Top 3 # Xem Nhiều Nhất Tour Du Lịch Ở Việt Nam Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Tuvanduhocsing.com

Tour Du Lịch Việt Nam

Hành trình xuyên Đông Dương qua các nước Việt Nam – Lào – Thái – Campuchia sau đó về Sài Gòn là một chuyến đi với những khám phá thú vị! Từ thủ đô Bangkok, du khách khởi hành đi Siemriep – nơi có kỳ quan Angkor – kỳ quan của thế giới đã từng bị lãng quên trong rừng sâu hơn 600 năm. Và Phnompenh- thủ đô của vương quốc Campuchia với những công trình còn mang dấu ấn lịch sử với những cung bậc thăng trầm…Lộ trình: VINH – VIÊNG CHĂN – BANGKOK – PATTAYA – BANGKOK – SIEMRIEP – PHNOMPENH – SÀI GÒN – VINH

Giấy tờ cần thiết: Hộ chiếu. Còn thời hạn 6 tháng trở lên

Ngày 1: VINH – VIÊNG CHĂN (Ăn trưa, tối)

– Sáng, xe và HDV đón đoàn tại điểm hẹn và khởi hành đi Viêng Chăn theo quốc lộ 8. Quý khách có dịp chiêm ngưỡng dãy Trường Sơn hùng vĩ và cũng là biên giới tự nhiên giữa 2 nước Việt-Lào. Đoàn dùng bữa trưa tại nhà hàng Only One hoặc Thông Lý thị trấn Laksao.

– Sau bữa trưa đoàn tiếp tục đi Viêng Chăn. Trên đường Quý khách có dịp ngắm toàn cảnh nhà máy thuỷ điện Nặm Thơn I, chụp ảnh lưu niệm tại Đèo Đá, điểm cao nhất của đường 8, điểm này được du khách ví như Thạch Lâm, Trung Quốc.

– Khoảng 18h, đoàn tới Thủ đô Viêng Chăn. Nhận phòng. Ăn tối.

– Buổi tối đoàn có thể khám phá Viêng Chăn về đêm bằng xe TUKTUK- một dạng taxi 3 bánh ở Viêng Chăn (Ở Viêng Chăn không có bất kỳ một công ty taxi nào vì một lý do: – xe ôtô nhiều hơn xe máy!). Ngồi bên bờ sông Mekong và nhấp nháp cốc bia Lào cùng với các món nướng cũng là một thú vui vào buổi tối ở Viêng Chăn.

– Ăn sáng tại khách sạn. Đoàn bắt đầu chương trình tham quan Thủ đô Viêng Chăn lúc 8h. Điểm đầu tiên là Chùa Sisaket- nơi lưu giữ hàng vạn bức tượng Phật lớn nhỏ khác nhau. Đây cũng là một ngôi chùa ít bị phá huỷ khi quân Xiêm (Thái) xâm lược Lào. Tham quan đền Hoprakeo – một ngôi đền cổ kính nhất thủ đô với bộ sưu tập các bức tượng Phật quý.

– Điểm tiếp theo là Tượng đài Chiến thắng Patuxay- Khải Hoàn Môn của thủ đô Viêng Chăn, Thạt Luổng – biểu tượng của Phật giáo Tiểu thừa Lào, biểu tượng linh thiêng được in trên đồng tiền KIP của Lào. Đoàn dùng bữa trưa tại nhà hàng tự chọn.

– Sau bữa trưa, đoàn dâng hương cầu phúc, cầu lộc, cầu tài tại chùa Sí-mương, chùa linh thiêng nhất thủ đô Viêng Chăn. Sau đó ghé tham quan và mua sắm tại chợ Sáng- trung tâm thương mại của thủ đô Viêng Chăn.

– Đoàn khởi hành đi Nongkhai – Thái Lan qua cửa khẩu Hữu Nghị I bắc qua sông Mekong. Ghé tham quan Công viên Bãi Phật Salakeoku. Ăn tối tại nhà hàng bên bờ sông Mekong. Sau đó đoàn lên xe VIP bus 2 tầng khởi hành đi Bangkok. Nghỉ đêm trên xe. ( Buổi tối có đồ ăn nhẹ trên xe).

– 6h xe đến Bangkok. Xe đón đoàn về khách sạn nhận phòng (nhận trước 2 phòng để đồ), ăn sáng. Sau đó đoàn bắt đầu chương trình tham quan thủ đô Bangkok: Tham quan Trại Rắn và xem các màn biểu diễn giữa người và rắn cũng như nghe giới thiệu những tác dụng y học của nọc độc rắn. Tiếp tục chương trình, đoàn tham quan: Chùa Vàng- nơi có bức tượng bằng vàng lớn nhất thế giới nặng 5,5 tấn, tham quan Cung điện Hoàng Gia, Chùa Phật ngọc-nơi có bức tượng bằng ngọc là quốc bảo của đất nước Thái Lan. Đoàn ăn trưa tại nhà hàng. Buổi chiều đoàn tham quan Safari World với nhiều loài thú Quý hiếm. Thưởng thức tiết mục cá heo biểu diễn, và điệp viên 007. Ăn tối với món lẩu Sukiyaki. Buổi tối tự do khám phá Bangkok về đêm

Ngày 4: BANGKOK – PATTAYA (Ăn ba bữa)

– Ăn sáng. Tham quan khu triển lãm vàng bạc, đá quý Hoàng Gia. Ăn trưa và khởi hành đi thành phố biển Pattaya. Trên đường ghé tham quan Trại nuôi cá sấu lớn nhất thế giới với hơn 60.000 con. Đến Pattaya nhận phòng, nghỉ ngơi và ăn tối. Sau bữa tối đoàn thưởng thức tiết mục Alcaza show- tiết mục của các vũ công nam chuyển đổi giới tính thành nữ biểu diễn. Nghỉ đê tại Pattaya.

