lần đâu tiên chính phủ tổ chức một hội nghị toàn quốc về phát triển du lịch: với nhiều chỉ đạo quan trọng của thủ Tướng như: đổi mới tư duy về phát triển du lịch, tạo điều kiển thuận lợi cho thủ tục xuất nhập cảnh, thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển Du lịch, đẩy mạnh xúc tiến quảng bá,…Bên cạnh đó, Luật Du lịch sửa đổi được Quốc hội thông qua với nhiều nội dung mới, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc đảm bảo cho du lịch phát triển. Đồng thời, lần đầu tiên Quốc hội cho thí điểm cấp thị thực điện tử cho công dân của 40 quốc gia, thúc đẩy thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, thành lập nhiều Sở Du lịch tại các địa bàn trọng điểm về phát triển du lịch,..

   Tóm tắt điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của ngành du lịch Việt Nam trong hội nhập quốc tế

  

   Một số nhu cầu phát triển chính của du lịch Việt Nam hiện nay    Hai là, cần tăng ngân sách cho xúc tiến, quảng bá du lịch, áp dụng cơ chế linh hoạt, mở văn phòng đại diện du lịch Việt Nam trước tiên tại các thị trường trọng điểm,…    Ba là, cần đẩy mạnh đầu tư, nâng cấp, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh bao gồm: hệ thống sân bay, cảng biển, nhà ga, hệ thống giao thông đường bộ, giao thông công cộng, hệ thống nhà hàng, khách sạn, buồng phòng, hệ thống bảo tàng,…..    Bốn là, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, nhân lực quản lý, nhân lực có tay nghề, … Năm là, cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội trong phát triển du lịch, kêu gọi toàn thể mọi người chung tay bảo vệ môi trường, …góp phần việc phát triển du lịch.

Văn Dương