– Ăn sáng tại khách sạn. Trả phòng. Đoàn đi tham quan trung tâm Yến Huyết và làng văn hoá dân tộc Nongnuch và thưởng thức các chương trình như: chương trình múa võ dân tộc tái hiện cuộc chiên tranh Thái-Miễn Điện ngày xưa, xem các chú voi biểu diễn những trò: đá bóng, bowling, vẽ, ném phi tiêu, massage,… Ăn trưa và lên đường về Bangkok. Đến Bangkok, đoàn tự do mua sắm tại các siêu thị: Pratunam, Big C, Tesco Lotus. Ăn tối và nghỉ đêm tại Bangkok.

Ngày 6: BANGKOK – SIEMRIEP (Ăn ba bữa)

– Ăn sáng. Đoàn khởi hành đi Siemriep qua cửa khẩu Poipet. Đoàn dùng bữa trưa tại thị trấn Alan Thái Lan. Chiều khoảng 18h đến Siemriep. Ăn tối và nhận phòng. Tự do “khám phá Siemriep về đêm. Nghỉ đêm tại Siemriep.

Ngày 7: THAM QUAN ANGKOR (Ăn ba bữa)

– Ăn sáng. Đoàn tham quan cổng Nam Angkor Thom và đền Ta Prohm và chiêm ngưỡng những công trình được bao phủ bởi những rễ cây khổng lồ – nơi Hollywood chọn cảnh quay trong bộ phim ” Bí mật ngôi mộ cổ – II. Tiếp tục tham quan đền Bayon với nụ cười phúc hậu, bí hiểm, đền Baphuon, Quảng trường đấu voi. Sau bữa trưa, Quý khách sẽ tham quan Angkor Wat – một trong những kỳ quan của thế giới. 17h leo núi Bangkhem ngắm hoàng hôn trên đỉnh núi, nhìn toàn cảnh Angkor Wat, Hồ Baray, sân bay Siemriep,… Ăn tối buffet và thưởng thức điệu múa cổ truyền Apsara của dân tộc Khmer. Nghỉ đêm tại Siemriep.

Ngày 8: SIEMRIEP – PHNOMPENH (Ăn ba bữa)

– Ăn sáng. Đoàn khởi hành về thủ đô Phnompenh, cách Siemriep 320km. Trên đường ghé tham quan cây cầu đá cổ nhất Đông Nam Á: cầu Kompongkdey. Đến Phompenh ăn trưa tại nhà hàng. Nhận phòng. Buổi chiều đoàn bắt đầu chương trình tham quan Phnompenh: Hoàng Cung, Chùa Bạc, Chùa Watphom. Ăn tối tại nhà hàng. Xe đưa Quý khách đi tham quan dọc theo bờ sông Mekong về đêm và thử vận may tại Casino Naga lớn nhất Phompenh. Nghỉ đêm tại khách sạn.

– Ăn sáng. Trả phòng. Đoàn tham quan nhà tù Tuol Sleng – nơi phơi bày tội các của chế độ Ponpot một thời, Đài độc lập, Đài tưởng niệm quân tình nguyện Việt Nam. Sau đó đoàn đi chợ Trung tâm mua sắm hàng lưu niệm. Ăn trưa tại nhà hàng. Xe đưa đòn về Sài Gòn qua cửa khẩu Tây Ninh. 19h về đến Sài Gòn. Nhận phòng. Ăn tối và dạo chơi tự do tại Sài Gòn.

– Ăn sáng. Đoàn tự do với các chương trình thăm thân và tự do cho đến giờ ra sân bay. 9h30 đáp máy bay về Vinh. Về tới Hà Tĩnh, xe và HDV đón đoàn trở lại điểm xuất phát ban đầu. Chia tay đoàn. Kết thúc chương trình.

– Thứ tự các điểm tham quan có thể thay đổi mà vẫn đảm bảo đầy đủ theo chương trình

Giá trọn gói bao gồm:

– Xe vận chuyển theo chương trình.

– Vé máy bay: chặng Sài Gòn – Vinh ( cụ thể hãng sẽ theo sự thoả thuận)

– HDV nhiệt tình, chu đáo, thông thạo tiếng đi suốt tuyến

– Ngủ khách sạn đạt tiêu chuẩn, trung tâm thành phố , 2 người/phòng

– Ăn các bữa theo chương trình. Tiêu chuẩn: Laksao: 140.000 đồng/người/bữa

– Tại Viêng Chăn: 60.000 KIP/người/bữa. Tại Thái Lan:150 đến 200 bath/người/bữa.

– Tại Campuchia: 5-6 USD/khách/bữa. Ăn sáng tự chọn.

– Vé tham quan, chi phí cửa khẩu, thủ tục và chi phí quá cảnh du lịch Lào-Thái-Cam

– Nước, khăn lạnh, mũ tặng đoàn , ảnh lưu niệm chụp tại Hoàng Cung (Thái Lan)

– Bảo hiểm du lịch (theo Quy định của nhà nước)

Không bao gồm:

– Hộ chiếu (thời hạn hộ chiếu trên 6 tháng)

– VAT

– Phòng đơn, điện thoại, giặt là và các chi phí cá nhân

Nở Rộ Những Tour Du Lịch Hành Hương Ở Việt Nam

I. Xu hướng du lịch hành hương tại Việt Nam hiện nay

Du lịch hành hương là loại hình kết hợp giữa việc đi du lịch với việc thăm viếng những nơi linh thiêng như chùa, tịnh xá, thiền viện, đình, miếu, miễu,nhà thờ… để thắp hương, khấn vái, cầu nguyện. Theo quan niệm phật giáo, những tour du lịch hành hương về đất Phật luôn mang xu hướng tâm linh rất đặc biệt.

Tuy nhiên, ngày nay không chỉ có những người có đạo mới tham gia vào những tour hành hương mà còn tùy vào sở thích khám phá những nét văn hóa tôn giáo độc đáo nhiều người cũng chọn loại hình du lịch này. Trong mỗi tour du lịch hành hương, tùy vào quan niệm của du khách mà nhà lữ hành sẽ có sự lựa chọn về điểm dừng chân hành hương có khác nhau.

Thông thường, tại Việt Nam các du khách đi Tour du lịch hành hương thường là những người theo đạo Phật. Bên cạnh đó, cũng có một số du khách theo đạo Thiên chúa cũng có xu hướng chọn những tour hành hương về các nhà thờ, các tòa giáo xứ…

Điểm nổi bật của những tour hành hương về đất Phật hay là du khách sẽ được viếng thăm những địa điểm nổi tiếng, linh thiêng, được nhiều người lui tới như chùa Vĩnh Tràng, miếu bà Chúa Xứ, Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam… Với những du khách theo đạo Thiên chúa, công giáo… thì những địa điểm như nhà thờ Đức Bà – Sài Gòn, nhà thờ Con Gà – Đà Lạt, nhà thờ Bảo Lộc – Lâm Đồng,… luôn là những điểm đến hấp dẫn.

II. Nên du lịch hành hương vào thời điểm nào?

1. Tết Nguyên đán

Đây là một trong sự lựa chọn của rất nhiều du khách khi đi du lịch hành hương. Nhân dịp lễ, tết nhiều người có xu hướng đến chùa chiền, miếu mạo… để cầu xin bình an, yên lành cho bản thân và cả gia đình. Chính vì vậy, thông thường những tour du lịch hành hương Tết Nguyên đán đều có rất đông du khách tham gia.

2. Tháng Giêng

Tháng Giêng cũng là một trong những thời điểm được rất nhiều người lựa chọn đi du lịch hành hương. Khi du lịch hành hương vào thời điểm này, khách du lịch thường bị thu hút bởi những địa điểm như miếu bà Chúa Xứ ở An Giang, mộ Võ Thị Sáu ở Côn Đảo, đền thờ bà Phi Yến ở Côn Đảo, Dinh Cậu ở Phú Quốc v.v..

II. Chọn tour du lịch hành hương như thế nào?

Du lịch hành hương là loại hình du lịch mang những nét tâm linh huyền bí nhất định. Do đó, việc đi du lịch hành hương không chỉ là việc dạo chơi ngắm cảnh mà với nhiều người nó còn mang ý nghĩa nhất định. Người tham gia các tour hành hương nói chung và hành hương về đất phật nói riêng mà còn để chiêm bái, vãng cảnh, cầu nguyện những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Chính vì vậy, việc chọn cho mình những tour du lịch hành hương chất lượng sẽ giúp bạn có một chuyến đi trọn vẹn nhất. Hãy cân nhắc chọn những tour du lịch uy tín với lịch trình cụ thể và rõ ràng. Tham gia những tour du lịch cho phép du khách viếng thăm các ngôi chùa linh thiêng, các nhà thờ nổi tiếng cùng những văn hóa đặc trưng trong đời sống tinh thần của cư dân mỗi vùng miền.

Mỗi hành trình du lịch hành hương sẽ mang đến cho du khách những trải nghiệm khác nhau. Cùng với đó là có thời gian để hồi tưởng, nhìn lại, ngẫm lại những gì đã qua. Du lịch hành hương còn có tác dụng tích cực trong việc giúp du khách định hướng lại hành vi, lời nói và cả lối sống ở thực tại và tương lai. Chính vì vậy, du lịch hành hương là hành trình của tâm linh, hành trình đi tìm về các giá trị vĩnh hằng của Chân, Thiện, Mỹ.

Đến với Ánh Dương bạn sẽ có được tour du lịch hành hương đáng nhớ. Có dịp trải nghiệm những nét đẹp trong văn hóa, khám phá những kiến thức tâm linh tại mỗi khu vực.

Ghi rõ nguồn chúng tôi khi đăng tải lại bài viết này.

Du Lịch Nông Thôn Ở Việt Nam

Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn; được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã. Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp.

Du lịch nông thôn

Có thể hiểu là hình thức phát triển du lịch, xây dựng sản phẩm du lịch dựa trên sự khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn vùng nông thôn.

Du lịch nông thôn không chỉ có một loại hình duy nhất mà gồm nhiều loại hình du lịch như vui chơi giải trí, tham quan thưởng ngoạn, trải nghiệm cuộc sống… diễn ra ở nông thôn

Du lịch nông nghiệp:

Đây là một hình thức du lịch tại các khu vực nông nghiệp như vườn cây ăn trái, trang trại nông lâm kết hợp, trang trại thảo dược và các trang trại động vật, đã được chuẩn bị phục vụ cho khách du lịch. Khách du lịch xem hoặc tham gia vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp như làm việc với dụng cụ của nhà nông hoặc thu hoạch mùa mà không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái hoặc năng suất của gia đình chủ nhà.

Một sản phẩm mới đặc biệt là nghỉ ngơi ở các trang trại hữu cơ, nơi du khách có thể tìm hiểu thêm về thiên nhiên và học tập các phương pháp canh tác không dùng thuốc trừ sâu.

Đặc trưng của du lịch nông thôn:

Du lịch nông thôn phải lấy hoạt động sản xuất nông nông làm cốt lõi để xây dựng sản phẩm và tùy từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi địa phương để kết hợp với những loại hình du lịch khác làm phong phú, đa dạng, làm mới sản phẩm du lịch.

Tham gia du lịch nông thôn, du khách phải được tiếp xúc với người dân vùng nông thôn, cảm nhận được chiều sâu các giá trị văn hóa, hiểu phong tục tập quán, hoạt động sản xuất, sinh sống của cư dân nơi đến.

Vì vậy, những vùng không có dân cư sinh sống, không có hoạt động sản xuất nông nghiệp thì không thể có du lịch nông thôn

Các dịch vụ trong du lịch nông thôn:

Dịch vụ hướng dẫn khách tham quan danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa, trang trại, làng nghề;

Dịch vụ ẩm thực, chế biến các món ăn, đồ uống từ sản phẩm nông nghiệp, phục vụ ăn uống cho khách;

Dịch vụ lưu trú tại trang trại, nhà dân;

Dịch vụ cho thuê phương tiện vận chuyển tại điểm du lịch;

Bán hàng thủ công mỹ nghệ;

Tổ chức cho khách trải nghiệm các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội của làng xã như: học làm nông nghiệp, dệt vải, làm hàng thủ công, nấu ăn…;

Hoặc quảng diễn cho khách xem các nghề thủ công truyền thống như nghề gốm, dệt…, các loại hình nghệ thuật dân gian như rối nước, đờn ca tài tử…

Thách thức và khó khăn đối với du lịch nông thôn tại Việt Nam:

Du lịch nông thôn gần như tự phát, chưa có quy hoạch cụ thể cho từng địa phương, sản phẩm ngh o nàn, trùng lặp, thiếu chuyên nghiệp, chưa thu hút du khách.

Chi phí sinh hoạt tăng, ô nhiễm và rác thải, gia tăng tội phạm, đánh mất bản sắc cộng đồng, xuống cấp giá trị văn hóa…

Phần lớn dân cư nông thôn còn bỡ ngỡ trong quá trình tiếp thu, hội nhập, chuyển đổi làm dịch vụ du lịch

Việc nâng cấp, sửa sang nhà cửa, vườn tược, đường sá, cầu cống, chỉnh trang lễ hội là cần thiết để thuận tiện và tăng tiện nghi đón khách, nhưng phải giữ gìn kiến trúc cổ kính, phong cảnh thanh bình đúng nghĩa làng quê và nét đẹp văn hóa, thuần phong mỹ tục thì mới đảm bảo sức hấp dẫn riêng biệt và bền vững

Ẩm thực dân gian là một trong những sản phẩm hấp dẫn nhất của du lịch nông thôn nhưng hầu hết khách du lịch quan ngại về vệ sinh an toàn thực phẩm

Bên cạnh đó, vấn đề vệ sinh môi trường, gia súc và vật nuôi thả rong… và những tập tục cổ hủ cũng như sự tò mò của người dân địa phương cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của khách du lịch

Du Lịch Tâm Linh Ở Việt Nam

Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã và đang trở thành xu hướng ngày càng phổ biến. Tuy vậy, nhận thức về du lịch tâm linh vẫn chưa thực sự đầy đủ và thống nhất. Những năm qua, Du lịch Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, trong đó du lịch tâm linh có đóng góp to lớn và bền vững vào sự tăng trưởng đó. Những lợi ích của du lịch tâm linh không chỉ về kinh tế mà hơn bao giờ hết là những giá trị tinh thần cho đời sống xã hội. Với ý nghĩa đó, Hội nghị này tìm kiếm những giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch tâm linh nhằm hướng tới phát triển bền vững đối với Du lịch Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung. Tham luận này đề cập đến tình hình và định hướng phát triển du lịch tâm linh đóng góp vào quá trình tăng trưởng bền vững cho du lịch Việt Nam.

chúng tôi niệm về du lịch tâm linh

Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có những quan niệm khác nhau và đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung nhất. Tuy nhiên, xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần. Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác. Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi đi du lịch.

Với cách hiểu như vậy, có thể nhận diện những dòng người đi du lịch đến các điểm tâm linh gắn với không gian văn hóa, cảnh quan các khu, điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của mình, trong đó nhu cầu tâm linh được xem là cốt yếu. Khách du lịch tâm linh ở Việt Nam thường hội tụ về các điểm du lịch tâm linh như: đền, chùa, đình, đài, lăng tẩm, tòa thánh, khu thờ tự, tưởng niệm và những vùng đất linh thiêng gắn với phong cảnh đặc sắc gắn kết với văn hóa truyền thống, lối sống địa phương. Ở đó du khách tiến hành các hoạt động tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện, cúng tế, chiêm bái, tri ân, báo hiếu, thiền, tham gia lễ hội… Thông qua đó, hoạt động du lịch mang lại những cảm nhận, giá trị trải nghiệm và giải thoát trong tâm hồn của con người, cân bằng và củng cố đức tin, hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

Đáp ứng nhu cầu du lịch tâm linh, các hoạt động kinh doanh, tổ chức dịch vụ phục vụ du lịch tâm linh trên các tuyến hành trình và tại các khu, điểm du lịch được thực hiện, qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân địa phương, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.

2. Đặc điểm và xu hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam

Sự đặc thù khác biệt của du lịch tâm linh ở Việt Nam so với các nơi khác trên thế giới có thể nhận thấy đó là:

– Du lịch tâm linh gắn với tôn giáo và đức tin và ở Việt Nam, trong đó Phật giáo có số lượng lớn nhất (chiếm tới 90%) cùng tồn tại với các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Cao đài, Hòa Hảo… Triết lý phương đông, đức tin, giáo pháp, những giá trị vật thể và phi vật thể gắn với những thiết chế, công trình tôn giáo ở Việt Nam là những ngôi chùa, tòa thánh và những công trình văn hóa tôn giáo gắn với các di tích là đối tượng mục tiêu hướng tới của du lịch tâm linh.

– Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với tín ngưỡng thờ cúng, tri ân những vị anh hùng dân tộc, những vị tiền bối có công với nước, dân tộc (Thành Hoàng) trở thành du lịch về cội nguồn dân tộc với đạo lý uống nước nhớ nguồn. Mới đây, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể đại diện nhân loại.

– Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng tộc, tri ân báo hiếu đối với bậc sinh thành.

– Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với những hoạt động thể thao tinh thần như thiền, yoga hướng tới sự cân bằng, thanh tao, siêu thoát trong đời sống tinh thần, đặc trưng và tiêu biểu ở Việt Nam mà không nơi nào có đó là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

– Ngoài ra du lịch tâm linh ở Việt Nam còn có những hoạt động gắn với yếu tố linh thiêng và những điều huyền bí.

b) Xu hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam

Việt Nam có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch tâm linh thể hiện ở bề dày văn hóa gắn với truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng. Sự đa dạng và phong phú của các thắng tích tôn giáo và với số lượng lớn các tín ngưỡng, lễ hội dân gian được tổ chức quanh năm trên phạm vi cả nước. Nhu cầu du lịch tâm linh của người Việt Nam đang trở thành động lực thúc đẩy du lịch tâm linh phát triển. Ngày nay du lịch tâm linh ở Việt Nam đang trở thành xu hướng phổ biến:

– Số lượng khách du lịch tâm linh ngày càng tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu khách du lịch, đặc biệt là khách nội địa. Số khách du lịch đến các điểm tâm linh tăng cho thấy du lịch tâm linh ngày càng giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội.

– Nhu cầu và du lịch tâm linh ngày càng đa dạng không chỉ giới hạn trong khuôn khổ hoạt động gắn với tôn giáo mà ngày càng mở rộng tới các hoạt động, sinh hoạt tinh thần, tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc và những yếu tố linh thiêng khác. Hoạt động du lịch tâm linh ngày càng chủ động, có chiều sâu và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đại bộ phận nhân dân.

– Hoạt động kinh doanh, đầu tư vào du lịch linh ngày càng đẩy mạnh thể hiện ở quy mô, tính chất hoạt động của các khu, điểm du lịch tâm linh. Ra đời và phát triển ngày càng nhiều các điểm du lịch tâm linh ở hầu hết các địa phương, vùng, miền trên phạm vi cả nước, tiêu biểu như: Đền Hùng (Phú Thọ); Yên Tử (Quảng Ninh); Chùa Hương (Hà Nội); Phát Diệm (Ninh Bình); Núi Bà Đen, Thánh thất Cao Đài (Tây Ninh); Chùa Bái Đính (Ninh Bình); Đại Nam Văn Hiến (Bình Dương); Miếu Bà Chúa Xứ (An Giang); Công Sơn-Kiếp Bạc (Hải Dương); Tây Thiên (Vĩnh Phúc); Đền Trần-Phủ Dầy (Nam Định)…

– Du lịch tâm linh ngày càng được xã hội tiếp cận và nhìn nhận tích cực cả về khía cạnh kinh tế và xã hội. Nhà nước ngày càng quan tâm hơn đối với phát triển du lịch tâm linh và coi đó là một trong những giải pháp đáp ứng đời sống tinh thần cho nhân dân đồng thời với việc bảo tồn, tôn vinh những giá trị truyền thống, suy tôn những giá trị nhân văn cao cả.

3. Tình hình phát triển và kết quả đóng góp của du lịch tâm linh vào tăng trưởng du lịch Việt Nam

Trong giai đoạn vừa qua, Du lịch Việt Nam chứng kiến giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ với tỷ lệ ấn tượng trên 12% mỗi năm (ngoại trừ suy giảm do dịch SARS 2003 và suy thoái kinh tế thế giới 2009). Năm 2012, với 6,8 triệu lượt khách quốc tế, 32,5 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt 160.000 tỷ đồng. 10 tháng đầu năm 2013 số khách quốc tế đạt 6,12 triệu lượt, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2012. Với tốc độ đó, ước tính 2013 Việt Nam sẽ đạt mốc 7,4 triệu lượt khách quốc tế và 35 triệu lượt khách nội địa, tổng thu sẽ đạt 195.000 tỷ đồng (tương đương 9 tỷ USD). Như vậy, chỉ sau 4 năm phục hồi suy thoái, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng gấp 2 lần; tổng thu du lịch tăng trên 2,2 lần. Với những chỉ tiêu tổng thể đó thì mục tiêu Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2015 đã về đích trước 2 năm. Đạt được kết quả tăng trưởng đó có sự đóng góp tích cực của du lịch tâm linh với những kết quả đáng ghi nhận.

a) Số lượng, cơ cấu khách du lịch tâm linh

Ở Việt Nam, khách du lịch tâm linh chiếm một tỷ trọng khá lớn. Thông thường khách đi du lịch hầu như kết hợp với mục đích tâm linh hoặc mục đích tâm linh được lồng ghép trong nhiều chuyến đi. Vì vậy, khó có thể phân biệt rõ số khách với mục đích du lịch tâm linh thuần túy (ngoại trừ số tăng ni, phật tử, tín đồ, khách hành hương).

Trong số 32,5 triệu khách du lịch nội địa năm 2012 chỉ tính riêng số khách đến các điểm tâm linh (chùa, đền, phủ, tòa thánh) có khoảng 13,5 triệu lượt, tương đương 41,5%. Một số điểm du lịch tâm linh tiêu biểu năm 2012 đón một lượng khách lớn như Miếu Bà Chúa Xứ An Giang (3,6 triệu lượt khách), Chùa Hương (1,5 triệu lượt); Chùa Bái Đính (2,1 triệu lượt), Yên Tử (2,3 triệu lượt), khu du lịch Núi Bà Đen (2,2 triệu lượt); Cô Sơn Kiếp Bạc (1,2 triệu). Đối với khách quốc tế đến Việt Nam với mục đích tâm linh không nhiều, trong số 6,8 triệu lượt khách đến Việt Nam năm 2012 ước tính có khoảng 12% khách du lịch có đến các điểm du lịch tâm linh.

b) Những hoạt động du lịch tâm linh chủ yếu

– Hành hương đến những điểm tâm linh: những ngôi chùa (cả nước có trên cả nước có 465 ngôi chùa được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa quốc gia), tòa thánh, đền, đài, lăng, tẩm, phủ, khu tưởng niệm; tiến hành các hoạt động thờ cúng: thờ cúng thành hoàng, thờ mẫu, thờ cúng tổ nghề, thờ tam phủ, tứ phủ, thờ tứ pháp, thờ bốn vị tứ bất tử, thờ danh nhân, anh hùng dân tộc, thờ táo quân, thổ địa… Các hoạt động chiêm bái, cầu nguyện, tụng kinh, thiền, yoga, pháp đàm; thiền trà; tham vấn; pháp thoại; thiền ca; thiền buông thư,…

– Tham quan, vãn cảnh, thưởng ngoạn không gian cảnh quan và không gian kiến trúc, điêu khắc gắn với điểm tâm linh; tìm hiểu văn hóa gắn với lịch sử tôn giáo và lối sống bản địa, những giá trị di sản văn hóa gắn với điểm tâm linh

– Tham gia lễ hội tín ngưỡng, dân gian: Quốc giỗ, lễ hội Đến Hùng, Lễ Vu Lan, lễ hội Thánh Gióng (Hà Nội), lễ hội vía Bà Tây Ninh, lễ hội Tế Cá Ông (Bình Thuận), lễ hội vía Bà núi Sam (Châu Đốc) v.v.

c) Dịch vụ phục vụ du lịch tâm linh

Dịch vụ lữ hành phục vụ các chương trình du lịch với mục đích tâm linh kết hợp các mục đích khác; dịch vụ lưu trú, ăn uống, mua sắm lưu niệm; phục vụ cúng tế, chiêm bái, thiền, yoga; dịch vụ vận chuyển bằng xe điện, cáp treo, lái đò, thuyền; dịch vụ thuyết minh; dịch vụ chụp ảnh; thưởng thức nghệ thuật dân gian, văn nghệ truyền thống, âm nhạc, múa, trò chơi dân gian…

d) Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch tâm linh

Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch ngắn, có thể chỉ vài giờ trong ngày, nhưng cũng có thể kéo dài nhiều ngày. Thông thường khách du lịch tâm linh đi trong ngày và ít nghỉ lại qua đêm. Thời gian lưu trú lâu dài nhất là 1.8 ngày như ở Măng Đen gắn với các mục đích khác như nghỉ dưỡng, sinh thái. Thời gian đi du lịch tâm linh thường tập trung vào dịp cuối năm và đầu năm âm lịch và các thời điểm lễ hội dân gian năm.

Chi tiêu của phần lớn khách du lịch tại các điểm tâm linh thường là thấp, chủ yếu chi cho các hoạt động phục vụ tế lễ, cầu nguyện, chiêm bái… mà ít phát sinh chi phí. Một số điểm tâm linh thu phí tham quan, còn lại hầu hết các điểm tâm linh gắn với tín ngưỡng không thu phí nhưng đều có các hòm công đức để khách tự nguyện đóng góp. Số tiền đóng góp tự nguyện đó khá lớn và là nguồn thu chính cho việc trùng tu, quản lý vận hành các điểm du lịch tâm linh. Các chi tiêu cơ bản cho các hoạt động di chuyển (cáp treo, thuyền, đò, xe điện…) chiếm một tỷ trọng đáng kể. Chi cho ăn uống và giải khát, chi cho lưu trú qua đêm, lưu niệm, sản vật địa phương… chiếm một tỷ trọng đáng kể nhưng không lớn do khách hầu hết viếng thăm trong thời gian ngắn, ít nghỉ lại qua đêm. Theo báo cáo của các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, doanh thu từ các địa điểm du lịch tâm linh còn rất khiêm tốn. Tuy nhiên, hiệu ứng lan tỏa của chi tiêu tại điểm du lịch tâm linh đến cộng đồng dân cư là rất lớn, có tác động rõ rệt thông qua tạo việc làm, bán hàng lưu niệm, sản vật địa phương.

f) Du lịch tâm linh đóng góp tích cực vào phát triển bền vững

– Người dân địa phương được chủ động tham gia vào các hoạt động phục vụ khách tại các điểm du lịch tâm linh: chèo đò, xích lô, bán hàng lưu niệm, hướng dẫn, tiêu thụ sản vật địa phương, phục vụ ăn uống (Ví dụ ở Tràng An: 1 vụ đò bằng 3 vụ lúa). Du lịch tâm linh tạo việc làm và thu nhập trực tiếp cho người dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ nông nghiệp sang kết hợp dịch vụ.

Theo lời kể của người dân chèo đò, trước đây, hơn 10 năm khu vực Bái Đính là một vùng đất chưa được du khách biết đến, đường đi vào rất khó khăn, người dân sống lam lũ, một mùa cấy lúa nước, thu nhập bấp bênh, không có việc làm. Nhưng từ khi dự án xây dựng chùa Bái Đính, bộ mặt ở đây đã đổi thay cuộc sống của người dân đã có sự dịch chuyển từ thuần nông sang làm dịch vụ; nay một vụ đò bằng 3 vụ lúa; hàng chục ngàn người đã có việc làm, thu nhập 4-6 triệu đồng/tháng, an ninh trật tự được đảm bảo. Có thể nói, cuộc sống của người dân ở đây đã thực sự đổi thay nhờ du lịch tâm linh đến Bái Đính-Tràng An.

– Với triết lý đạo Phật cũng như các tôn giáo khác là sống tốt đời đẹp đạo, du lịch tâm linh chủ động và tích cực trong việc bảo vệ môi trường và đóng góp thích đáng vào phát triển bền vững. Ở Việt Nam hầu hết các điểm du lịch tâm linh là những nơi có phong cảnh đẹp, hệ sinh thái độc đáo luôn được giữ gìn bảo vệ môi trường tốt bằng các hành vi có ý thức của con người. Ngoại trừ những nơi do thương mại hóa quá mức không kiểm soát nổi dẫn tới quá tải.

– Du lịch tâm linh mang lại những giá trị trải nghiệm thanh tao cho du khách, nhận thức và tận hưởng những giá trị về tinh thần giúp cho con người đạt tới sự cân bằng, cực lạc trong tâm hồn như theo triết lý từ-bi-hỷ-xả của đạo Phật… Những giá trị ấy có được nhờ du lịch tâm linh và đóng góp quan trọng vào sự an lạc, hạnh phúc và chất lượng cuộc sống cho dân sinh.

– Du lịch tâm linh đạt tới sự phát triển cân bằng về các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và đóng góp tích cực vào phát triển bền vững.

4. Định hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam

a) Về quan điểm phát triển

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước thể hiện trong quan điểm Chiến lược phát triển du lịch theo chiều sâu, có chất lượng, hiệu quả, bền vững, có thương hiệu và sức cạnh tranh, phát triển du lịch tâm linh dựa trên các quan điểm chủ đạo sau:

– Thứ nhất, Du lịch tâm linh phải được tập trung đầu tư phát triển theo quy hoạch bài bản trên cơ sở khai thác những giá trị nổi trội về cảnh quan thiên nhiên và văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam.

– Thứ hai, Phát triển du lịch tâm linh trở thành động lực thu hút khách du lịch, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ du lịch khác, tạo sự đa dạng và hấp dẫn cho du lịch Việt Nam và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội theo hướng bền vững; phát triển du lich tâm linh trở thành giải pháp hữu hiệu để phát triển bền vững thông qua tạo việc làm, thu nhập cho cư dân địa phương, tăng cường hiểu biết giao lưu văn hóa, tìm hiểu thế giới và tạo động lực bảo tồn giá trị truyền thống, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc.

– Thứ ba, Phát triển du lịch tâm linh trở thành mục tiêu phát triển đời sống tinh thần cho nhân dân hướng tới những giá trị chân-thiện-mỹ và nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy tiến bộ xã hội; du lịch tâm linh phải phát triển theo hướng chăm lo nuôi dưỡng tinh thần tiến bộ, làm cho tư tưởng, tinh thần trong sáng đồng thời đấu tranh, bài trừ những hủ tục, dị đoan làm sai lệch tư tưởng và u muội tinh thần.

b) Định hướng những giải pháp trọng tâm

Với quan điểm phát triển du lịch tâm linh nêu trên, nhiệm vụ đặt ra đối với ngành Du lịch cần hướng tới, đó là:

– Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về du lịch tâm linh, đảm bảo thực hiện đúng các quan điểm phát triển du lịch tâm linh mang lại những giá trị tinh thần tiến bộ cho xã hội, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội bền vững; Thực hiện chương trình nâng cao nhận thức về du lịch tâm linh cho các đối tượng từ cấp hoạch định chính sách cho tới phổ biến kiến thức, kinh nghiệm cho dân cư trong việc phát triển du lịch cộng đồng gắn với điểm du lịch tâm linh; tạo điều kiện và định hướng hoạt động cho các chức sắc tôn giáo, các tín đồ, tăng ni, phật tử trong việc tổ chức hoạt động du lịch tại các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo.

– Tập trung nguồn lực, tạo cơ chế huy động nguồn lực đầu tư vào các khu, điểm du lịch tâm linh dựa trên quy hoạch các khu, điểm du lịch tâm linh. Đầu tư cho bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tâm linh, đặc biệt về tín ngưỡng, tôn giáo và những giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với điểm tâm linh trở thành yếu tố hấp dẫn đặc sắc Việt Nam để thu hút khách du lịch; đầu tư vào hạ tầng tiếp cận điểm du lịch linh và hệ thống cơ sở dịch vụ đảm bảo chất lượng, tiện nghi, hài hòa với không gian và tính chất khu, điểm du lịch tâm linh.

– Tổ chức cung cấp dịch vụ tại điểm du lịch tâm linh và tăng cường quản lý điểm đến du lịch tâm linh

– Tăng cường nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá du lịch tâm linh trong mối liên kết phát triển các loại hình du lịch khác đi liền với quản lý điểm đến trở thành thương hiệu du lịch nổi bật như Yên Tử, Hương tích, Bái Đính…

– Thực hiện chương trình liên kết phát triển du lịch tâm linh giữa các điểm du lịch tâm linh trong nước: Yên Tử-Côn Sơn Kiếp Bạc-Hương tích-Đền Trần Phủ Dầy-Tam Chúc Ba Sao… và ngoài nước với: Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Myanma, Nepal, Bhutan, Trung đông… trong khuôn khổ hợp tác du lịch song phương và đa phương.

– Phát huy vai trò của cộng đồng dân cư, mang lại sự hưởng lợi tối đa cho cộng đồng dân cư tại điểm du lịch tâm linh.

5. Kết luận

Du lịch tâm linh đang trở thành xu hướng phổ biến, gắn kết các nền văn hóa trong thế giới tinh thần. Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển du lịch tâm linh bởi nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với nhu cầu hướng tới những giá trị tinh thần cao cả, đức tin, tín ngưỡng và tôn giáo.

Những giá trị văn hóa tâm linh trên khắp mọi miền đất nước có sức hấp dẫn du lịch mạnh mẽ. Thời gian qua, số lượng lớn khách du lịch tới điểm tâm linh hàng năm và xu hướng ngày càng đông đảo du khách có nhu cầu du lịch tâm linh; hoạt động du lịch tâm linh ở Việt Nam không chỉ gắn với tôn giáo mà biết kết hợp phát huy triết học phương đông, đạo lý uống nước nhớ nguồn, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, anh hùng dân tộc, các vị tiền bối có công với nước.

Du lịch tâm linh đã trở thành nhu cầu không thể thiếu, ngày càng sôi động, mang lại hiệu quả thiết thực cho kinh tế địa phương, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân và đóng góp tích cực vào phát triển bền vững.

Đảng và Nhà nước không ngừng quan tâm chăm lo tới đời sống tinh thần cho nhân dân thông qua các chính sách tạo điều kiện cho du lịch tâm linh phát triển theo đúng hướng mang lại những giá trị tinh thần thiết thực, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội và phát triển kinh tế du lịch nói riêng. Trong thời gian tới, theo quan điểm chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch tâm linh phù hợp với xu hướng chung và vì sự phát triển bền vững./.

Tham luận của Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Tuấn tại Hội Nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững (Ninh Bình, 21-22/11/2013)